ĐÀO ĐỨC HUY

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của ĐÀO ĐỨC HUY
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1: Bài làm

Ước mơ và lao động có mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó mật thiết với nhau trong cuộc sống con người. Ước mơ là những khát vọng, mục tiêu tốt đẹp mà con người muốn hướng tới; còn lao động là quá trình học tập, rèn luyện và làm việc để biến khát vọng ấy thành hiện thực. Ước mơ giống như ngọn đèn soi đường, giúp con người có phương hướng để cố gắng. Khi có ước mơ, con người sẽ có thêm động lực vượt qua khó khăn, thử thách, không dễ dàng bỏ cuộc trước thất bại. Tuy nhiên, nếu chỉ biết mơ ước mà không chịu lao động thì ước mơ mãi chỉ là điều viển vông. Lao động chính là chiếc cầu nối đưa con người đến thành công. Nhờ chăm chỉ học tập, kiên trì rèn luyện, nhiều người đã thực hiện được hoài bão của mình, trở thành bác sĩ, kỹ sư, nhà giáo hay vận động viên giỏi. Ngược lại, có những người sống lười biếng, ngại cố gắng nên dần đánh mất ước mơ. Vì thế, mỗi người cần biết nuôi dưỡng những ước mơ đẹp và biến nó thành hành động cụ thể mỗi ngày. Là học sinh, em hiểu rằng muốn đạt kết quả tốt trong học tập và chạm tới tương lai mong muốn, em phải chăm chỉ học tập, rèn luyện bản thân. Có thể nói, ước mơ tạo ra hướng đi, còn lao động tạo nên thành quả.

Câu 2: Bài làm

Nguyễn Đình Thi là nghệ sĩ đa tài của nền văn học Việt Nam hiện đại. Thơ ông giàu cảm xúc, phóng khoáng, sâu lắng và giàu chất suy tư. Bài thơ Nhớ được sáng tác trong thời kì kháng chiến chống Pháp, là một bài thơ tình đặc sắc kết hợp hài hòa giữa tình yêu đôi lứa và tình yêu đất nước. Qua bài thơ, nhà thơ đã khắc họa tinh tế tâm trạng nhân vật trữ tình: nỗi nhớ da diết về người yêu, tình yêu tha thiết với quê hương và niềm tin mãnh liệt vào cuộc chiến đấu.

Mở đầu bài thơ là nỗi nhớ được diễn tả qua những hình ảnh thiên nhiên lung linh, giàu sức gợi:

Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh
Soi sáng đường chiến sĩ giữa đèo mây
Ngọn lửa nhớ ai mà hồng đêm lạnh
Sưởi ấm lòng chiến sĩ dưới ngàn cây

Nhân vật trữ tình gửi nỗi nhớ của mình vào ngôi sao, ngọn lửa. Biện pháp nhân hóa khiến thiên nhiên như có tâm hồn, cũng biết nhớ thương như con người. Ngôi sao “lấp lánh” soi đường, ngọn lửa “hồng đêm lạnh” sưởi ấm lòng người chiến sĩ. Trong không gian núi rừng gian khổ, nỗi nhớ người yêu trở thành nguồn sáng, nguồn ấm áp tiếp thêm sức mạnh cho người ra trận. Tâm trạng nhân vật trữ tình ở đây vừa da diết nhớ thương, vừa lạc quan, tin tưởng.

Khổ thơ thứ hai là sự bộc lộ trực tiếp tình yêu đôi lứa gắn liền với tình yêu Tổ quốc:

Anh yêu em như anh yêu đất nước
Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần

Câu thơ so sánh độc đáo đã nâng tình yêu cá nhân lên tầm cao lớn lao, thiêng liêng. Tình yêu người con gái hòa quyện với tình yêu đất nước. Đất nước hiện lên vừa “vất vả đau thương” bởi chiến tranh, mất mát; vừa “tươi thắm vô ngần” bởi sức sống mãnh liệt và tương lai tươi sáng. Qua đó cho thấy tâm trạng của nhân vật trữ tình là niềm yêu thương sâu nặng, chân thành và tự hào.

Nỗi nhớ còn hiện diện trong từng khoảnh khắc đời sống chiến sĩ:

Anh nhớ em mỗi bước đường anh bước
Mỗi tối anh nằm mỗi miếng anh ăn

Điệp từ “mỗi” được lặp lại nhiều lần nhấn mạnh nỗi nhớ thường trực, liên tục. Người yêu luôn hiện diện trong tâm trí nhân vật trữ tình, theo anh trên mọi nẻo đường hành quân, trong từng sinh hoạt giản dị hằng ngày. Nỗi nhớ ấy không bi lụy mà rất chân thành, tự nhiên, trở thành điểm tựa tinh thần giúp người chiến sĩ vượt qua gian khổ.

Khổ thơ cuối mở ra vẻ đẹp của niềm tin và lí tưởng:

Ngôi sao trong đêm không bao giờ tắt
Chúng ta yêu nhau chiến đấu suốt đời
Ngọn lửa trong rừng bập bùng đỏ rực
Chúng ta yêu nhau kiêu hãnh làm người.

Nếu ở đầu bài thơ, ngôi sao và ngọn lửa là hình ảnh của nỗi nhớ thì đến đây, chúng trở thành biểu tượng cho tình yêu bền vững và lí tưởng cách mạng không bao giờ lụi tắt. Điệp ngữ “chúng ta yêu nhau” khẳng định sự gắn bó keo sơn của đôi lứa trong chiến đấu. Tâm trạng nhân vật trữ tình lúc này không chỉ là nhớ thương mà còn là niềm tự hào, ý chí mạnh mẽ và khát vọng sống đẹp. Tình yêu riêng đã hòa vào tình yêu lớn của dân tộc.

Thành công của bài thơ còn nằm ở thể thơ tự do, giọng điệu tha thiết mà hào hùng, hình ảnh giàu sức biểu tượng, ngôn ngữ giản dị mà giàu cảm xúc. Nguyễn Đình Thi đã thể hiện tinh tế vẻ đẹp tâm hồn người chiến sĩ thời kháng chiến biết yêu tha thiết, nhớ sâu nặng nhưng cũng đầy bản lĩnh và trách nhiệm.

Như vậy, tâm trạng nhân vật trữ tình trong bài thơ Nhớ là sự hòa quyện giữa nỗi nhớ người yêu da diết, tình yêu đất nước sâu nặng và niềm tin mãnh liệt vào cuộc chiến đấu. Bài thơ không chỉ ca ngợi tình yêu đôi lứa đẹp đẽ mà còn khẳng định vẻ đẹp của con người Việt Nam trong những năm tháng kháng chiến gian lao mà anh dũng.

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính được tác giả sử dụng trong văn bản: Nghị luận.

Câu 2: Văn bản trên bàn về vấn đề: Vai trò, ý nghĩa của lao động.

Câu 3:

- Những bằng chứng được đưa ra là: "Ngay cả chú chim yến, khi còn non thì được bố mẹ mang mồi về mớm cho nhưng khi lớn lên sẽ phải tự mình đi kiếm mồi. Hổ và sư tử cũng đều như vậy.".

- Đó là những bằng chứng điển hình, sinh động, được mọi người dễ dàng thừa nhận, có tác dụng làm tăng tính thuyết phục của văn bản đồng thời cũng giúp việc tiếp nhận vấn đề nghị luận trở nên nhẹ nhàng hơn.

Câu 4:

    Nếu con người hiểu được niềm vui, ý nghĩa của lao động; coi lao động là cống hiến, vun đắp, là khám phá cuộc sống thì người đó sẽ hạnh phúc, ngay cả khi họ phải lao động vất vả, cực nhọc. Ngược lại, nếu con người không nhận ra ý nghĩa của lao động, coi lao động là nô dịch, khổ sai thì người đó sẽ luôn cảm thấy bất hạnh dẫu công việc của họ không quá nhọc nhằn. Vì vậy, chúng ta cần có nhận thức và thái độ đúng đắn về lao động.

Câu 5

- Một số biểu hiện về việc nhận thức chưa đúng ý nghĩa về vai trò của lao động

+ Thái độ coi thường những người lao động chân tay dù họ vẫn có những đóng góp nhất định cho cộng đồng. 

+ Một số người giàu có cho rằng con cháu họ không cần làm gì cũng có thể sống thoải mái với số tài sản đã có. Họ không nhận ra rằng chính lao động sẽ mang lại cho họ niềm vui và tạo nên giá trị cho con cháu của họ. 

Câu 1: Bài làm

Trong văn bản Không một tiếng vang, Vũ Trọng Phụng đã khắc họa đầy ám ảnh bi kịch của gia đình ông lão mù – một gia đình nghèo khổ, bất hạnh và bị xã hội lãng quên. Trước hết, đó là bi kịch của cái đói, cái nghèo đeo bám khiến con người rơi vào cảnh cùng quẫn. Ông lão đã mù lòa, mất khả năng lao động nhưng vẫn phải vật lộn để nuôi sống gia đình. Sự tật nguyền khiến ông trở nên yếu đuối, bất lực trước cuộc đời nghiệt ngã. Bên cạnh đó, gia đình ấy còn chịu nỗi đau tinh thần khi không nhận được sự sẻ chia từ cộng đồng xung quanh. Tiếng kêu cứu, nỗi đau và sự tuyệt vọng của họ dường như rơi vào khoảng không “không một tiếng vang”, không ai lắng nghe, không ai đáp lại. Nhan đề tác phẩm vì thế mang ý nghĩa tố cáo sâu sắc một xã hội vô cảm, nơi những phận người nghèo khổ bị bỏ quên. Qua bi kịch của gia đình ông lão mù, tác giả bày tỏ niềm thương cảm chân thành đối với người lao động nghèo, đồng thời thức tỉnh lương tri con người về trách nhiệm yêu thương, giúp đỡ những số phận bất hạnh trong cuộc sống

Câu 2: Bài làm

Trong cuộc sống, mỗi con người không tồn tại riêng lẻ mà luôn gắn bó với gia đình, xã hội và cộng đồng. Vì thế, tinh thần nhân ái và trách nhiệm cộng đồng là những giá trị vô cùng cần thiết. Bi kịch của gia đình ông lão mù trong văn bản Không một tiếng vang đã gợi nhắc chúng ta về bổn phận quan tâm, chăm sóc và nâng đỡ những người yếu thế để xã hội trở nên tốt đẹp hơn.

Tinh thần nhân ái là lòng yêu thương, biết cảm thông, sẻ chia với nỗi đau của người khác. Trách nhiệm cộng đồng là ý thức sống vì tập thể, biết quan tâm đến lợi ích chung và sẵn sàng góp sức xây dựng xã hội. Hai phẩm chất ấy luôn song hành với nhau: có lòng nhân ái sẽ thúc đẩy con người hành động vì cộng đồng; có trách nhiệm cộng đồng sẽ giúp lòng nhân ái được thể hiện bằng việc làm thiết thực.

Tinh thần nhân ái giúp con người xích lại gần nhau hơn. Trong cuộc đời, không ai tránh khỏi lúc khó khăn, bệnh tật hay thất bại. Một lời động viên, một sự giúp đỡ đúng lúc có thể tiếp thêm niềm tin cho người đang tuyệt vọng. Khi con người biết yêu thương nhau, xã hội sẽ bớt đi sự lạnh lùng, ích kỉ. Những chương trình thiện nguyện, hiến máu nhân đạo, quyên góp giúp đồng bào vùng thiên tai… chính là biểu hiện đẹp của lòng nhân ái.

Bên cạnh đó, trách nhiệm cộng đồng là nền tảng để xã hội phát triển bền vững. Mỗi người có ý thức với cộng đồng sẽ biết giữ gìn môi trường, tuân thủ pháp luật, giúp đỡ người yếu thế, góp phần xây dựng nếp sống văn minh. Trong đại dịch COVID-19, biết bao y bác sĩ, tình nguyện viên, mạnh thường quân đã không quản khó khăn để chăm sóc người bệnh, hỗ trợ người nghèo. Những hành động ấy cho thấy khi cộng đồng đoàn kết, con người có thể vượt qua mọi thử thách.

Đối với những người yếu thế như người già neo đơn, người khuyết tật, trẻ em mồ côi hay người có hoàn cảnh khó khăn, tinh thần nhân ái và trách nhiệm cộng đồng càng trở nên cần thiết. Họ rất cần sự quan tâm từ xã hội để có cơ hội sống tốt hơn. Nếu mỗi người thờ ơ, vô cảm, những số phận ấy sẽ càng bất hạnh. Một xã hội chỉ thực sự tiến bộ khi biết bảo vệ và nâng đỡ những người yếu thế.

Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn không ít người sống ích kỉ, chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân, thờ ơ trước khó khăn của người khác. Có người thấy tai nạn nhưng không giúp đỡ, thấy hoàn cảnh bất hạnh nhưng lạnh lùng quay lưng. Lối sống ấy làm mai một tình người và khiến xã hội trở nên vô cảm. Vì vậy, mỗi người cần phê phán thái độ thờ ơ, đồng thời nuôi dưỡng lòng yêu thương từ những việc nhỏ nhất.

Là học sinh, chúng ta có thể rèn luyện tinh thần nhân ái và trách nhiệm cộng đồng bằng những hành động gần gũi: kính trọng ông bà cha mẹ, giúp đỡ bạn bè, tham gia hoạt động thiện nguyện, bảo vệ môi trường, cư xử văn minh nơi công cộng. Khi biết sống vì người khác, chúng ta cũng đang hoàn thiện nhân cách của chính mình.

Như vậy, tinh thần nhân ái và trách nhiệm cộng đồng là những giá trị không thể thiếu trong cuộc sống. Đó là sợi dây gắn kết con người với con người, là sức mạnh giúp xã hội ngày càng tốt đẹp hơn. Mỗi chúng ta hãy mở rộng trái tim, sống yêu thương và có trách nhiệm để không còn những tiếng kêu cứu rơi vào im lặng “không một tiếng vang”.


Câu 1: Nhân vật Thông Xa là chủ nợ của gia đình ông lão mù.

Câu 2: Xung đột cơ bản của đoạn trích "Không một tiếng vang" là sự mâu thuẫn gay gắt giữa khát vọng sống, nhu cầu tồn tại tối thiếu của người dân nghèo với thực tế xã hội nghiệt ngã, bất công.

Câu 3:

− Quan điểm của anh cả Thuận về đồng tiền:

+ Đồng tiền là thế lực tối thượng, thay cả thần thánh ("Chỉ có đồng tiền là Giời, là Phật").

+ Đồng tiền có sức mạnh vạn năng, đứng trên cả đạo đức và pháp luật ("Lương tâm à? Còn thua đồng tiền! Luật pháp à? Chưa bằng đồng tiền!").

− Quan niệm của anh cả Thuận đã phản ánh hiện thực xã hội:

+ Thực trạng xã hội thối nát, nơi các giá trị đạo đức bị đảo lộn, công lý bị bóp méo dưới sức mạnh của đồng tiền.

+ Xã hội "kim tiền" tàn bạo, nơi kẻ ác, kẻ giàu có thì sung sướng, còn người hiền lành và lương thiện nhưng nghèo khó thì bị chà đạp, dồn vào bước đường cùng.

Câu 4:

Phẩm chất đáng quý của nhân vật chị cả Thuận:

− Tấm lòng hiếu thảo, giàu tình yêu thương: Giữa cảnh cùng quẫn, chị luôn là người quan tâm đến sức khoẻ và cảm giác của người cha già mù loà.

+ Vội vàng chạy đi bán chậu vì muốn mua bát cháo và lọ dầu vì lo bố chồng đói.

+ Khi thấy cha ngã thì hoảng loạn, nâng đỡ và hỏi han đầy xót xa: "Thầy ơi, thầy ngã có đau không?", "tay run lẩy bẩy, hết sức dìu bố".

− Kiên cường, không cam chịu, buông xuôi trước số phận: Khác với sự bất lực, than trời trách đất của người chồng, chị Thuận có bản năng sống mãnh liệt và tư duy thực tế hơn. Chị không chấp nhận ngồi chờ chết mà cố gắng xoay xở tình hình đến giây phút cuối cùng.

+ Chị cố gắng xốc lại tinh thần mọi người: "... chẳng nhẽ cứ để mặc nó muốn nghiêng thì nghiêng, muốn ngửa thì ngửa, đành bó tay chịu chết?".

+ Hành động chị "tất tả vào bếp, xách ra một chiếc chậu thau" định đem bán cho bác phó để kiếm vài hào mua cháo cho bố cho thấy chị luôn nỗ lực tìm kiếm tia hi vọng sống, dù là mong manh nhất, để cứu vãn gia đình.

Câu 5:

− Bi kịch của gia đình ông lão mù là lời cảnh tỉnh đau xót về sức tàn phá khủng khiếp của gánh nặng "cơm áo gạo tiền".

- Qua đó em có suy nghĩ là:

+ Khi bị dồn vào bước đường cùng của sự đói nghèo, con người dễ bị tha hoá, đánh mất niềm tin vào những giá trị tốt đẹp (như anh Cả mất niềm tin vào Giời Phật, pháp luật, sự lương thiện).

+ Cái nghèo không chỉ bào mòn thể xác mà còn đe doạ tước đoạt cả nhân phẩm, lòng tự trọng; buộc người ta phải đứng trước những lựa chọn nghiệt ngã: Giữ lấy lương tâm mà chết đói hay làm liều để tồn tại.


Câu 1: Bài làm

Trong đoạn trích Kim Tiền của Vi Huyền Đắc, nhân vật Trần Thiết Chung hiện lên như một điển hình cho kiểu người bị đồng tiền chi phối đến mức đánh mất nhân cách. Chung là kẻ thực dụng, luôn đặt lợi ích vật chất lên trên mọi giá trị đạo đức và tình nghĩa. Qua lời thoại sắc lạnh, đầy toan tính, hắn bộc lộ rõ bản chất ích kỉ, sẵn sàng lợi dụng người khác để đạt mục đích cá nhân. Ở nhân vật này, đồng tiền không còn là phương tiện phục vụ cuộc sống mà đã trở thành mục đích tối thượng, chi phối suy nghĩ và hành động. Chính vì vậy, Chung dần trở nên vô cảm, coi nhẹ tình thân, thậm chí chà đạp lên những chuẩn mực đạo lí cơ bản. Tuy nhiên, nhân vật không chỉ mang ý nghĩa cá nhân mà còn là hình ảnh phản chiếu một lớp người trong xã hội cũ, nơi giá trị con người bị định đoạt bởi tiền bạc. Thông qua Trần Thiết Chung, tác giả đã phê phán gay gắt lối sống thực dụng, đồng thời gửi gắm lời cảnh tỉnh: khi con người tôn thờ vật chất, họ rất dễ đánh mất chính mình và đẩy các mối quan hệ vào bi kịch.

Câu 2: Bài làm

Trong đời sống con người, giá trị vật chất và giá trị tinh thần luôn tồn tại song hành, bổ sung cho nhau. Tuy nhiên, từ những gì được phản ánh trong Kim Tiền của Vi Huyền Đắc, khi đồng tiền bị tôn thờ quá mức, con người dễ rơi vào bi kịch đánh mất nhân cách. Điều đó đặt ra một vấn đề đáng suy ngẫm: làm thế nào để giữ được sự cân bằng giữa vật chất và tinh thần trong cuộc sống hiện đại.

Chúng ta hiểu giá trị vật chất là nền tảng thiết yếu giúp con người tồn tại và phát triển. Đó là tiền bạc, của cải, điều kiện sống – những yếu tố bảo đảm cho nhu cầu cơ bản như ăn, mặc, ở, học tập, chăm sóc sức khỏe. Không có vật chất, con người khó có thể sống ổn định hay theo đuổi ước mơ. Trong xã hội ngày nay, việc nỗ lực lao động để cải thiện đời sống vật chất là hoàn toàn chính đáng. Tuy nhiên, vật chất chỉ nên là phương tiện chứ không phải mục đích cuối cùng của cuộc đời.

Bên cạnh đó, giá trị tinh thần lại là yếu tố làm nên chiều sâu và ý nghĩa của sự sống. Đó là tình yêu thương, lòng nhân ái, danh dự, niềm tin, ước mơ và những chuẩn mực đạo đức. Chính đời sống tinh thần giúp con người phân biệt đúng – sai, hướng thiện và giữ gìn nhân cách. Một người có thể không giàu có nhưng vẫn cảm thấy hạnh phúc nếu họ có gia đình ấm áp, tâm hồn thanh thản và sống có ý nghĩa. Ngược lại, nếu chỉ có vật chất mà thiếu đi tinh thần, con người dễ rơi vào trạng thái trống rỗng, cô đơn.

Thực tế cho thấy, sự mất cân bằng giữa hai giá trị này đang diễn ra ở không ít người, đặc biệt là giới trẻ. Nhiều người chạy theo đồng tiền, danh vọng, sẵn sàng đánh đổi thời gian, sức khỏe, thậm chí cả đạo đức để đạt được lợi ích cá nhân. Những hiện tượng như tiêu xài hoang phí, sống ảo, đề cao hình thức bề ngoài… là biểu hiện rõ ràng của việc lệch chuẩn giá trị. Ngược lại, cũng có những người quá đề cao đời sống tinh thần mà thiếu thực tế, không chú trọng xây dựng nền tảng vật chất, dẫn đến cuộc sống bấp bênh.

Hậu quả của sự mất cân bằng này là rất nghiêm trọng. Khi con người chỉ chạy theo vật chất, họ dễ đánh mất bản thân, trở nên ích kỉ, vô cảm, các mối quan hệ cũng dần rạn nứt. Còn khi xem nhẹ vật chất, con người có thể rơi vào khó khăn, không đủ điều kiện để duy trì và phát triển những giá trị tinh thần tốt đẹp. Vì vậy, cân bằng giữa hai yếu tố là điều tất yếu để có một cuộc sống hài hòa.

Để đạt được sự cân bằng ấy, mỗi người cần có nhận thức đúng đắn. Trước hết, hãy lao động chân chính để tạo ra của cải, nhưng đồng thời phải biết giới hạn, không để đồng tiền điều khiển cuộc sống. Bên cạnh đó, cần dành thời gian chăm sóc đời sống tinh thần: giữ gìn các mối quan hệ, nuôi dưỡng tâm hồn, sống có trách nhiệm và lý tưởng. Giáo dục gia đình và nhà trường cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành hệ giá trị đúng đắn cho mỗi cá nhân.

Như vậy, vật chất và tinh thần là hai mặt không thể tách rời của cuộc sống. Chỉ khi biết dung hòa chúng một cách hợp lí, con người mới có thể sống đầy đủ, hạnh phúc và ý nghĩa. Bài học từ những bi kịch trong văn học cũng như ngoài đời thực luôn nhắc nhở chúng ta: đừng để đồng tiền trở thành “ông chủ” của cuộc đời, mà hãy biến nó thành công cụ phục vụ cho một cuộc sống giàu giá trị nhân văn.

Câu 1: Văn bản "Kim tiền" thuộc thể loại bi kịch.

Câu 2: Theo ông Cự Lợi, ông Trần Thiết Chung thất bại vì ông quá khinh rẻ đồng tiền, cố chấp và không chịu kiếm tiền.

Câu 3: − Hình ảnh "phân, bẩn, rác" được so sánh với "tiền":

+ Bản chất của chúng "phân, bẩn, rác" là sự ô uế, bẩn thỉu nhưng vẫn là "vật liệu rất quý", là nguồn dưỡng chất thiết yếu để tạo nên những cánh đồng lúa trĩu nặng, nhưng bông hoa thơm ngát.

+ "Tiền" có thể bị coi là thấp kém, đê tiện vì sự vụ lợi nhưng nếu biết dùng đúng cách nó cũng tạo ra những điều tốt đẹp, giúp ích cho đời.

− Qua đó, ông Cự Lợi muốn thuyết phục ông Trần Thiết Chung:

+ Bản chất của đồng tiền không hoàn toàn xấu và tiêu cực như cách ông Trần Thiết Chung đang suy nghĩ, nó phụ thuộc vào cách sử dụng và kiểm soát của mỗi cá nhân.

+ Muốn Trần Thiết Chung hiểu rằng dù việc kiếm tiền có thể vất vả và trần tục nhưng tiền là công cụ cần thiết để nuôi sống bản thân, gia đình và thực hiện những lí tưởng cao đẹp.

Câu 4:− Cuộc trò chuyện giữa ông Cự Lợi và ông Trần Thiết Chung kết thúc trong sự bế tắc và bất đồng quan điểm. Hai bên không ai thuyết phục được ai: "Bác có ý kiến của bác, tôi có ý kiến của tôi". Ông Chung cương quyết giữ lối sống thanh bần còn ông Cự Lợi đành để mặc bạn mình.

− Ý nghĩa của kết thúc này:

+ Phản ánh sự xung đột gay gắt, không thể dung hoà giữa hai hệ tư tưởng trong xã hội giao thời: Một bên là lý tưởng đạo đức nho sĩ (giữ khí tiết, khinh tài lợi) và một bên là lối sống thực dụng (coi trọng sức mạnh của đồng tiền).

+ Làm nổi bật chủ đề của văn bản: Sự lựa chọn giữa tiền và nhân cách con người, mâu thuẫn giữa lí tưởng sống và nhu cầu vật chất của hiện thực đời sống.

+ Gợi suy ngẫm, chiêm nghiệm về những khó khăn khi con người phải giữ đạo đức, lí tưởng và ước mơ trong một xã hội chạy theo lợi ích kinh tế.

Câu 5:

- Em đồng tình với quan điểm của ông Trần Thiết Chung

- Bởi vì:

+ Lòng tham của con người thường không có đáy, khi chúng ta mải mê chạy theo quá nhiều danh vọng và vật chất ("tham muốn nhiều"), ta buộc phải đánh đổi bằng thời gian, sức khoẻ và sự bình yên trong tâm hồn.

+ Khi con người chạy theo tham vọng vật chất quá mức, họ dễ đánh mất sự thanh thản, bị cuốn vào lo toan, tính toán, thậm chí phạm sai lầm để đạt mục đích.

+ Biết sống vừa phải và biết đủ sẽ giúp con người nhẹ nhõm, thanh thản và giữ được các giá trị đạo đức của bản thân.

Câu 1: Bài làm

Đoạn trích Chén thuốc độc của Vũ Đình Long đã khắc họa bi kịch gia đình trong xã hội cũ, nơi những giá trị đạo đức bị lung lay trước lối sống thực dụng. Trung tâm của đoạn trích là xung đột căng thẳng giữa tình thân và danh lợi, được đẩy lên cao trào qua hình ảnh “chén thuốc độc” – một chi tiết giàu ý nghĩa biểu tượng. Đó không chỉ là vật dụng cụ thể mà còn tượng trưng cho sự đầu độc về tinh thần, khi con người vì tiền bạc mà sẵn sàng chà đạp lên tình nghĩa gia đình. Nhân vật trong đoạn trích hiện lên với những giằng xé nội tâm sâu sắc: một bên là lương tri, đạo lí, một bên là cám dỗ vật chất. Qua đối thoại kịch tính, ngôn ngữ giàu sức biểu cảm, tác giả đã phơi bày sự tha hóa của con người trong xã hội đồng tiền, đồng thời bày tỏ niềm xót xa trước sự rạn nứt của các mối quan hệ thiêng liêng. Đoạn trích không chỉ phản ánh hiện thực mà còn mang ý nghĩa cảnh tỉnh: khi con người đánh mất đạo đức, chạy theo lợi ích cá nhân, thì chính họ đang tự “đầu độc” cuộc sống của mình.

Câu 2: Bài làm

Trong đoạn trích Kim Tiền của Vi Huyền Đắc, nhân vật Thông Thu từ chỗ có điều kiện sống đầy đủ đã nhanh chóng rơi vào cảnh khánh kiệt vì thói quen tiêu hoang, “ném tiền qua cửa sổ”. Hình ảnh ấy không chỉ phản ánh một cá nhân mà còn gợi lên thực trạng đáng suy ngẫm trong đời sống hôm nay: một bộ phận giới trẻ đang tiêu xài thiếu kiểm soát, chạy theo vật chất mà quên đi giá trị bền vững.

Chúng ta hiểu rằng tiêu xài thiếu kiểm soát là việc chi tiêu vượt quá khả năng tài chính, không có kế hoạch, dễ bị chi phối bởi cảm xúc và xu hướng. Không khó để bắt gặp những bạn trẻ sẵn sàng chi tiền cho hàng hiệu, công nghệ mới hay những cuộc vui đắt đỏ dù thu nhập chưa ổn định. Thậm chí, nhiều người còn phụ thuộc vào tiền gia đình hoặc vay mượn để duy trì lối sống “hào nhoáng” bên ngoài. Sự phát triển của mạng xã hội càng khiến xu hướng này lan rộng, khi hình ảnh về cuộc sống sang chảnh, tiêu dùng xa xỉ được phô bày và trở thành áp lực vô hình.Nguyên nhân của thực trạng này đến từ nhiều phía. Trước hết là tâm lí thích thể hiện bản thân, muốn khẳng định giá trị qua vật chất. Một số bạn trẻ nhầm lẫn giữa giá trị con người với những gì họ sở hữu. Bên cạnh đó là sự thiếu kĩ năng quản lí tài chính cá nhân, chưa ý thức rõ về giá trị của đồng tiền và công sức lao động. Ngoài ra, sự nuông chiều từ gia đình cũng góp phần khiến một số người hình thành thói quen chi tiêu tùy tiện mà không phải chịu trách nhiệm.

Hậu quả của việc tiêu xài thiếu kiểm soát là rất rõ ràng. Trước hết là nguy cơ rơi vào khó khăn tài chính, nợ nần, thậm chí khủng hoảng khi không còn khả năng chi trả. Về lâu dài, thói quen này còn làm suy giảm ý chí phấn đấu, khiến con người sống lệ thuộc và thiếu trách nhiệm với bản thân. Không chỉ vậy, việc quá coi trọng vật chất còn làm mai một các giá trị tinh thần, khiến con người dễ trở nên thực dụng, ích kỉ và đánh mất những mối quan hệ chân thành.

Tuy nhiên, không phải vì thế mà phủ nhận vai trò của việc hưởng thụ cuộc sống. Vấn đề không nằm ở việc chi tiêu, mà là cách chi tiêu như thế nào. Giới trẻ cần học cách cân bằng: biết kiếm tiền chân chính, chi tiêu hợp lí và tiết kiệm cho tương lai. Việc lập kế hoạch tài chính, phân bổ thu nhập, ưu tiên những nhu cầu thiết yếu là điều cần thiết. Đồng thời, mỗi người cũng cần xây dựng cho mình những giá trị sống đúng đắn, không để bản thân bị cuốn theo những hào nhoáng nhất thời. Nhà trường và gia đình cũng đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng. Giáo dục về kĩ năng sống, đặc biệt là quản lí tài chính cá nhân, cần được quan tâm hơn. Bên cạnh đó, người trẻ nên hiểu rằng giá trị của một con người không nằm ở những gì họ tiêu xài, mà ở nhân cách, tri thức và sự cống hiến.

Từ câu chuyện của Thông Thu, ta nhận ra một bài học sâu sắc: nếu không kiểm soát được bản thân trước cám dỗ vật chất, con người rất dễ đánh mất tất cả. Vì vậy, mỗi người trẻ cần tỉnh táo, sống có trách nhiệm và biết trân trọng giá trị của đồng tiền, để xây dựng một tương lai vững vàng và ý nghĩa hơn.

Câu 1: Văn bản "Chén thuộc độc" thuộc thể loại bi kịch.

Câu 2: Hình thức ngôn ngữ chủ yếu: Độc thoại (nhân vật nói với chính mình để bộc lộ nội tâm).

Câu 3:− Các chỉ dẫn sân khấu trong văn bản:

+ "Bóp trán nghĩ ngợi".

+ "Nâng cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống.".

+ "Lấy dao mở hộp thuốc phiện, rót vào cốc, lấy que khuấy.".

+ "Đứng dậy lấy chai dấm thanh giấu ở dưới gầm tủ, rót vào cốc. Thò tay vào tủ lấy hộp thuốc phiện.".

− Tác dụng của các chỉ dẫn sân khấu:

+ Giúp người đọc hình dung được hành động, cử chỉ và trạng thái cảm xúc cụ thể của nhân vật.

+ Thể hiện xung đột nội tâm, giằng xé gay gắt của Thông Thu (sự do dự giữa sống và chết qua hành động nâng cốc lên rồi lại đặt xuống).

Câu 4: − Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Hai: Tâm lí hối hận và tự sỉ vả. Thông Thu nhận thức được sai lầm của bản thân sau khi tiêu tán gia sản, cảm thấy nhục nhã vì không làm được gì ích quốc lợi dân mà lại làm "nhơ nhuốc" thanh danh gia đình.

− Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Ba: Tâm lí tuyệt vọng và bế tắc. Khi đối mặt với cảnh tù tội, Thông Thu vô cùng sợ hãi. Hắn quyết định tìm đến cái chết để giải thoát ("Thà rằng một thác cho xong!").

− Sự thay đổi: Từ việc hối hận về quá khứ (Hồi II) chuyển sang sự hoảng loạn trước tương lai và đi đến hành động cực đoan (Hồi III). Tuy nhiên, trong sự tuyệt vọng vẫn nhen nhóm chút trách nhiệm muộn màng với gia đình (dừng lại để viết thư cho em trai).

Câu 5:

- Em không đồng tình với quyết định của thầy Thông Thu

- Bởi vì:

+ Tự tử là một hành động trốn chạy hèn nhát trước sai lầm của chính mình thay vì đối mặt để sửa chữa.

+ Cái chết không giải quyết được vấn đề mà đôi khi còn gây ảnh hưởng và liên luỵ đến những người thân xung quanh.

+ Thầy Thông Thu nên chọn cách sống trách nhiệm hơn, lao động để trả nợ và làm lại cuộc đời, như vậy mới thực sự là "thác trong còn hơn sống đục". Cái chết trong sự bế tắc này chỉ là sự kết thúc của một nhân cách bạc nhược.

câu 1

Bài thơ Những bóng người trên sân ga của Nguyễn Bính gây ấn tượng sâu sắc bởi nội dung giàu cảm xúc và nghệ thuật biểu đạt tinh tế. Trước hết, bài thơ khắc họa sinh động những cuộc chia ly diễn ra nơi sân ga – một không gian quen thuộc nhưng thấm đẫm nỗi buồn. Qua hàng loạt hình ảnh: hai cô bé khóc nhau, đôi người yêu nắm tay tiễn biệt, vợ chồng chia tay, bà già tiễn con, người ra đi lẻ loi…, tác giả đã tái hiện nhiều số phận khác nhau nhưng cùng chung một cảm xúc là mất mát và cô đơn. Đặc biệt, hình ảnh “bóng người” mang ý nghĩa ẩn dụ, gợi sự mờ nhòa, nhỏ bé của con người trước dòng đời và những cuộc chia ly không thể tránh khỏi. Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ tự do, giọng điệu trầm buồn, kết hợp với điệp ngữ “Có lần tôi thấy…” tạo nhịp điệu chậm rãi, ám ảnh. Ngôn ngữ giản dị mà giàu sức gợi đã làm nổi bật nỗi buồn nhân sinh sâu lắng. Qua đó, bài thơ thể hiện tấm lòng nhân ái và sự cảm thông sâu sắc của nhà thơ đối với con người.

câu 2

Nhà thơ Mỹ Robert Frost từng viết:

“Trong rừng có nhiều lối đi

Và tôi chọn lối đi chưa có dấu chân người.”

Câu thơ giản dị nhưng hàm chứa một triết lí sâu sắc về sự chủ động lựa chọn lối đi riêng và tinh thần sáng tạo trong cuộc sống. Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi cá nhân trong hành trình khẳng định bản thân.


Cuộc sống luôn đặt con người trước nhiều ngã rẽ. Mỗi con đường tượng trưng cho một lựa chọn: an toàn hay thử thách, quen thuộc hay mới mẻ. Việc chủ động lựa chọn lối đi riêng không có nghĩa là phủ nhận giá trị của những con đường cũ, mà là dám suy nghĩ độc lập, không rập khuôn, không chạy theo đám đông một cách mù quáng. Người biết chọn “lối đi chưa có dấu chân người” là người dám sáng tạo, dám khác biệt và có trách nhiệm với quyết định của chính mình.


Sự chủ động và sáng tạo giúp con người phát huy tối đa năng lực cá nhân. Trong học tập, nếu chỉ học theo lối mòn, học vì điểm số, học theo người khác, chúng ta khó có thể tiến bộ lâu dài. Ngược lại, người biết tự tìm ra phương pháp học phù hợp, dám thử nghiệm cách tiếp cận mới sẽ đạt được hiệu quả cao hơn. Trong công việc và cuộc sống, sáng tạo giúp con người tạo ra giá trị mới, mở ra cơ hội phát triển và khẳng định vị trí của bản thân trong xã hội không ngừng biến đổi.


Thực tế cho thấy, nhiều người thành công là những người dám đi con đường riêng. Thomas Edison từng thất bại hàng nghìn lần trước khi phát minh ra bóng đèn điện; Steve Jobs đã chọn lối đi khác biệt trong tư duy công nghệ và tạo nên những sản phẩm mang tính cách mạng. Chính sự kiên định với con đường riêng và tinh thần sáng tạo đã làm nên dấu ấn của họ. Tuy nhiên, lựa chọn lối đi riêng cũng đòi hỏi bản lĩnh, sự kiên trì và khả năng chấp nhận rủi ro, bởi không phải con đường nào mới mẻ cũng dễ dàng.


Bên cạnh đó, cần phê phán lối sống thụ động, ỷ lại, chạy theo số đông mà không có chính kiến. Những người như vậy dễ đánh mất bản thân, sống mờ nhạt và khó đạt được thành công thực sự. Tuy nhiên, lựa chọn con đường riêng không đồng nghĩa với cố chấp hay phủ nhận hoàn toàn kinh nghiệm của người đi trước, mà cần biết tiếp thu chọn lọc và sáng tạo trên nền tảng đã có.


Tóm lại, thông điệp của Robert Frost nhắc nhở mỗi người hãy sống chủ động, dám lựa chọn và sáng tạo trên con đường của riêng mình. Chỉ khi dám bước đi bằng chính đôi chân và tư duy của mình, con người mới có thể trưởng thành, tạo dấu ấn và sống một cuộc đời có ý nghĩa.


Câu 1:

Thể thơ của văn bản là : Tự do

Câu 2:

Vần và kiểu vần được gieo trong khổ cuối là :


  • Vần: vần “ay” (bay – tay – tay – này)
  • Kiểu vần: vần liền, gieo vần ở cuối dòng

Câu 3: Tác dụng của biện pháp tu tu được sử dung trong suốt bài thơ là :


  • Điệp ngữ (điệp từ “Có lần tôi thấy…”, “Những…”) kết hợp với hình ảnh ẩn dụ “bóng người”.


Tác dụng của biện pháp điệp là :


  • Tạo nhịp điệu trầm buồn, gợi cảm xúc chia ly nối tiếp nhau; khắc sâu nỗi buồn, sự cô đơn, mất mát của con người nơi sân ga – nơi của những cuộc tiễn biệt.


câu 4:


  • Đề tài: Những cuộc chia ly của con người nơi sân ga.
  • Chủ đề: Bài thơ thể hiện nỗi buồn sâu lắng, day dứt trước những cuộc tiễn đưa, qua đó bộc lộ sự cảm thông và tình yêu thương của nhà thơ đối với những phận người cô đơn, nhỏ bé trong cuộc sống.

câu 5


  • Biểu hiện:
    → Bài thơ có yếu tố tự sự thông qua việc kể lại hàng loạt cảnh tiễn biệt cụ thể: hai cô bé khóc nhau, người yêu tiễn nhau, vợ chồng chia tay, bà già tiễn con, người ra đi một mình…
  • Tác dụng:
    → Yếu tố tự sự giúp bài thơ trở nên chân thực, sinh động; làm nền cho cảm xúc trữ tình bộc lộ tự nhiên, sâu sắc, qua đó nhấn mạnh nỗi buồn chia ly và thân phận cô đơn của con người.