TRẦN THỊ LIÊN
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
Bài làm
Gorki từng nói: “Văn chương chỉ có thể sống mãi khi chạm được vào trái tim con người.” Truyện ngắn "Sao sáng lấp lánh" của tác giả Nguyễn Thị Ấm là một minh chứng tiêu biểu cho nhận định ấy, không chỉ giàu giá trị nhân văn mà còn đặc sắc về nghệ thuật. Nguyễn Thị Ấm là cây bút nữ viết về người lính với giọng văn giàu cảm xúc, nhẹ nhàng mà thấm thía. Tác phẩm “Sao sáng lấp lánh” của bà là một truyện ngắn giàu tính nhân văn, khắc họa xúc động hình ảnh người lính trong những năm tháng chiến tranh ác liệt. Qua những thủ pháp nghệ thuật đặc sắc đã làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn và sự hi sinh cao cả của người lính trẻ. Truyện kể về người lính hồi tưởng kỷ niệm với một đồng đội trẻ giàu ước mơ và tình cảm. Trong một trận chiến ác liệt, người lính trẻ đã hi sinh nhưng vẫn trân trọng và gửi lại lá thư cho người yêu của đồng đội. Hình ảnh ấy trở thành “vì sao sáng” trong lòng người kể chuyện, tượng trưng cho vẻ đẹp và lý tưởng của người lính thời chiến. Trước hết, truyện thành công ở nghệ thuật xây dựng tình huống xúc động, tình huống của truyện gắn liền với sự kiện người lính trẻ tên Minh, trước khi hi sinh vì bom đạn địch trong một đêm trinh sát tại cảng Cửa Việt (Quảng Trị) vào những ngày nóng bóng của cuộc chiến đấu (1972) đã trăng trối lại rằng câu chuyện tình yêu lãng mạn với Hạnh mà anh kể cho đồng đội nghe chỉ là tưởng tượng. Anh chưa được cô gái nào yêu cả. Minh gửi lại bức thứ vẻn vẹn chỉ có sáu chữ mà anh đã viết sẵn, để trong túi áo ngực, nhờ đồng đội của mình hãy bỏ vào thùng thư khi đất nước hòa bình. Tình huống này tạo ra sự bất ngờ với người tiểu đội trưởng, đồng đội của anh và người đọc, hé mở những chiều sâu khác của thế giới tâm hồn người lính trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, gợi sự xúc động sâu sắc. . Tình huống ấy vừa giản dị vừa giàu khả năng gợi cảm, làm bật lên vẻ đẹp trong sáng của người lính. Bên cạnh đó, truyện sử dụng ngôi kể thứ nhất, có hai người kể chuyện. Người kể chuyện xưng "tôi" là tiểu đội trưởng, kể lại câu chuyện về Minh vào mấy thời điểm: khi mới nhập ngũ, khoe với mọi người về người yêu và câu chuyện tình yêu với Hạnh, khi ước nguyện của Minh được "tôi" hoàn thành... Người kể chuyện thứ hai là Minh, xưng "tớ" với đồng đội, kể lại câu chuyện tình yêu với Hạnh. Tác giả sử dụng điểm nhìn hạn tri, mang màu sắc cá nhân, chủ quan.ngày 30 tháng 4 năm 1975, năm 1972, sáu tháng sau. Sự ngắn ngủi của các mốc thời gian kết hợp với sự đối lập của các mốc thời gian đã gợi nên sự dữ dội, khốc liệt của chiến tranh. Không gian của truyện (không gian lãng mạn của Minh là Hà Nội), không gian thực tại (cảng Cửa Việt, Quảng Trị) Nghệ thuật miêu tả tâm lí tinh tế cũng là điểm nổi bật, thể hiện qua những trân trọng, nâng niu khi nhận lá thư của người đồng đội - lá thư vọn vẹn một dòng chữ " Hạnh ơi!... Anh cô đơn lắm..." Ngoài ra, truyện còn hấp dẫn bởi hình ảnh biểu tượng, đặc biệt là hình ảnh “sao sáng lấp lánh” – biểu tượng cho vẻ đẹp, lý tưởng và sự hi sinh cao cả của người lính trẻ. Ngôn ngữ truyện giản dị, giàu cảm xúc, góp phần tạo nên giọng điệu trầm lắng, nhân văn. Có thể nói, chính sự kết hợp hài hòa của những nghệ thuật trên đã làm nên sức lay động bền lâu của truyện. Qua đó, tác giả muốn tôn vinh vẻ đẹp trong sáng, nhân hậu và sự hi sinh cao cả của người lính, đồng thời gửi gắm lòng biết ơn sâu nặng đối với những con người đã trở thành “sao sáng” trong trái tim Tổ quốc. Câu 2:
Bài làm
Trong hành trình trưởng thành của mỗi con người, không phải lúc nào con đường phía trước cũng bằng phẳng. Sẽ có những khi ta mệt mỏi, chênh vênh và muốn buông bỏ. Bởi vậy, nhà văn Paulo Coelho từng viết: “Khi bạn tin rằng mình có một chỗ dựa, bạn sẽ mạnh mẽ hơn rất nhiều.” Điều đó cho thấy điểm tựa tinh thần có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi người trong cuộc sống.
Điểm tựa tinh thần là những giá trị vô hình nhưng có khả năng nâng đỡ và tiếp thêm sức mạnh cho con người trong cuộc sống. Đó có thể là tình cảm gia đình, tình bạn, niềm tin, lý tưởng sống hay một ước mơ thầm lặng. Khi có điểm tựa, con người cảm thấy an tâm hơn, bớt cô đơn và có động lực để vượt qua khó khăn. Nó giống như chiếc neo giữ con tàu không bị cuốn trôi giữa giông bão, giúp ta vững vàng trước thử thách.
Điểm tựa tinh thần có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì nó giúp con người giữ vững thăng bằng giữa những biến động của cuộc sống. Trước hết, điểm tựa tinh thần tạo nên niềm tin – yếu tố nền tảng giúp ta dám bước tiếp, dám đặt mục tiêu và kiên trì theo đuổi. Khi con người có nơi để hướng về, họ sẽ không dễ dàng bỏ cuộc dù đối mặt với thất bại hay tổn thương. Bên cạnh đó, điểm tựa tinh thần còn đem lại động lực sống. Một lời động viên từ gia đình, một cái siết tay của bạn bè hay một lý tưởng sống đẹp có thể trở thành nguồn năng lượng mạnh mẽ giúp ta vượt qua giai đoạn mệt mỏi nhất. Không chỉ nâng đỡ, điểm tựa tinh thần còn góp phần hình thành bản lĩnh và nhân cách, giúp con người biết vươn lên, biết sống tử tế và trách nhiệm hơn. Hơn nữa, điểm tựa tinh thần giúp con người xoa dịu áp lực tinh thần trong xã hội hiện đại, nơi mỗi người phải đối mặt với vô vàn áp lực về học tập, công việc và các mối quan hệ. Có điểm tựa, con người cảm thấy được chia sẻ, thấu hiểu, từ đó tâm hồn trở nên cân bằng và khỏe mạnh hơn. Cuối cùng, điểm tựa tinh thần còn nuôi dưỡng ở con người khát vọng sống tích cực, hướng tới những giá trị tốt đẹp như tình yêu thương, sự nhân ái và lòng vị tha. Chính những điều đó giúp cuộc sống của chúng ta trở nên ý nghĩa hơn, sâu sắc hơn. Vì vậy, điểm tựa tinh thần không chỉ là chỗ dựa, mà còn là nguồn sức mạnh âm thầm định hướng và nâng đỡ con người trong mọi hành trình của cuộc sống.
Trong thực tế, có rất nhiều con người thành công nhờ có một điểm tựa tinh thần bền vững. Thomas Edison – nhà phát minh vĩ đại – từng trải qua hàng nghìn lần thất bại, nhưng ông vẫn kiên trì bởi luôn tin vào lời động viên từ mẹ mình, người đã trở thành chỗ dựa lớn nhất của cuộc đời ông. Chính điểm tựa ấy giúp Edison không bỏ cuộc và cuối cùng tạo ra bóng đèn điện làm thay đổi nhân loại. Ở Việt Nam, trong đại dịch Covid-19, hàng triệu người dân đã cùng nhau vượt qua khó khăn nhờ niềm tin và tình thương từ gia đình, cộng đồng. Điểm tựa tinh thần ấy đã giúp biết bao con người mạnh mẽ hơn, kiên cường hơn giữa thời điểm tưởng chừng như tuyệt vọng.
Tuy nhiên, không phải ai cũng biết tạo dựng hoặc trân trọng điểm tựa tinh thần cho chính mình. Có những người quá phụ thuộc vào người khác nên khi điểm tựa ấy mất đi, họ trở nên sụp đổ và đánh mất khả năng đứng vững. Lại có người sống thờ ơ, khép kín, không mở lòng nên không bao giờ tìm được chỗ dựa tinh thần thật sự. Điều đó cho thấy điểm tựa chỉ có ý nghĩa khi con người biết chủ động xây dựng nội lực và biết sẻ chia yêu thương. Chỉ khi mạnh mẽ từ bên trong, ta mới biến điểm tựa thành động lực, chứ không phải sự lệ thuộc.
Mỗi người cần học cách tạo cho mình một điểm tựa tinh thần đủ mạnh để không bị cuốn trôi bởi những biến động của cuộc sống; phải nuôi dưỡng ý chí, rèn luyện sự kiên định và biết tự động viên mình khi khó khăn ập đến.Từ đó, ta nhận ra rằng sức mạnh thật sự không đến từ bên ngoài mà được bồi đắp từ nội tâm. Khi giữ được sự vững vàng ấy, ta mới có thể tiến xa và sống trọn vẹn hơn mỗi ngày.
Câu 1: Thể loại của văn bản: Truyện ngắn
Câu 2: Tác dụng của dấu ba chấm trong câu văn: Đêm đó, khi cơn mưa rừng tạnh, những người lính chúng ta cứ nhìn những vì sao lấp lánh trên bầu trời... mà không sao ngủ được:
+ Tạo nhịp điệu chậm rãi, ngắt quãng, gợi cảm xúc.
+ Tác giả dử dụng dấu ba chấm để thể hiện tâm trạng bâng khuâng lặng, trăn trở, không ngủ được của những người lính khi nhìn sao, nỗi nhớ quê hương, người thân và chìm đắm trong cảm xúc của mình.
+ Qua đó, tác giả đã lột tả chiều sâu tâm trạng của người lính và dễ chạm đến trái tim của người độc
Câu 3: - Tình huống truyện:
+ Tình huống truyện éo le, cảm động : Người lính Minh trước khi hi sinh đã nhờ đồng đội gửi một lá thư dang dở chỉ vọn vẹn một câu "Hạnh ơi!... Ạnh cô đơn lắm..." cho thấy sự cô đơn, khao khát tình cảm của người lính trong chiến tranh.
+ Tình huống mang tính nhân văn: Chi tiết người đồng đội cảm thận gửi lá thư sau ngày giải phóng thể hiện sự trân trọng, bộc lộ sâu sắc tình đồng chí, đồng đội thiêng liêng.
- Nhận xét:
+ Đó là tình huống truyện giàu cảm xúc khi người lính nhớ về người đồng đội trẻ đã hi sinh giữa chiến trường.
+ Qua đó, tác giả cũng làm nổi bật khát vọng tình yêu và hạnh phúc giản dị của người lính trogn chiến tranh.
Câu 4: − Nhan đề truyện Sao sáng lấp lánh được đặt tên từ một hình ảnh ấn tượng của nhân vật Hạnh − người yêu trong tưởng tượng của Minh − hình ảnh đôi mắt của cô gái như hai vì sao sáng lấp lánh.
− Nhan đề gợi ra cảm hứng về vẻ đẹp tâm hồn những người lính trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc − khát vọng tình yêu bay bổng, lãng mạn là điểm tựa tinh thần mãnh liệt, là đôi cánh an ủi, nâng đỡ tâm hồn của họ trong cuộc chiến đấu nhiều đau thương, mất mát cho hòa bình, độc lập của đất nước.
Câu 5: - Hình tượng người lính trong văn bản:
+ Những người lính trẻ trung, tràn đầy sức sống, chân thành, khát khao tình yêu, giàu tình đồng đội: hiện lên qua các cuộc trò chuyện, qua dòng thư ngắn ngủi vọn vẹn một câu, qua hành động trân trọng gửi lá thư của đồng đội
+ Những người lính dũng cảm, kiên cường nhưng cô đơn và sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc: họ hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, họ hy sinh cả hạnh phúc riêng của mình vì hạnh phúc chung của đất nước.
- Nhận xét:
+ Hình tượng người lính là đại diện cho vẻ đẹp trong sáng, giàu lý tưởng và đầy nhân văn của thế hệ người lính Việt Nam.
+ Qua đó, tác giả thành công hình ảnh người lính với phẩm chất cao đẹp, gợi lên những suy ngẫm sau sắc về chiến tranh, tình yêu và giá trị nhân văn.
Câu 1:
Tô Hoài từng nhận định rằng:" Nhận vật là linh hồn và trụ cột của một tác phẩm", bởi vậy qua hình tượng nhân vật, người đọc có thể cảm nhận được tư tưởng tình cảm của tác giả. Trong đoạn trích trên, nhân vật Thúy Kiều là linh hồn của tác phẩm, thể hiện lên là người con gái hiền hậu, vị tha và đầy nhân hậu. Khi tiễn Thúc Sinh về quê,Thúy Kiều là người chủ động khuyên nhủ chàng về quê để tỏ rõ sự thật với vợ cả (Hoạn Thư), chủ động dặn dò Thúc Sinh không nên giấu giếm. Điều này cho thấy nàng là người thấu tình đạt lí, có suy nghĩ sâu sắc, đàng hoàng, muốn mọi chuyện được minh bạch, rõ ràng, không muốn lừa dối người khác. Nỗi lòng của Thúy Kiều được thể hiện rõ nét qua sự day dứt đau đớn khi chia tay Thúc Sinh. Lời dặn dò và tâm trạng của nàng trong cuộc chia tay với Thúc Sinh cũng cho thấy nàng niềm mong ước, hi vọng có được một thân phận rõ ràng, một niềm hạnh phúc nhỏ nhoi của phận làm lẽ. Tuy nhiên, trong niềm mong ước nhỏ bé ấy cũng ẩn chứa những dự cảm về một tương lai đầy sóng gió, cô đơn và đau khổ. Tác giả sử dụng những hình ảnh " Vầng trăng ai xe làm đôi" và " Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường" diễn tả sự trống trải, cô đơn và nỗi buồn chia ly. Vầng trăng bị "xé làm đôi" không chỉ là hình ảnh thiên nhiên mà con là sự phản chiếu tâm trạng tan vỡ của nàng. Nhân vật Thúy Kiều là biểu tượng cho số phận người phụ nữ tài sắc nhưng bạc mệnh trong xã hội phong kiến. Tác giả sử dụng biện pháp ước lệ tượng trưng, các biện pháp tu từ, hình ảnh đặc sắc hình ảnh "vầng trăng"; ngôn ngữ tinh tế, giọng thơ nhẹ nhàng sâu lắng để diễn tả tâm trạng Kiều một cách chân thực. Qua đó, nhà thơ bộc lộ tấm lòng nhân đạo bao la sâu sắc và xót thương với những người phụ nữ tài sắc bạc mệnh.
Câu 2:
Nhà văn Maxim Gorky từng nói: “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực, mà là nơi không có tình thương và lí tưởng.” Thật vậy, con người có thể sống thiếu nhiều thứ, nhưng không thể sống thiếu lí tưởng – ngọn đuốc soi sáng con đường đi tới tương lai. Trong xã hội hiện đại với nhiều cơ hội và cám dỗ đan xen, việc xác định và theo đuổi lí tưởng sống đúng đắn lại càng trở nên quan trọng, đặc biệt là với thế hệ trẻ – chủ nhân tương lai của đất nước.
Trước hết, lí tưởng sống là mục tiêu, hoài bão và khát vọng cao đẹp mà con người hướng tới trong tương lai, là kim chỉ nam giúp ta sống có định hướng và ý nghĩa. Lí tưởng của thế hệ trẻ trong cuộc sống hôm nay chính là sống có ước mơ, mục tiêu rõ ràng, biết phấn đấu cố gắng từng ngày để vươn lên, cống hiến cho xã hội và xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn.
Lê-nin từng nói rằng :"Người nào không có mục đích sống thì người đó không sống, mà chỉ tồn tại". Đúng vậy, câu nói khẳng định tầm quan trọng của việc có lí tưởng sống rõ ràng. Lí tưởng sống của thế hệ trẻ hôm nay được thể hiện qua nhiều hành động thiết thực trong đời sống. Những bạn trẻ biết nuôi dưỡng ước mơ, biết lập ra kế hoạch phát triển bản thân, có khát vong vươn lên, ra sức học hành rèn luyện đề khẳng định bản thân và cống hiến cho tổ quốc. Họ tích cực trải nghiệm, thực hành các hoạt động nghiên cứu khoa học hay khởi nghiệp sáng tạo. Nhiều bạn trẻ săn sàng dấn thân vào những nơi khó khăn để thể hiện tinh thần sống vì người khác. So với các thế hệ cha anh đi trước, lí tưởng của thế hệ trẻ hôm nay tuy có nhiều cách thể hiện khác nhau nhưng vẫn hướng đến những giá trị tốt đẹp chung: sống có ích, có trách nhiệm, có ý nghĩa và biết cống hiến. Nếu thế hệ cha anh ngày xưa chiến đấu, hi sinh vì bảo vệ độc lập dân tộc và Tổ quốc thì thế hệ ngày nay đang phấn đấu vì một đất nước giàu mạnh và hùng cường. Lí tưởng sống là động lực giúp thế hệ trẻ cố gắng, nỗ lực; là ngọn đuốc soi đường giúp thế hệ trẻ không lầm đường, lạc lối. Đó cũng là động lực mạnh mẽ thôi thúc mỗi người vượt qua khó khăn, dám ước mơ dám hành động - Hãy biến cuộc đời thành giấc mơ, biến giấc mơ ấy thành hiện thực.
Trong xã hội hiện đại, nhiều thế hệ trẻ đã khẳng định bản thân mình bằng lí tưởng sống cao đẹp. Elon Musk - người sáng lập SpaceX và Tesla, luôn theo đuổi ước mơ chinh phục vũ trụ và tạo ra nguồn năng lượng sạch cho nhân loại thể hiện tinh thần dám nghĩ dám làm của tuổi trẻ. Ở Việt Nam, Nguyễn Hải Long là chàng trai trẻ đạt học bổng toàn phần Oxford, mong muốn nghiên cứu khoa học đề giúp ích cho Tổ quốc. Những con người ấy cho thấy, khi có lí tưởng đúng đắn, tuổi trẻ sẽ tạp nên những giá trị lớn lao, tốt đẹp cho xã hội.
Bên cạnh đó, vẫn còn một số bộ phận người trẻ sống buông thả, không cso mcuj tiêu, lí tưởng, và chạy theo lối sống thực dụng. Họ chỉ biết hưởng thụ và quan tâm đến vật chất, không có trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội; đánh mất đi giá trị của bản thân. Những lối sống ấy, khiến tuổi trẻ trở nên vô nghĩa, hoang phí và đánh mất tương lai. Vì thế, thế hệ trẻ hôm nay cần nuôi dưỡng hoài bão lớn, giữ vững niềm tin và kiên trì theo đuổi ước mơ để tuổi trẻ trở thành quãng đời rực rỡ và đáng tự hào nhất.
Mỗi người trẻ hôm nay cần nhận thức được sống có lí tưởng là sống có mục tiêu, khát vọng. Chúng ta cần phải tự tin, dám ước mơ, dám thực hiện và không thất bại ngại khó ngại khổ. Lí tưởng không dừng lại ở bản thân mà còn phải gắn liền với trách nhiệm với gia đình, xã hội và Tổ quốc. "Tuổi trẻ không có lí tưởng giống như buổi sáng không có mặt trời" - Belinsky.
Lí tưởng sống chính là ngọn lửa rực cháy dẫn đường cho chúng ta trên hành trình hoàn thiện bản thân và thành công. Hãy sống và cống hiến bằng tất cả nhiệt huyết tuổi trẻ, nuôi dưỡng trong tim một lí tưởng cao đẹp đề không lãng phí những năm tháng quý giá nhất của đời mình.
Câu 1:
Trả lời:
Câu 1: Thể thơ của văn bản: Lục bát.
Câu 2: Đoạn trích trên kể vể sự kiện: Thúc sinh từ biệt Thúy Kiều để trở về gặp Hoạn Thư, trình bày việc mình đã cưới vợ lẽ.
Câu 3:- Biện pháp tu từ: Phép đối ( người về- kẻ đi).
-Tác dụng:
+Tạo nhịp điệu cân xứng, tăng sức gợi hình gợi cảm.
+Tác giả sử dụng phép đối để nhấn mạnh sự lê thê và sự dài dằng dặc của thời gian, cảnh chia ly giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh.
+Qua đó, tác giả thể hiện tấm lòng cảm thương sâu sắc của Nguyễn Du với con người trong cảnh éo le.
Câu 4: Cảm hứng chủ đạo trong văn bản trên: Nỗi buồn chia ly và khát vọng hạnh phúc đôi lứa qua đó,tác giả thể hiện sự đồng cảm, tấm lòng nhân đạo sâu sắc và trân trọng tình yêu chân thành.
Câu 5: Nhan đề: Cảnh chia ly của Thúy Kiều - Thúc Sinh. Vì đoạn trích nói về cuộc chia ly đầy đau thương giữa hai người, thể hiện nỗi nhớ thương và khát vọng hạnh phúc không trọn vẹn.
Trả lời:
Câu 1: Thể thơ của văn bản: Lục bát.
Câu 2: Đoạn trích trên kể vể sự kiện: Thúc sinh từ biệt Thúy Kiều để trở về gặp Hoạn Thư, trình bày việc mình đã cưới vợ lẽ.
Câu 3:- Biện pháp tu từ: Phép đối ( người về- kẻ đi).
-Tác dụng:
+Tạo nhịp điệu cân xứng, tăng sức gợi hình gợi cảm.
+Tác giả sử dụng phép đối để nhấn mạnh sự lê thê và sự dài dằng dặc của thời gian, cảnh chia ly giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh.
+Qua đó, tác giả thể hiện tấm lòng cảm thương sâu sắc của Nguyễn Du với con người trong cảnh éo le.
Câu 4: Cảm hứng chủ đạo trong văn bản trên: Nỗi buồn chia ly và khát vọng hạnh phúc đôi lứa qua đó,tác giả thể hiện sự đồng cảm, tấm lòng nhân đạo sâu sắc và trân trọng tình yêu chân thành.
Câu 5: Nhan đề: Cảnh chia ly của Thúy Kiều - Thúc Sinh. Vì đoạn trích nói về cuộc chia ly đầy đau thương giữa hai người, thể hiện nỗi nhớ thương và khát vọng hạnh phúc không trọn vẹn.
Trả lời:
Câu 1: Thể thơ của văn bản: Lục bát.
Câu 2: Đoạn trích trên kể vể sự kiện: Thúc sinh từ biệt Thúy Kiều để trở về gặp Hoạn Thư, trình bày việc mình đã cưới vợ lẽ.
Câu 3:- Biện pháp tu từ: Phép đối ( người về- kẻ đi).
-Tác dụng:
+Tạo nhịp điệu cân xứng, tăng sức gợi hình gợi cảm.
+Tác giả sử dụng phép đối để nhấn mạnh sự lê thê và sự dài dằng dặc của thời gian, cảnh chia ly giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh.
+Qua đó, tác giả thể hiện tấm lòng cảm thương sâu sắc của Nguyễn Du với con người trong cảnh éo le.
Câu 4: Cảm hứng chủ đạo trong văn bản trên: Nỗi buồn chia ly và khát vọng hạnh phúc đôi lứa qua đó,tác giả thể hiện sự đồng cảm, tấm lòng nhân đạo sâu sắc và trân trọng tình yêu chân thành.
Câu 5: Nhan đề: Cảnh chia ly của Thúy Kiều - Thúc Sinh. Vì đoạn trích nói về cuộc chia ly đầy đau thương giữa hai người, thể hiện nỗi nhớ thương và khát vọng hạnh phúc không trọn vẹn.
Trả lời:
Câu 1: Thể thơ của văn bản: Lục bát.
Câu 2: Đoạn trích trên kể vể sự kiện: Thúc sinh từ biệt Thúy Kiều để trở về gặp Hoạn Thư, trình bày việc mình đã cưới vợ lẽ.
Câu 3:- Biện pháp tu từ: Phép đối ( người về- kẻ đi).
-Tác dụng:
+Tạo nhịp điệu cân xứng, tăng sức gợi hình gợi cảm.
+Tác giả sử dụng phép đối để nhấn mạnh sự lê thê và sự dài dằng dặc của thời gian, cảnh chia ly giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh.
+Qua đó, tác giả thể hiện tấm lòng cảm thương sâu sắc của Nguyễn Du với con người trong cảnh éo le.
Câu 4: Cảm hứng chủ đạo trong văn bản trên: Nỗi buồn chia ly và khát vọng hạnh phúc đôi lứa qua đó,tác giả thể hiện sự đồng cảm, tấm lòng nhân đạo sâu sắc và trân trọng tình yêu chân thành.
Câu 5: Nhan đề: Cảnh chia ly của Thúy Kiều - Thúc Sinh. Vì đoạn trích nói về cuộc chia ly đầy đau thương giữa hai người, thể hiện nỗi nhớ thương và khát vọng hạnh phúc không trọn vẹn.
Trả lời:
Câu 1: Thể thơ của văn bản: Lục bát.
Câu 2: Đoạn trích trên kể vể sự kiện: Thúc sinh từ biệt Thúy Kiều để trở về gặp Hoạn Thư, trình bày việc mình đã cưới vợ lẽ.
Câu 3:- Biện pháp tu từ: Phép đối ( người về- kẻ đi).
-Tác dụng:
+Tạo nhịp điệu cân xứng, tăng sức gợi hình gợi cảm.
+Tác giả sử dụng phép đối để nhấn mạnh sự lê thê và sự dài dằng dặc của thời gian, cảnh chia ly giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh.
+Qua đó, tác giả thể hiện tấm lòng cảm thương sâu sắc của Nguyễn Du với con người trong cảnh éo le.
Câu 4: Cảm hứng chủ đạo trong văn bản trên: Nỗi buồn chia ly và khát vọng hạnh phúc đôi lứa qua đó,tác giả thể hiện sự đồng cảm, tấm lòng nhân đạo sâu sắc và trân trọng tình yêu chân thành.
Câu 5: Nhan đề: Cảnh chia ly của Thúy Kiều - Thúc Sinh. Vì đoạn trích nói về cuộc chia ly đầy đau thương giữa hai người, thể hiện nỗi nhớ thương và khát vọng hạnh phúc không trọn vẹn.
Trả lời:
Câu 1: Thể thơ của văn bản: Lục bát.
Câu 2: Đoạn trích trên kể vể sự kiện: Thúc sinh từ biệt Thúy Kiều để trở về gặp Hoạn Thư, trình bày việc mình đã cưới vợ lẽ.
Câu 3:- Biện pháp tu từ: Phép đối ( người về- kẻ đi).
-Tác dụng:
+Tạo nhịp điệu cân xứng, tăng sức gợi hình gợi cảm.
+Tác giả sử dụng phép đối để nhấn mạnh sự lê thê và sự dài dằng dặc của thời gian, cảnh chia ly giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh.
+Qua đó, tác giả thể hiện tấm lòng cảm thương sâu sắc của Nguyễn Du với con người trong cảnh éo le.
Câu 4: Cảm hứng chủ đạo trong văn bản trên: Nỗi buồn chia ly và khát vọng hạnh phúc đôi lứa qua đó,tác giả thể hiện sự đồng cảm, tấm lòng nhân đạo sâu sắc và trân trọng tình yêu chân thành.
Câu 5: Nhan đề: Cảnh chia ly của Thúy Kiều - Thúc Sinh. Vì đoạn trích nói về cuộc chia ly đầy đau thương giữa hai người, thể hiện nỗi nhớ thương và khát vọng hạnh phúc không trọn vẹn.