TRƯƠNG NGUYỄN HẢI NAM

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của TRƯƠNG NGUYỄN HẢI NAM
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Trong đoạn trích Kim Tiền, nhân vật Trần Thiết Chung hiện lên là một con người từng trải nhưng bị đồng tiền chi phối mạnh mẽ. Ông là người có nhiều tham vọng, luôn xem tiền bạc là mục tiêu quan trọng của cuộc đời. Chính sự ham muốn quá lớn ấy khiến ông rơi vào trạng thái mệt mỏi, thất bại và day dứt. Qua cuộc trò chuyện với Cự Lợi, Trần Thiết Chung dần nhận ra rằng càng chạy theo vật chất thì con người càng phải gánh chịu nhiều áp lực và hệ lụy. Câu nói: “Bao giờ cũng vậy, hễ mình càng tham muốn nhiều thì cái gánh hệ lụy càng nặng” thể hiện sự thức tỉnh muộn màng nhưng sâu sắc của nhân vật. Đây là lời tự chiêm nghiệm sau những va vấp trong cuộc sống, cho thấy ông đã nhận ra giá trị đích thực của cuộc đời không nằm ở tiền bạc mà ở sự thanh thản trong tâm hồn. Qua nhân vật Trần Thiết Chung, tác giả gửi gắm thông điệp: con người cần biết giới hạn lòng tham, sống cân bằng giữa vật chất và tinh thần để có được hạnh phúc thật sự.

Câu 2:

Trong cuộc sống, con người luôn hướng tới việc xây dựng một cuộc sống đầy đủ, hạnh phúc. Để đạt được điều đó, cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần đều đóng vai trò quan trọng. Tuy nhiên, nếu quá coi trọng một mặt mà xem nhẹ mặt còn lại, con người sẽ dễ rơi vào mất cân bằng. Vì vậy, biết cân bằng giữa giá trị vật chất và giá trị tinh thần là điều cần thiết để có một cuộc sống ý nghĩa.

Giá trị vật chất là những điều kiện đảm bảo cho cuộc sống con người như tiền bạc, nhà cửa, tài sản, công việc ổn định. Đây là nền tảng giúp con người đáp ứng các nhu cầu thiết yếu và nâng cao chất lượng cuộc sống. Trong khi đó, giá trị tinh thần là những giá trị thuộc về tâm hồn như tình yêu thương, niềm vui, sự bình an, lòng nhân ái, các mối quan hệ tốt đẹp và ý nghĩa sống. Nếu vật chất giúp con người “sống được” thì tinh thần giúp con người “sống vui” và “sống hạnh phúc”.Trong thực tế, nhiều người quá mải mê theo đuổi vật chất mà quên mất giá trị tinh thần. Họ dành toàn bộ thời gian để kiếm tiền, chạy theo danh vọng, địa vị mà đánh mất những niềm vui giản dị trong cuộc sống. Khi đó, dù giàu có nhưng họ vẫn cảm thấy cô đơn, áp lực và bất an. Nhân vật Trần Thiết Chung trong đoạn trích Kim tiền là minh chứng rõ ràng cho điều ấy. Vì quá tham vọng và coi trọng tiền bạc, ông phải gánh chịu những thất bại và đau khổ. Chỉ khi nhận ra rằng càng tham muốn nhiều thì gánh nặng càng lớn, ông mới hiểu rằng tiền bạc không thể mang lại hạnh phúc trọn vẹn.Ngược lại, nếu chỉ coi trọng đời sống tinh thần mà không quan tâm đến giá trị vật chất, con người cũng khó có được cuộc sống ổn định. Không có điều kiện vật chất tối thiểu, con người sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn, thiếu thốn, từ đó tinh thần cũng khó được an vui. Vì thế, vật chất và tinh thần có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, bổ sung cho nhau. Vật chất là nền tảng, còn tinh thần là mục tiêu hướng tới.Sự cân bằng giữa hai giá trị này thể hiện ở việc con người biết lao động để tạo dựng cuộc sống ổn định nhưng không để đồng tiền chi phối toàn bộ cuộc sống. Biết trân trọng gia đình, tình bạn, sức khỏe, những niềm vui bình dị và giữ cho tâm hồn thanh thản mới là điều quan trọng. Một người thành công thực sự không chỉ là người giàu có về vật chất mà còn phong phú về đời sống tinh thần.

Đối với người trẻ hiện nay, việc cân bằng giữa vật chất và tinh thần lại càng cần thiết. Xã hội hiện đại mang đến nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng khiến nhiều người chạy theo vật chất, sống thực dụng, xem tiền bạc là thước đo giá trị con người. Điều đó dễ khiến con người mất phương hướng, đánh mất bản thân và các giá trị tốt đẹp. Người trẻ cần xác định rõ mục tiêu sống đúng đắn, biết nỗ lực để phát triển bản thân nhưng cũng cần giữ gìn những giá trị tinh thần như lòng yêu thương, sự sẻ chia và đạo đức sống.

Cuối cùng , giá trị vật chất và giá trị tinh thần đều quan trọng đối với cuộc sống con người. Hạnh phúc thật sự chỉ đến khi con người biết cân bằng giữa hai yếu tố ấy. Sống biết đủ, biết trân trọng những giá trị tinh thần bên cạnh việc xây dựng đời sống vật chất sẽ giúp mỗi người có một cuộc sống trọn vẹn và ý nghĩa hơn

Câu 1 thể loại bi kịch

Câu 2 thất bại vì ông quá khinh rẻ đồng tiền,cố chấp, không chịu kiếm tiền

Câu 3

Hình ảnh "phân,bẩn, rác" đc so sánh với tiền:

+bản chất của phân bẩn rác là sự ô uế bẩn thỉu nhưng là nguồn vật liệu rất quý là nguồn dưỡng thiết yếu để tạo nên những cánh đồng lúa trĩu nặng những bông hoa thơm ngát

+Tiền có thể bị coi là thấp kém,đê tiện vì sự vụ lợi nhưng nếu biết dùng đúng thì nó tạo ra điều tốt đẹp nhất

Câu 4

-kết thúc câu chuyện trong sự bế tắc và không có sự thấu hiểu với nhau và bất đồng quan điểm

-Ý nghĩa phản ánh:

+Phản ánh sự xung đột gay gắt không thể dung hoà giữa hai hệ tư tưởng trong xã hội giao thời

+Làm nổi bật chủ đề văn bản

+Gợi suy ngẫm,chiêm nghiệm về những khó khăn

Câu 5

Em đồng ý với quan điểm của ông vì:

Lòng tham của con người là vô đáy, không thể nào lấp đầy,khi chúng ta mải mê chạy theo quá nhiều danh vọng và vật chất

Biết sống vừa phải và biết đủ


Câu 1 (khoảng 200 chữ):

Đoạn trích “Chén thuốc độc” của Vũ Đình Long đã khắc họa sâu sắc bi kịch của nhân vật Thầy Thông Thu – một con người rơi vào cảnh khánh kiệt cả về vật chất lẫn tinh thần. Qua hình thức kịch với những lời thoại và chỉ dẫn sân khấu, tác giả làm nổi bật diễn biến tâm lí phức tạp của nhân vật. Ban đầu, Thông Thu mang nỗi lo lắng, dằn vặt khi lâm vào cảnh túng quẫn, danh dự bị đe dọa. Dần dần, sự bế tắc khiến ông rơi vào tuyệt vọng, mất niềm tin vào cuộc sống. Đỉnh điểm của bi kịch là khi ông lựa chọn cái chết như một cách giải thoát và giữ lại phẩm giá. Qua đó, tác phẩm không chỉ phản ánh hiện thực xã hội đầy áp lực mà còn bộc lộ sự cảm thông sâu sắc đối với số phận con người. Đồng thời, tác giả gửi gắm thông điệp: khi con người bị dồn vào bước đường cùng, họ rất dễ đưa ra những quyết định tiêu cực nếu thiếu sự sẻ chia và lối thoát.




Câu 2 (khoảng 600 chữ):

Trong xã hội hiện đại, thói quen tiêu xài thiếu kiểm soát đang trở thành một vấn đề đáng lo ngại ở một bộ phận giới trẻ. Từ thực trạng “tiêu hoang ném tiền qua cửa sổ” dẫn đến cảnh khánh kiệt của nhân vật Thông Thu, ta có thể liên hệ đến nhiều bạn trẻ ngày nay – những người dễ rơi vào vòng xoáy chi tiêu vượt quá khả năng của bản thân.


Trước hết, tiêu xài thiếu kiểm soát là việc sử dụng tiền bạc một cách tùy tiện, không có kế hoạch, thường chạy theo nhu cầu hưởng thụ hoặc xu hướng nhất thời. Nhiều bạn trẻ sẵn sàng chi tiền cho những món đồ xa xỉ, điện thoại đời mới, quần áo hàng hiệu hay các cuộc vui không cần thiết. Đặc biệt, sự phát triển của mua sắm trực tuyến và các hình thức thanh toán tiện lợi khiến việc tiêu tiền trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết, dẫn đến tình trạng “vung tay quá trán”.


Nguyên nhân của hiện tượng này đến từ nhiều phía. Một phần là do tâm lí thích thể hiện bản thân, muốn khẳng định giá trị qua vật chất. Bên cạnh đó, ảnh hưởng của mạng xã hội với lối sống hào nhoáng cũng khiến nhiều người bị cuốn theo. Ngoài ra, việc thiếu kĩ năng quản lí tài chính cá nhân và chưa nhận thức rõ giá trị của đồng tiền cũng là nguyên nhân quan trọng.


Hậu quả của việc tiêu xài thiếu kiểm soát là rất nghiêm trọng. Trước hết, nó dẫn đến tình trạng nợ nần, phụ thuộc vào gia đình hoặc thậm chí rơi vào các khoản vay tiêu dùng. Về lâu dài, thói quen này khiến con người mất đi sự tự chủ, dễ rơi vào khủng hoảng tài chính và tinh thần. Không ít trường hợp vì áp lực tiền bạc mà rơi vào bế tắc, giống như bi kịch của Thông Thu trong tác phẩm. Điều đó cho thấy, nếu không kiểm soát tốt hành vi chi tiêu, hậu quả không chỉ dừng lại ở vật chất mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống.


Để khắc phục tình trạng này, mỗi người trẻ cần rèn luyện ý thức tiết kiệm và biết lập kế hoạch chi tiêu hợp lí. Cần phân biệt rõ giữa nhu cầu cần thiết và mong muốn nhất thời, tránh chạy theo hình thức bên ngoài. Đồng thời, gia đình và nhà trường cũng cần giáo dục kĩ năng quản lí tài chính cho học sinh, giúp các em hiểu được giá trị của lao động và đồng tiền.


Tóm lại, tiêu xài thiếu kiểm soát là một thói quen xấu cần được nhìn nhận nghiêm túc. Mỗi người trẻ cần tự điều chỉnh hành vi của mình để xây dựng một lối sống lành mạnh, tránh rơi vào những bi kịch đáng tiếc như nhân vật Thông Thu.

Câu 1

-Văn bản thuộc thể loại : bi kịch

Câu 2

- Hình thức ngôn ngữ chủ yếu : độc thoại

Câu 3

-Các chỉ dẫn sân khấu :

+ "Bóp trán nghĩ ngợi".

+ "Nâng cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống."

+ "Lấy dao mở hộp thuốc phiện, rót vào cốc, lấy que khuấy.".

+ "Đứng dậy lấy chai dấm thanh giấu ở dưới gầm tủ, rót vào cốc. Thò tay vào tủ lấy hộp thuốc phiện.".

- Tác dụng của các chỉ dẫn sân khấu:

+ Giúp người đọc hình dung được hành động, cử chỉ và trạng thái cảm xúc cụ thể của nhân vật.

+ Thể hiện xung đột nội tâm, giằng xé gay gắt của Thông Thu

Câu 4

- Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Hai:

Tâm lí hối hận và tự sỉ vả. Thông Thu nhận thực được sai lầm của bản thân sau khi tiêu tán gia sản, cảm thấy nhục nhã vì không làm được gì ích quốc lợi dân mà lại làm "nhơ nhuốc" thanh danh gia đình.

- Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Ba:

Tâm lí tuyệt vọng và bế tắc. Khi đối mặt với cảnh tù tội, Thông Thu vô cùng sợ hãi. Hắn quyết định tìm đến cái chết để giải thoát ("Thà rằng một thác cho xong!").

- Sự thay đổi: Từ việc hối hận về quá khứ (Hồi I) chuyến sang sự hoảng loạn trước tương lai và đi đến hành động cực đoan (Hồi III). Tuy nhiên, trong sự tuyệt vọng vẫn nhen nhóm chút trách nhiệm muộn màng với gia đình

Câu 5

Em không đồng tình vì :

+Tự tử là một hành động trốn chạy hèn nhát trước sai lầm của chính mình thay vì đối mặt để sửa chữa.

+Cái chết không giải quyết được vấn đề mà đôi khi còn gây ảnh hưởng và liên luy đến những người thân xung quanh.
+Thầy Thông Thu nên chọn cách sống trách nhiệm hơn, lao động để trả nợ và làm lại cuộc đời, như vậy mới thực sự là "thác trong còn hơn sống đục". Cái chết trong sự bế tắc này chỉ là sự kết thúc của một nhân cách bạc nhược

Câu 1: phương thức biểu đạt được tác giải sử dụng trong văn bản là: nghị luận

Câu 2: Văn bản trên bàn về vấn đề: lao động và ý nghĩa của lao động

Câu 3 Để làm rõ cho ý kiến: "Mọi động vật đều lao động, trước hết là để duy trì sự sống." tác giả đã sử dụng những bằng chứng: "Ngay cả chú chim yến, khi còn non thì được bố mẹ mang mồi về mớm cho nhưng khi lớn lên sẽ phải tự mình đi kiếm mồi. Hổ và sư tử cũng đều như vậy. Tự mình lao động để tồn tại chính là nguyên lí mà tự nhiên ban tặng cho tất cả các sinh vật. Con người cũng là một loại động vật nên về cơ bản là như vậy. "
Nhận xét: đây là bằng chứng chặt chẽ thuyết phục giúp người đọc hiểu rõ hơn về vai trò của lao động

Câu 4: Câu: "Việc con người có cảm nhận được niềm vui trong lao động hay không sẽ có ý nghĩa lớn lao, quyết định cuộc đời của người đó hạnh phúc hay không." đem đến cho em suy nghĩ:

+ Con người cần phải có ý chí phấn đấu, nhiệt huyết trong lao động thì mới thấy được niềm vui, ý nghĩa trong lao động

+ Nếu không cảm nhận được niềm vui trong lao động ta sẽ chán nản, lười biếng không chịu làm việc và không có mục đích sống

+ Qua đó, giúp con người luôn có thái độ tích cực trong làm việc và học tập, cống hiến cho xã hội cho đất nước
Câu 5: Một biểu hiện cho thấy hiện nay trong cuộc sống vẫn có người nhận thức chưa đúng đắn về ý nghĩa của lao động:

+ Thái độ coi thường những người lao động chân tay dù họ vẫn có những đóng góp nhất định cho cộng đồng. 



Câu 1

Nhân vật trữ tình trong bài thơ là “ta” – người đưa tiễn.

Câu 2

Cuộc chia tay không phải bến sông hay cửa ải xa xôi như thơ cổ, mà là một không gian đời thường (đưa người ấy qua một "con đường nhỏ"). Tuy nhiên, cái thực của không gian đã chuyển hóa thành không gian tâm tưởng với "tiếng sóng ở trong lòng", "đầy hoàng hôn".".

. Thời gian là trong chiều hôm nay.

Câu 3

Hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường là sự kết hợp từ bất bình thường trong cụm từ: “đầy hoàng hôn trong mắt trong”.

“Đầy” là tính từ chỉ trạng thái không còn chứa thêm được nữa, gợi sự tràn ngập.

“Hoàng hôn” là thời điểm mặt trời lặn, ánh sáng yếu dần.

Tác giả đã làm cho “hoàng hôn” – một hình ảnh của không gian rộng lớn – như tràn đầy trong đôi mắt người ra đi.

Tác dụng:

Thể hiện kín đáo tâm trạng buồn man mác, lưu luyến, vương vấn của người li khách.

Cho thấy con người đang cố kìm nén cảm xúc bằng lí trí.

Gợi không khí chia li thời cổ, tạo sắc thái trang trọng, mang hơi thở Đường thi.

Câu 4

Hình ảnh “tiếng sóng” trong hai câu thơ:

“Đưa người, ta không đưa qua sông,

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?”

“Tiếng sóng” trong lòng là hình ảnh tượng trưng cho tâm trạng xao động, bâng khuâng, lưu luyến, buồn thương của người đưa tiễn. Nỗi buồn ấy dâng lên như những lớp sóng trào trong lòng, dù bên ngoài không hề có con sông nào.

Hình ảnh này góp phần gợi không khí chia li cổ kính và làm câu thơ giàu cảm xúc, đậm chất trữ tình.

Câu 5

Một thông điệp có ý nghĩa nhất đối với cuộc sống đó la:

Lí trí và tình cảm luôn có mối quan hệ chặt chẽ, nhưng không phải lúc nào cũng thống nhất. Trong nhiều hoàn cảnh, con người phải lựa chọn giữa lí trí và cảm xúc. Tuy nhiên, những cuộc chia li dù buồn đau vẫn giúp ta nhận ra giá trị của tình cảm chân thành.

Vì vậy, mỗi người – đặc biệt là người trẻ – cần sống có ước mơ, hoài bão, biết tự lập và có trách nhiệm với cuộc đời mình, đồng thời trân trọng những tình cảm sâu sắc trong cuộc sống.

Câu 1:

Bài thơ "Những giọt lệ" của Hàn Mặc Tử thể hiện sâu sắc thế giới nội tâm đầy đau đớn, cô đơn và khát khao yêu thương của thi nhân. Qua những hình ảnh giàu tính tượng trưng như “mặt nhợt tan thành máu”, “một nửa hồn tôi mất”, “bông phượng nở trong màu huyết”, bài thơ khắc họa một cái tôi đang rạn vỡ, bị giằng xé giữa khát vọng sống và cảm giác tuyệt vọng. Những hình ảnh ấy không chỉ mang tính miêu tả mà còn là biểu tượng cho nỗi đau tinh thần, cho cảm giác chia lìa và mất mát sâu sắc. Đặc biệt, việc sử dụng câu hỏi tu từ ở khổ thơ cuối tạo nên âm hưởng băn khoăn, day dứt, thể hiện tâm trạng bơ vơ, lạc lõng của thi nhân trước cuộc đời rộng lớn. Bài thơ vận động theo mạch cảm xúc từ nỗi buồn, khát khao yêu thương đến sự đau đớn, bất lực và cuối cùng là cảm giác hoang mang, cô độc. Qua đó, người đọc cảm nhận được tâm hồn nhạy cảm, giàu cảm xúc nhưng cũng đầy bi kịch của Hàn Mặc Tử. Tác phẩm không chỉ là tiếng lòng riêng mà còn gợi niềm thương cảm sâu sắc cho số phận con người.

Câu 2

Trong cuộc sống, con người không phải lúc nào cũng bước đi trên con đường bằng phẳng. Những khó khăn, thử thách luôn xuất hiện như một phần tất yếu của hành trình trưởng thành. Chính vì vậy, ý chí và nghị lực trở thành những phẩm chất vô cùng quan trọng, giúp con người vượt qua nghịch cảnh, khẳng định bản thân và hướng tới thành công. Ý chí là khả năng quyết tâm theo đuổi mục tiêu đến cùng, không dễ dàng bỏ cuộc trước trở ngại. Nghị lực là sức mạnh tinh thần giúp con người đứng dậy sau thất bại, kiên trì tiến bước dù con đường phía trước đầy gian nan. Hai yếu tố này luôn song hành, tạo nên nội lực mạnh mẽ giúp con người vững vàng trước thử thách của cuộc đời. Không có ý chí và nghị lực, con người dễ chán nản, buông xuôi khi gặp khó khăn; ngược lại, khi có chúng, mỗi thử thách lại trở thành cơ hội để trưởng thành. Trong thực tế, nhiều người đã chứng minh sức mạnh phi thường của ý chí. Có những học sinh vượt qua hoàn cảnh gia đình khó khăn để vươn lên học giỏi. Có những người khuyết tật vẫn nỗ lực học tập, lao động, đóng góp cho xã hội. Họ không để nghịch cảnh quyết định số phận mà dùng chính nghị lực của mình để thay đổi cuộc đời. Những tấm gương ấy cho thấy: hoàn cảnh có thể khó khăn, nhưng tinh thần con người mới là yếu tố quyết định thành bại. Ý chí và nghị lực còn giúp con người rèn luyện bản lĩnh sống. Khi dám đối diện với thất bại, con người học được cách kiên nhẫn, bình tĩnh và trưởng thành hơn trong suy nghĩ. Mỗi lần vượt qua khó khăn là một lần ta hiểu rõ bản thân, mạnh mẽ hơn và tự tin hơn. Thành công thực sự không phải là chưa từng thất bại, mà là biết đứng lên sau mỗi lần vấp ngã. Tuy nhiên, trong cuộc sống vẫn có không ít người thiếu ý chí, dễ bỏ cuộc khi gặp trở ngại. Họ sợ khó khăn, ngại thử thách và luôn tìm cách né tránh. Lối sống đó khiến con người dần trở nên yếu đuối, phụ thuộc và khó đạt được những giá trị lớn lao. Vì thế, rèn luyện ý chí không phải là điều xa vời mà cần bắt đầu từ những việc nhỏ: kiên trì học tập, hoàn thành mục tiêu đã đặt ra, không nản lòng khi gặp thất bại. Đối với học sinh, ý chí và nghị lực càng cần thiết hơn bao giờ hết. Con đường học tập luôn đòi hỏi sự bền bỉ, chăm chỉ và quyết tâm. Những lúc bài khó, điểm kém hay áp lực thi cử chính là thử thách để rèn luyện bản lĩnh. Nếu biết kiên trì cố gắng, mỗi khó khăn sẽ trở thành bước đệm để tiến xa hơn. Tóm lại, ý chí và nghị lực là chìa khóa giúp con người vượt qua thử thách và vươn tới thành công. Cuộc sống có thể nhiều chông gai, nhưng khi có tinh thần mạnh mẽ, con người sẽ không bị đánh bại. Mỗi chúng ta cần rèn luyện ý chí mỗi ngày, bởi chính sức mạnh nội tâm ấy sẽ giúp ta làm chủ cuộc đời và chạm tới những ước mơ của mình.

Câu 1.

Các phương thức biểu đạt:

• Biểu cảm

• Miêu tả

Câu 2.

Đề tài của bài thơ:

→ Nỗi nhớ và tình yêu tha thiết đối với thôn Vĩ, với con người và cuộc đời, đồng thời thể hiện tâm trạng cô đơn, khát khao được yêu thương của nhà thơ.

Câu 3.

Hình ảnh thơ mang tính tượng trưng (ví dụ):

• “Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”

→ Gợi cảm giác buồn bã, lặng lẽ, tượng trưng cho nỗi cô đơn, chia lìa và tâm trạng u uẩn của tác giả trước cuộc đời.


Câu 4.

Biện pháp tu từ trong khổ cuối:

• câu hỏi tu từ

"Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?”

“Ai đem bỏ tôi dưới trời sâu?”

→ Tác dụng:

Tăng sức gợi hình gợi cảm cho câu thơ

Khắc họa nỗi hoài nghi, tuyệt vọng, cảm giác xa cách, mờ nhạt giữa con người với con người, thể hiện bi kịch tinh thần của nhà thơ.


Câu 5.

Nhận xét về cấu tứ bài thơ:

→ Bài thơ có cấu tứ chặt chẽ, triển khai theo mạch cảm xúc từ nhớ thương → mơ mộng → hoài nghi, tuyệt vọng, vừa thống nhất vừa giàu chiều sâu cảm xúc

Câu 1.

Nhân vật anh gầy trong truyện ngắn Anh béo và anh gầy của Sê-khốp là hình ảnh tiêu biểu cho kiểu người nhỏ bé, yếu đuối và nô lệ tinh thần trước quyền lực. Ban đầu, khi chưa biết địa vị của anh béo, anh gầy hiện lên là người cởi mở, chân thành, nói năng tự nhiên, coi trọng tình bạn thuở nhỏ. Tuy nhiên, ngay khi biết anh béo là viên chức bậc ba, thái độ của anh gầy lập tức thay đổi hoàn toàn. Anh trở nên tái mét, khúm núm, sợ sệt, đổi giọng xưng hô sang nịnh nọt, lễ phép quá mức, gọi bạn mình là “quan trên”. Sự thay đổi ấy không chỉ thể hiện sự thiếu tự trọng mà còn cho thấy căn bệnh sùng bái quyền thế đã ăn sâu vào suy nghĩ của anh gầy. Qua nhân vật này, Sê-khốp phê phán gay gắt thói xu nịnh, hèn kém trong xã hội, nơi con người sẵn sàng đánh mất nhân cách và tình bạn chân thành chỉ vì địa vị và danh lợi.


Câu 2.

Có ý kiến cho rằng: “Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng.” Câu nói ngắn gọn nhưng chứa đựng một triết lí sâu sắc về cách con người lựa chọn góc nhìn trước những vấn đề trong cuộc sống. Thực tế cho thấy, cùng một hoàn cảnh nhưng cách nhìn nhận khác nhau sẽ dẫn đến những cảm xúc, hành động và kết quả hoàn toàn khác nhau.

Cuộc sống vốn không hoàn hảo, luôn đan xen giữa niềm vui và nỗi buồn, thuận lợi và khó khăn. “Bụi hồng có gai” tượng trưng cho những điều tốt đẹp nhưng không trọn vẹn, còn “bụi gai có hoa hồng” lại gợi ra vẻ đẹp ẩn sau nghịch cảnh. Khi con người chỉ chăm chăm nhìn vào “gai”, họ dễ rơi vào tâm trạng phàn nàn, bi quan, chán nản. Ngược lại, nếu biết tìm kiếm “hoa hồng” trong những hoàn cảnh khó khăn, con người sẽ có thêm động lực, niềm tin và sức mạnh để vượt qua thử thách.

Việc lựa chọn cách nhìn nhận tích cực không có nghĩa là phủ nhận khó khăn hay tự lừa dối bản thân. Đó là thái độ sống chủ động, biết chấp nhận thực tế nhưng không buông xuôi. Một học sinh gặp thất bại trong học tập có thể coi đó là điều bất công, từ đó chán nản và bỏ cuộc; nhưng cũng có thể xem đó là cơ hội để nhìn lại bản thân, điều chỉnh phương pháp học tập và trưởng thành hơn. Trong lao động và cuộc sống, rất nhiều người đã biến nghịch cảnh thành động lực, từ thất bại đi đến thành công, từ đau khổ vươn tới hạnh phúc.

Tuy nhiên, không phải ai cũng dễ dàng lựa chọn góc nhìn tích cực. Thói quen than vãn, đổ lỗi cho hoàn cảnh khiến con người trở nên thụ động, lệ thuộc và đánh mất khả năng làm chủ cuộc đời mình. Khi chỉ nhìn thấy “gai”, con người dễ đánh mất niềm tin vào bản thân và cuộc sống, từ đó bỏ lỡ những cơ hội quý giá. Ngược lại, những người biết nhìn thấy “hoa hồng” thường có tinh thần lạc quan, kiên trì và bản lĩnh hơn trước sóng gió.

Trong xã hội hiện đại, áp lực học tập, công việc và các mối quan hệ ngày càng lớn. Vì vậy, việc lựa chọn cách nhìn nhận vấn đề tích cực lại càng trở nên quan trọng. Nó không chỉ giúp con người sống nhẹ nhõm hơn mà còn góp phần tạo nên những giá trị tốt đẹp cho cộng đồng, lan tỏa năng lượng tích cực đến những người xung quanh.

Tóm lại, câu nói trên khẳng định rằng hạnh phúc hay khổ đau phần lớn phụ thuộc vào cách chúng ta nhìn nhận cuộc sống. Biết vui mừng vì “bụi gai có hoa hồng” chính là biết trân trọng những điều tốt đẹp, dù nhỏ bé, để từ đó sống tích cực, mạnh mẽ và ý nghĩa hơn mỗi ngày.

Câu 1.
Văn bản Anh béo và anh gầy thuộc thể loại truyện ngắn (truyện trào phúng).

Câu 2.
Đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy là đoạn bắt đầu từ câu:
“Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá…”
và kết thúc ở câu:
“…thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại...”

Câu 3.
Tình huống truyện là cuộc gặp gỡ tình cờ của hai người bạn học cũ trên sân ga, từ đó bộc lộ rõ sự thay đổi thái độ của anh gầy khi biết anh béo có địa vị xã hội cao hơn mình.

Câu 4.
Trước khi biết cấp bậc của anh béo, anh gầy cư xử thân mật, tự nhiên, vui vẻ, coi anh béo là bạn bè bình đẳng.
Sau khi biết anh béo là viên chức bậc ba, anh gầy trở nên khúm núm, sợ sệt, đổi giọng nịnh nọt, gọi anh béo là “quan trên”, đánh mất sự tự nhiên và lòng tự trọng.

Câu 5.
Văn bản phê phán thói nịnh bợ, háo danh, sùng bái quyền lực và sự phân biệt địa vị xã hội; đồng thời lên án sự tha hóa nhân cách khiến tình bạn chân thành bị chi phối bởi danh lợi.