TRƯƠNG HOÀNG NGỌC HÀ
Giới thiệu về bản thân
Câu 1: Thể thơ của văn bản là thơ bảy chữ.
Câu 2: - Vần được gieo trong khổ cuối của văn bản là vần “ay”.
- Kiểu vần được gieo trong khổ cuối của văn bản là kiểu vần chân.
Câu 3: - Biện pháp tu từ điệp cấu trúc “Có lần tôi thấy...” đã được sử dụng hiệu quả xuyên suốt bài thơ.
- Việc sử dụng phép điệp cấu trúc giúp:
+ Tăng tính liên kết, tạo nhịp điệu trầm buồn và giọng điệu tiếc nuối, nhẹ nhàng, tha thiết, trầm tư.
+ Khắc hoạ lại những hình ảnh của những cuộc chia li của những hoàn cảnh khác nhau mà nhân vật “tôi” chứng kiến ở trên sân ga.
+ Tô đậm sự tiếc nuối, nỗi buồn của những cuộc chia li trên sân ga.
Câu 4: - Đề tài của bài thơ: Cuộc phân ly.
- Chủ đề của bài thơ: Những cuộc chia li đượm buồn, không muốn xa rời người thân trên sân ga.
- Đây là đề tài, chủ đề gần gũi đã được tác giả khắc hoạ một cách chân thực, sinh động giúp độc giả có thể hình dung ra khung cảnh phân ly xúc động và đượm buồn của những người trên sân ga. Đồng thời cũng thể hiện góc nhìn về một hoàn cảnh thực tế trong đời sống và sự nhìn nhận về những cuộc phân li, không muốn xa rời những người thân thiết.
Câu 5:
Câu 1: Thể loại của văn bản là: truyện ngắn.
Câu 2: Đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy: “Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại...”
Câu 3: -Tình huống truyện của văn bản trên là: Cuộc gặp mặt giữa hai người bạn cũ học cùng phổ thông là anh béo và anh gầy. Ban đầu, cuộc gặp gỡ giữa hai người rất vui mừng, xúc động. Nhưng sau khi anh gầy biết anh béo là người có cấp bậc cao, quan to anh ta tỏ ra khép nép, kính nể, “ giở giọng quan cách”, “ lâng lâng hoan hi” khiến cho anh béo cảm thấy buồn nôn, chán nản và bỏ đi.
- Tình huống truyện thú vị, kết hợp với những biểu cảm, thái độ và cử chỉ của anh gầy tạo nên tính hấp dẫn, hài hước cho câu chuyện.
Câu 4: - Thái độ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo là:
+Trước khi biết cấp bậc của anh béo: Xởi lởi, vui mừng, xúc động khi gặp lại người bạn cũ. Anh gầy vui vẻ giới thiệu gia đình, vợ con, công việc của mình cho bạn nghe một cách thoải mái, tự nhiên và cởi mở.
+ Sau khi biết cấp bậc của anh béo: Mặt anh ta tái lại, ngây ra như phỗng đá, rụt rè, khúm núm, kính cẩn, giở giọng quan cách đối với anh béo.
- Thái độ của anh gầy đã thay đổi nhiều sau khi biết được cấp bậc của anh béo. Anh ta không còn xởi lởi, cởi mở, hân hoan lúc đầu mà trở nên rụt rè, khúm núm khiến anh béo e ngại, chán nản.
Câu 5: Nội dung của văn bản treen là: Cuộc gặp gỡ giữa hai người bạn cũ lâu ngày không gặp. Ngỡ như đây là mối quan hệ thân thiết gần gũi nhưng sau khi anh gầy biết bạn của mình có cấp bậc cao nên đax khúm núm, tỏ ra sợ uy quyền đã khiến cho hai người trở nên xa cách hơn. Qua đó, Sê-khốp muốn lấy hình ảnh nhân vật anh gầy gây tiếng cười trào phúng, châm biếm.
Câu 1: Điểm nhìn của người của người kể chuyển trong văn bản là điểm nhìn bên trong, hạn tri của nhân vật Thứ.
Câu 2: Ước mở của nhân vật Thứ khi ngồi trên ghế nhà trường là:
-“Y sẽ đỗ thành chung, y sẽ đỗ tú tài, y sẽ vào đại học đường, y sang Tây,...”
-“Y sẽ thành một vĩ nhân đem những sự thay đổi lớn lao đến cho xứ sở mình. ”
Câu 3: - Trong đoạn trích trên đã sử dụng hiệu quả phép tu từ ẩn dụ qua “ mốc lên, gỉ đi, mòn, mục đi ở một xó nhà quê”.
- Việc sử dụng phép tu từ ẩn dụ giúp:
+ Tăng sức gợi hình, gợi cảm cho câu văn. Tạo giọng điệu trầm lắng, suy tư cho câu văn.
+ Nhấn mạnh về cuộc sống vô nghĩa, vô vọng, lụi tàn và phai mờ theo năm tháng của những người tri thức nghèo trong xã hội cũ.
+ Tác giả Nam Cao đồng cảm, thấu hiểu, thương xót cho những người tri thức nghèo trong xã hội cũ. Đồng thời là sự phẫn uất, thể hiện sự bất công đối với những con người sẵn sàng chà đạp lên những con người có tài và muốn cống hiến cho xã hội.
Câu 4: - Cuộc sống và con người Thứ được hiện lên trong đoạn trích:
+ Cuộc sống của Thứ: chỉ lo kiếm kế sinh nhai, lo cơm ăn áo mặc không có thời gian, cơ hội để thực hiện những ước mơ của cuộc đời mình, không thể cống hiến tài năng và sức lực của mình cho đời.
+ Con người của Thứ: là người có đầy ước mơ và hoài bão từ khi ngồi trên ghế nhà trường, với ước mơ “ đỗ thành chung, đỗ tú tài, vào đại học đường, đi sang Tây”. Nhưng đời trớ trêu, sau khi ra trường Thứ cảm thấy mình là phế nhân, chưa có đóng góp gì cho đời, chỉ lo kiếm kế sinh nhai, nuôi gia đình.
- Đó là:
+ Cuộc sống khó khăn, bế tắc, chỉ lo quẩn quanh về cơm áo, sinh nhai, lo cho gia đình.
+ Một con người đầy ý chí nghị lực nhưng do xã hội đương thời bất công, sẵn sàng chà đạp lên thân phận con người đã cướp đi một nhân tài.
+ Thứ là người có đời sống nội tâm phong phú, nhận thức sâu về đời sống và bản thân mình.
Câu 5: - Sau khi đọc văn bản em rút ra được triết lí nhân sinh có ý nghĩa là: Chúng ta chỉ sống một lần trên đời nên hãy sống hết mình và năm bắt lấy cơ hội.
- Bởi vì:
+ Khi chúng ta chọn sống hết mình thì đó là cách để chúng ta toả sáng, phát huy được hết tiềm năng của bản thân. Khi biết nắm lấy cơ hội thì chúng ta có thể dễ bước tới thành công và có những đóng góp cho xã hội.
+ Chúng ta bày tỏ cảm xúc thấu hiểu, đồng cảm với những số phận của người tri thức nghèo trong xã hội cũ. Đồng thời phê phán xã hội đương thời bất công đã cướp đi sự sống, cơ hội phát triển của con người.
+ Chúng ta cần rèn luyện tính kiên trì, mạnh mẽ, sống hết mình và cần biết nắm lấy cơ hội để khoong sống hoài, sống phí.
Câu 1:
Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã từng chia sẻ: “Nhà văn phải là người đi tìm những hạt ngọc ẩn giấy trong bề sâu tâm hồn con người ”. Và văn chương sẽ giúp con người đi tìm ra “ những hạt ngọc” quý đó. Những viên ngọc đó sẽ giúp con người hiểu về tâm hồn và hoàn cảnh của một thời. Truyện ngắn “ Sao sáng lấp lánh” của nhà văn Nguyễn Thị Ấm đã giúp ta hiểu thêm về hoàn cảnh và khao khát về tình yêu mãnh liệt của những người lính khi phải sống trong sự tàn khốc của bom đạn. Tác giả sử dụng ngôi kể thứ nhất nhằm tạo sự chân thực, gần gũi hơn đối với bạn đọc. Điểm nhìn hạn tri, mang màu sắc cá nhân, chủ quan. Điểm nhìn kết hợp linh hoạt giữa lời nhân vật và lời người kể chuyện. Nhân vật Minh được sáng tạo nhằm nhấn mạnh sự khốc liệt của chiến tranh, nhấn mạnh và thể hiện bức thư từ túi áo ngực và nhờ đồng đội của mình hãy bỏ vào thùng thư sau ngày hoà bình được lập lại. Chi tiết này càng nhấn mạnh nỗi đau, sự hy sinh mất mát của người lính trước sự tàn phá của chiến tranh. Tình huống truyện độc đáo, sinh động, bất ngờ, gây hứng thú cho bạn đọc. Nghệ thuật ngôn ngữ đối thoại, trực tiếp và nửa trực tiếp, sử dụng các câu văn ngắn cùng với bút pháp hiện thực lời kể và biểu cảm sinh động đã giúp tái hiện lại một thời khốc liệt. Giọng điệu trầm tư, sâu lắng, buồn thương, đòng cảm và ngôn ngữ giản dị, giàu sức gợi đã giúp nhà văn khai thác về nỗi đau, những khao khát và góc khuất trong tâm hồn của Minh và khai thác về vẻ đẹp của nhân vật. Tác giả muốn gửi đến bạn đọc thông điệp hãy trân trọng và biết ơn trước sự hy sinh của những người lính. Bởi họ đánh đổi tuổi trẻ, hạnh phúc của mình, tính mạng để đổi lấy nền hoà binhf. Qua đó, tác giả Nguyễn Thị Ấm đã tạo ra tác phẩm hay và ý nghĩa, mang nhiều nét đặc sắc nghệ thuật gửi tới bạn đọc.
Câu 2:
Khi sống trong một xã hội đầy biến động, con người chỉ mong muốn mình đạt được địa vị, danh lợi cao về vật chất và tinh thần. Đôi khi, những khát khao đó đã khiến họ mất niềm tin vào cuộc sống, mất động lực để tiếp tục và không tìm được cho mình một điểm tựa vững chãi. Qua đó, ta lại càng thấy được tầm quan trọng của điểm tựa tinh thần trong cuộc sống. Đặc biệt là đối với thế hệ trẻ hiện nay.
Điểm tựa tinh thần là những giá trị về mặt tinh thần, cảm xúc tích cực mà mỗi người dựa vào đó để lấy động lực, giữ vững niềm tin và định hướng hành động. Nó có thể là tình yêu thương gia đình, lời dạy của thầy cô, tấm gương người đi trước, một lý tưởng cao đẹp, hoặc đơn giản là niềm tin tôn giáo, ước mơ nghề nghiệp. Điểm tuawj không phải là vật chất hữu hình mà là sức mạnh nội tâm, là nguồn năng lượng giúp con người đứng dậy sau thất bại và tiếp tục tiến bước.
Biểu hiện của điểm tựa tinh thần rất đa dạng. Điểm tựa xuất hiện trong hành động. Nó có thể là một cái ôm ấm áp, một câu nói động viên, mootj tấm ảnh kỷ niệm, một bài hát nâng đỡ tâm hồn tất cả đều có khả năng tiếp thêm nghị lực cho con người vào những lúc khó khăn. Điểm tựa tinh thần có vai trò then chốt trong đời sống cá nhân và cộng đồng. Nó là chỗ dựa vững chắc, tiếp thêm sức mạnh,sự tự tin, lòng quyết tâm để ta vững bước trước sóng gió. Như nhà bác học Archimedes từng nói: “Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nâng trái đất này lên.” Câu nói ấy nói lên sức mạnh của điểm tựa: chỉ cần một niềm tin, một lý tưởng, con người có thể làm nên điều phi thường. Điểm tựa là “phương thuốc” xoa diuj tâm hồn sau những tháng ngày vất vả, giúp cân bằng cảm xúc và khôi phục năng lượng sống. Khi có điểm tựa, ta bớt cô đơn, bớt hoang mang và tìm thấy ý nghĩa cho những đau thương, mất mát.
Trong đại dịch COVID-19, những cây “ATM gạo”, bếp ăn thiện nguyện xuất hiện khắp nơi.Hàng trăm nghìn người đã hợp lực để trở thành điểm tựa để những người yếu thế vượt qua khó khăn. Như vậy, dù cuộc sống có khó khăn, khắc nghiệt đến đâu chúng ta cũng vẫn có những người xung quanh giúp đỡ, là động lực để chúng ta bước tiếp.
Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa điểm tựa và thói quen phụ thuộc. Điểm tựa khích lệ con người phát huy nội lực, còn thói quen phụ thuộc khiến người ta ỷ lại, maats ddi khả năng tự lập. Nhiều bạn trẻ vì quá dựa dẫm vào sự che chở của người thân mà quên rèn luyện tính tự chủ; họ nhận sự giúp đỡ như một lối sống chứ không phải là động lực để tự vươn lên. Do đó, xây dựng điểm tựa tinh thần cần đi đôi với rèn luyện trách nhiệm, ý chí và năng lực tự giải quyết vấn đề.
Là học sinh, chúng ta có thể tìm điểm tựa nơi gia đình, thầy cô, những ước mơ nghề nghiệp và niềm tin vào giá trị bản thân. Tuy nhiên, cần sử dụng điểm tựa đó như nguồn động viên để cố gắng học tập, rèn luyện kỹ năng, không để mình sa vào sự ỷ lại. Hãy biến tình yêu thương và niềm tin thành hành động cụ thể: kế hoạch học tập, nỗ lực mỗi ngày, và biết đương đầu với thử thách.
Điểm tựa tinh thần là yếu tố quan trọng, góp phần kiến tạo sức mạnh nội tâm và ý nghĩa cuộc sống. Nhưng điểm tựa chỉ có giá trị khi đi cùng với tinh thần tự lực và trách nhiệm cá nhân. Hãy biết tìm kiếm, gìn giữ và nhân lên những điểm tựa tích cực, đồng thời rèn luyện bản thân để mỗi điểm tựa trở thành bàn đạp đưa ta tới những chân trời mới.
Câu 1: Thể loại của văn bản là truyện ngắn.
Câu 2: -Trong câu văn trên đã sử hiệu quả dấu ba chấm: “những người lính chúng tôi cứ nhìn những ngôi sao lấp lánh trên bầu trời… mà không sao ngủ được”.
- Việc sử dụng dấu ba chấm trong câu văn giúp:
+ Diễn tả sự liệt kê chưa đầy đủ.
+ Tạo hiệu ứng về cảm xúc xao xuyến, mơ mộng và mong ước về tình yêu hạnh phúc khi nghe câu chuyện tình yêu Minh kể.
+ Lời nói ngập ngừng ngắt quãng.
Câu 3: - Tình huống của truyện: Minh là lính mới trong tiểu đội trinh sát. Trong một đêm mưa rừng, Minh kể cho đồng đội nghe câu chuyện tình yêu lãng mạn của mình với cô người yêu tên Hạnh. Thật không may, khi đi trinh sát cảng Cửa Việt anh đã hi sinh tại đây. Khi người đồng đội hỏi anh có muốn gửi điều gì về cho Hạnh không, Minh đã nói đó chính là câu chuyện tình do anh tưởng tượng ra và đưa cho người đồng đội một lá thư và nhờ sau ngày hoà bình bỏ vào thùng thư đặc biệt mà anh gửi cho Hạnh.
- Đó là:
+ Tình huống truyện độc đáo, bất ngờ, tạo nên sự kịch tính, hấp dẫn cho truyện.
+ Nhấn mạnh hình ảnh người lính trẻ với khát khao tình yêu mãnh liệt và những góc khuất trong tâm hồn của họ.
+ Qua đó, tác giả thể hiện sự xót thương, đồng cảm, thấu hiểu cho hoàn cảnh của họ. Đồng thời, lên án và phê phán chiến tranh phi nghĩa.
Câu 4: - ” Sao sáng lấp lánh” là biểu tượng của hi vọng giữa những tàn khốc ác liệt của chiến tranh, biểu tượng tâm hồn của người lính. Nhan đề “ Sao sáng lấp lánh” được đặt từ ấn tượng về Hạnh là người yêu mà Minh tưởng tượng. Một cô gái xinh đẹp với đôi mắt sáng như vì sao lấp lánh.
- Nhan đề ấy đã gợi trong em suy nghĩ về tâm hồn của những người lính. Khi phải sống giữa chiến trường ác liệt, họ có khao khát về tình yêu mạnh liệt, hạnh phúc để xua tan đi những đau buồn mà chiến tranh đã gây ra. Họ muốn quên đi những kí ức đau buồn và hi vọng về một ngày mai tươi sáng, một ngày mai hoà bình để có thể đoàn tụ. Qua đó, chúng ta bày tỏ niềm cảm thương, thấu hiểu, xót xa trước hoàn cảnh của họ.
Câu 5: - Trong văn bản, hình ảnh người lính được hiện lên:
+ Là người lính trẻ tuổi mang trong mình đầy ước mơ và lý tưởng đầy hoài bão, khát khao về tình yêu hạnh phúc.
+ Khi nghe câu chuyện tình yêu tưởng tượng mà Minh kể, mọi người đều xao xuyến, mơ mộng.
+ Sự tàn khốc của chiến tranh đã cướp đi sự sống, ước mơ và cả những khao khát về tình yêu của họ.
+ Tình đồng đội của họ gắn bó đoàn kết.
- Qua hình tượng người lính đã gợi trong em suy nghĩ:
+ Chiến tranh phi nghĩa đã cướp đi tuổi trẻ của người lính. Chính sự tàn khốc ấy đã cướp đi những ước mơ và khao khát về một cuộc sống, một tình yêu đẹp của họ.
+ Nội dung ấy đã gợi lên trong chúng ta cảm xúc đồng cảm, thấu hiểu, sẻ chia, băn khoăn .
Câu 1: Thể thơ của văn bản trên là thơ lục bát.
Câu 2: Đoạn trích trên kể về sự việc Thúc Sinh từ biệt Thuý Kiều về thăm Hoạn Thư.
Câu 3: -Trong hai dòng thơ trên đã sử dụng hiệu quả phép đối qua “Người về”- “Kẻ đi” và “ chiếc bóng năm canh”- “một mình xa xôi”.
- Việc sử dụng phép đối giữa hai dòng thơ giúp:
+ Tạo sự cân xứng, hài hoà giữa hai dòng thơ. Tăng tính sinh động cho dòng thơ.
+ Nhấn mạnh sự chia xa giữa Thúc Sinh và Thuý Kiều.
+ Qua đó, tác giả thể hiện sự thấu hiểu, xót thương trước sự chia xa của đôi lứa. Đồng thời thể hiện tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du.
Câu 4: Cảm hứng chủ đạo của văn bản là: Nguyễn Du thể hiện sự xót thương, đồng cảm trước sự chia xa của đôi lứa “đèo bòng”, mong manh, nhiều sóng gió. Đồng thời là sự cảm thông sâu sắc của tác giả trước số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, là tiếng nói đồng cảm với những khát vọng chân chính của con người về sự hạnh phúc, tình yêu, khát vọng sống tự do.
Câu 5: -Nhan đề của bài thơ: “ Từ biệt”
- Em đặt nhan đề như vậy là vì:
+ Đây là lời từ biệt chia xa của Thúc Sinh và Thuý Kiều.
+ Nhan đề ấy có thể gợi trong chúng ta cảm xúc đồng cảm, xót thương, băn khoăn trước sự chia xa của Thúc Sinh và Thuý Kiều trong đêm trăng đẹp.
+ Qua đó, thể hiện khát vọng về một cuộc sống hạnh phúc, tình yêu, khát khao tự do của con người trong xã hội cũ. Đồng thể thể hiện tấm lòng nhân đạo bao la, sâu sắc.
Vì chiều dài hơn chiều rộng 13m nên số đo chiều dài là: 13+28=41
Chu vi sân trường em là: (dài + rộng) x2= (13+41)x2=108