VŨ AN AN
Giới thiệu về bản thân
Chế độ thực dân đã để lại những tác động sâu sắc và toàn diện đến các nước Đông Nam Á, bao gồm Việt Nam, trên các lĩnh vực chính trị, xã hội và văn hoá, với cả hai mặt tiêu cực và tích cực.
Quá trình xâm lược của thực dân phương Tây đối với các quốc gia Đông Nam Á hải đảo diễn ra qua nhiều giai đoạn, bắt đầu từ khoảng thế kỉ XVI đến đầu thế kỉ XXI , với các nước thực dân chính là Tây Ban Nha , Hà Lan, Anh và Mĩ.
Câu 1:
Hình tượng “li khách” trong bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm hiện lên với vẻ đẹp vừa bi tráng vừa cô đơn. Đó là người ra đi mang theo chí lớn, “chí nhớn chưa về bàn tay không” – khát vọng lập công, làm nên sự nghiệp khiến người trai phải dứt áo rời quê hương. Tuy nhiên, ẩn sau vẻ cứng cỏi ấy là nỗi buồn sâu thẳm của một con người đang tự tách mình khỏi vòng tay gia đình. “Li khách! Li khách!” – tiếng gọi như nghẹn lại, thể hiện sự lưu luyến khôn nguôi. Người ra đi chấp nhận hi sinh tình cảm riêng tư để theo đuổi lý tưởng, để lại phía sau mẹ già, chị, em với bao thương nhớ. Hình tượng ấy không chỉ gợi cảm xúc xót xa mà còn khắc họa vẻ đẹp của con người sống có hoài bão, dám bước đi dù biết con đường phía trước đầy gian nan. “Li khách” vì thế trở thành biểu tượng cho lớp thanh niên mang trong mình khát vọng lớn lao nhưng cũng chất chứa nỗi cô đơn của sự chia lìa.
Câu 2:
Trong hành trình trưởng thành của mỗi con người, có một thời điểm ta buộc phải tự mình bước đi. Sự tự lập vì thế trở thành một phẩm chất quan trọng, đặc biệt đối với tuổi trẻ – lứa tuổi đang định hình nhân cách và tương lai.
Tự lập là khả năng tự suy nghĩ, tự quyết định và chịu trách nhiệm về hành động của mình mà không phụ thuộc, ỷ lại vào người khác. Với tuổi trẻ, tự lập trước hết giúp mỗi người trưởng thành về nhận thức. Khi tự mình giải quyết vấn đề, ta học được cách phân tích, lựa chọn và chấp nhận cả thành công lẫn thất bại. Chính những va vấp ấy tạo nên bản lĩnh – điều không thể có nếu ta luôn được bao bọc.
Bên cạnh đó, tự lập giúp người trẻ xác định rõ mục tiêu và con đường của riêng mình. Mỗi người có một ước mơ, một khả năng khác nhau; chỉ khi tự bước đi, ta mới khám phá được giới hạn và tiềm năng của bản thân. Một học sinh tự giác học tập, chủ động tìm tòi kiến thức sẽ tiến bộ nhanh hơn nhiều so với người chỉ học vì sự nhắc nhở. Trong xã hội hiện đại, nơi cơ hội và thách thức song hành, tinh thần tự lập còn là chìa khóa để thích nghi và phát triển.
Tự lập cũng rèn luyện tinh thần trách nhiệm. Khi hiểu rằng mọi lựa chọn đều do mình quyết định, ta sẽ cân nhắc kỹ lưỡng hơn và sống có trách nhiệm với gia đình, xã hội. Một người trẻ tự lập không đổ lỗi cho hoàn cảnh mà biết nỗ lực thay đổi bản thân. Điều đó tạo nên sự tin cậy và tôn trọng từ người khác.
Tuy nhiên, tự lập không có nghĩa là tách biệt hay từ chối sự giúp đỡ. Tuổi trẻ cần học cách lắng nghe lời khuyên của cha mẹ, thầy cô, nhưng quyết định cuối cùng phải dựa trên suy nghĩ chín chắn của bản thân. Sự cân bằng giữa tự chủ và tiếp thu sẽ giúp người trẻ phát triển toàn diện.
Thần đồng Đỗ Nhật Nam chàng trai tài năng, niềm tự hào của Việt Nam bắt đầu cuộc sống tự lập ở Mĩ từ lúc 13 tuổi, luôn phấn đấu cố gắng không ngừng để đạt được những thành tích, bằng khen đáng khích lệ. Hay đôi khi chỉ đơn giản như việc ta cố gắng nghĩ cách giải của một bài toán khó, giúp đỡ cha mẹ những công việc vặt trong gia đình: quét nhà, chăm sóc em… Dù cho đó chỉ là những việc nhỏ nhặt nhưng đã bước đầu hình thành trong ta tính tự lập.
Bên cạnh những người trẻ sống tự lập, vẫn còn không ít bạn có lối sống ỷ lại, phụ thuộc vào gia đình. Nhiều bạn quen được cha mẹ bao bọc từ nhỏ nên thiếu kỹ năng tự chăm sóc bản thân, thiếu khả năng tự quyết định và ngại đối mặt với khó khăn. Có người chỉ biết dựa dẫm vào điều kiện sẵn có mà không chịu cố gắng, dễ nản chí khi gặp thất bại. Lối sống ấy khiến con người trở nên thụ động, thiếu bản lĩnh và khó thích nghi với môi trường xã hội đầy cạnh tranh. Nguy hiểm hơn, sự ỷ lại lâu dài có thể làm mất đi ý chí phấn đấu, khiến tuổi trẻ trôi qua trong sự mờ nhạt, không mục tiêu. Vì vậy, mỗi bạn trẻ cần nhìn lại bản thân, rèn luyện tính tự lập từ những việc nhỏ nhất để không đánh mất cơ hội trưởng thành và khẳng định giá trị của mình.
Có thể nói, tự lập là nền tảng để tuổi trẻ vững vàng bước vào đời. Đó không chỉ là kỹ năng sống mà còn là biểu hiện của lòng dũng cảm và khát vọng khẳng định bản thân. Khi dám tự mình bước đi, tuổi trẻ sẽ trưởng thành hơn, mạnh mẽ hơn và sẵn sàng đối mặt với những thử thách phía trước.
Câu 1:
Bài thơ “Những giọt lệ” của Hàn Mặc Tử thể hiện nỗi đau đớn, tuyệt vọng của nhân vật trữ tình trước sự chia lìa trong tình yêu. Ngay từ những câu thơ đầu, tác giả đã sử dụng hàng loạt câu hỏi tu từ như “Bao giờ tôi chết đi?”, “Bao giờ tôi hết được yêu vì?” để bộc lộ tâm trạng giằng xé, đau khổ đến tột cùng. Khi người yêu rời xa, nhân vật trữ tình cảm thấy “một nửa hồn tôi mất”, hình ảnh mang tính tượng trưng cho sự mất mát lớn lao về tinh thần. Khổ thơ cuối tiếp tục dồn dập những câu hỏi, thể hiện sự hoang mang, cô đơn và cảm giác bị bỏ rơi giữa cuộc đời. Giọng thơ tha thiết mà đầy ám ảnh, giàu tính biểu cảm. Qua đó, Hàn Mặc Tử cho thấy một tâm hồn nhạy cảm, yêu mãnh liệt nhưng cũng đau đớn, tuyệt vọng sâu sắc khi tình yêu tan vỡ.
Câu 2:
Xung quanh chúng ta, có biết bao nhiêu người đã vượt lên số phận, chiến thắng hoàn cảnh khắc nghiệt để vươn đến điều tốt đẹp nhất. Đó thực sự là tấm gương để mỗi người học tập, rèn luyện. Cũng vì thế mà nghị lực sống luôn được coi trọng và phát huy không ngừng nghỉ.
Nghị lực sống của con người trước hết là bản lĩnh, sự cố gắng, sự kiên cường để vượt lên tất cả những khó khăn và thử thách. Để có được nghị lực phi thường đó thì bắt buộc con người đó phải chịu quá nhiều gian khổ.
Trong cuộc sống, chúng ta vẫn bắt gặp không ít người, không ít số phận có được nghị lực vươn lên như vậy. Hình ảnh cậu bé tàn tật vẫn lê la xung quanh khu chợ mỗi buổi chiều tà, ánh mắt cậu buồn rười rượi để bán vé số. Những bước đi nặng nề ấy giữa tiết trời nắng chang chang và tiếng rao vé số như xé lòng.
Dù đói nghèo, dù tàn tật nhưng cậu vẫn cố gắng để nuôi sống bản thân, để có thể không phải ngửa tay xin người khác. Một cuộc đời tàn nhưng không phế khiến mọi người rơi nước mắt. Chính nghị lực, sự nỗ lực đã khiến cậu bé vượt lên chính mình, trước kết là vượt lên sự kì thị của mọi người và lòng tự ti của bản thân mình.
Nghị lực sống của con người còn được biểu hiện rất đơn giản, thường xuyên trong cuộc sống, và nó tồn tại ở trong chính con người bạn. Con đường đại học gian nan, với nhiều thử thách ở phía trước. Bạn muốn chạm vào cánh cổng đại học, nơi bạn có thể thực hiện ước mơ của mình. Bạn phải cố gắng, phải kiên cường, phải tìm tòi. Nếu không có nghị lực thì liệu rằng bạn có thể đạt được ước mơ đó không. Khi đã có nghị lực trong con người mình thì bạn sẽ thấy mình trưởng thành hơn, học tập được nhiều điều.
Những người có nghị lực là những người có thể tự đứng lên bằng chính đôi chân, bằng sức lực của bản thân, không dựa dẫm, ỉ lại vào bất kỳ ai. Đây không phải là điều mà ai cũng có thể làm được. Nghị lực sẽ giúp bạn có thể tự tin đương đầu với thử thách, sóng gió, kể cả nỗi bất hạnh và mất mát bạn cũng có thể chịu đựng được. Là bởi vì bạn đã được rèn giũa, tôi luyện hằng hằng bằng chính nghị lực của bản thân.
Chàng tiền đạo Xứ Nghệ tài năng của tuyển Việt Nam lại có một tuổi thơ tương đối cơ cực.Và nghị lực sống mà chàng trai này sở hữu cũng không phải là nhỏ bé.Từng bị đánh trượt tại lò đào tạo Sông Lam Nghệ An.Sau đó với nghị lực Phượng không hề bỏ cuộc mà tiếp tục theo đuổi đam mê.Sau đó bố mẹ Phượng vì thương con nên đã bán ‘’non’’ lợn,bò,thóc lúa gom tiền cho Phượng thi tuyển tại Hoàng Anh Gia Lai,tại đây tài năng của anh mới được phát hiện và nuôi dưỡng.Tiếp sau đó scandal lại tiếp tục bám lấy chàng tiền đạo,từ chuyện tình cảm,đến bóng đá khi nghi vẫn khai gian tuổi bị báo chí lên án.Thế nhưng những gì chúng ta thấy sau mỗi lần,lại là một Công Phượng mạnh mẽ và tài năng hơn bao giờ hết. Đó là tấm gương sáng về ý chí, nghị lực trong cuộc sống.
Tuy nhiên, bên cạnh những người biết vươn lên, có nghị lực thì có một số người có lối sống ỷ lại, dựa dẫm, không có tinh thần phấn đấu, ý chí tiến thủ. Điều này thật nguy hại khi chính bản thân họ đang tự đưa mình vào ngõ cụt. Không cố gắng, không có chí tiến thủ, không biết tự hoàn thiện mình thì chắc chắn sẽ chỉ mãi mãi là người đi sau. Xã hội cần những con người có ý chí và nghị lực chứ không cần những kẻ có bằng cấp nhưng thiếu thực lực.
Mỗi chúng ta hiện nay đang là học sinh, đang ngồi trên ghế nhà trường thì nghị lực là điều vô cùng quan trọng. Rèn luyện đức tính này thì bạn sẽ là người có một bước đệm chạm vào tương lai rất dễ dàng.
Câu 1: Thể loại của văn bản: Truyện ngắn
Câu 2: Đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy:“ Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt… cả mấy thứ vali, hộp, túi của anh ta như cũng có rúm lại, nhăn nhó… Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại…”
Câu 3: Tình huống truyện của văn bản trên là: Cuộc gặp gỡ giữa hai người bạn học cũ vốn dĩ vui mừng nhưng sau khi biết được cấp bậc của người bạn cũ, anh gầy liền tỏ ra sợ hãi, khép nép và khiến cho người bạn cảm thấy xa cách, chán nản.
Câu 4: -Thái độ của anh gầy đối với anh béo trước khi biết được cấp bậc của anh béo: Vui vẻ, xởi lởi giới thiệu về gia đình công việc và cuộc sống của bản thân.
- Thái độ của anh gầy đối với anh béo sau khi biết được cấp bậc của anh béo : Bất ngờ, rúm ró, khúm núm, khép nép, hành động khuôn phép, xoá đi sự thân mật gần gũi ban đầu khiến cho người bạn cảm thấy e ngại, chán nản.
Câu 5: Nội dung của văn bản: Kể về cuộc gặp gỡ tình cờ của hai người bạn cũ trong đó anh gầy bộc lộ sự thay đổi đáng buồn trước anh béo khi thấy quyền lực, trở nên nịnh bợ, xa cách và đánh mất nhân phẩm, phơi bày thực trạng chênh lệch giàu nghèo và sự biến chất của con người khi có tiền bạc,địa vị
Câu 1: Thể thơ của văn bản: Thơ bảy chữ.
Câu 2: - Vần được gieo : Vần “ay” trong “bay-tay” -“này”.
-Kiểu vần được gieo: Các vần này đều thuộc kiểu vần chân ,bên cạnh đó “bay-tay” còn thuộc kiểu vần liền, “tay”- “này” thuộc kiểu vần cách.
Câu 3: - Biện pháp tu từ được sử dụng xuyên suốt bài thơ là : Điệp ngữ “ Có lần tôi thấy…” , “ Những …”.
-Tác dụng của biện pháp điệp ngữ được sử dụng trong văn bản là:
+ Tăng tính liên kết và tạo giọng điệu cho văn bản.
+ Nhấn mạnh sự lập lại của những cuộc chia ly.
+ Qua đó ,tác giả bộc lộ nỗi buồn sâu lắng, xót xa và cảm thương trước những cuộc chia ly của con người nơi sân ga.
Câu 4: - Đề tài của bài thơ: Những cuộc chia ly.
-Chủ đề của bài thơ: Nỗi buồn của những cuộc chia ly.
Câu 5:
-Biểu hiện của yếu tố tự sự trong bài thơ:
+ Nhân vật trữ tình xưng “tôi” đóng vai trò như một nhân chứng trực tiếp quan sát và kể lại những điều tận mắt thấy ở sân ga.
+ Nhân vật trữ tình kể lại những cuộc trên sân ga.Mỗi cuộc chia ly giống như một lát cắt của một cuốn phim.
+ Trong những cuộc chia ly, có những cảnh có nhân vật, hành động cụ thể, có cảnh có cả lời thoại trực tiếp: “ -Mình về nuôi lấy mẹ, mình ơi!” .
-Tác dụng của yếu tố ấy trong việc thể hiện cảm xúc, tư tưởng của bài thơ là:
+ Tăng tính chân thực, cảm xúc cho bài thơ.
+ Bài thơ không chỉ bộc lộ cảm xúc mà còn trở thành một tấm gương, một thước phim tái hiện lại khung cảnh buồn của những cuộc chia ly ở sân ga.
+ Yếu tố tự sự giúp người đọc như được tận mắt chứng kiến, trực tiếp lắng nghe những cuộc chia ly ấy, qua đó giúp người đọc đồng cảm hơn.
Câu 1:
Nhân vật Thứ trong đoạn trích thể hiện rõ sự tự ti, yếu đuối và phức tạp trong tâm lý con người khi phải đối mặt với cuộc sống khó khăn. Dù là người có học thức, Thứ lại luôn cảm thấy bất an, thiếu tự tin và không tìm thấy hướng đi cho bản thân. Câu chuyện của Thứ là hình ảnh của những con người đứng giữa sự lựa chọn, họ không dám mạo hiểm theo đuổi ước mơ hay khát vọng, vì sợ thất bại và thiếu niềm tin vào khả năng của mình. Thứ không thể hiện sự quyết tâm hay dám đối mặt với thử thách, mà chỉ biết tìm cách trốn tránh trách nhiệm. Những cảm xúc của Thứ khiến người đọc cảm nhận được sự phức tạp và khắc nghiệt của cuộc sống, khi con người phải đối diện với sự lựa chọn và những thất bại. Qua đó, nhân vật Thứ trở thành một biểu tượng của những tâm hồn yếu đuối, thiếu nghị lực, nhưng cũng rất đáng thương và đáng cảm thông.
Câu 2:
Trong cuộc sống của mỗi con người, tuổi trẻ luôn là giai đoạn quan trọng nhất, giai đoạn quyết định đến tương lai, đến những hoài bão và ước mơ. Gabriel Garcia Marquez đã từng nói: “Không phải người ta ngừng theo đuổi ước mơ vì họ già đi mà họ già đi vì ngừng theo đuổi ước mơ.” Câu nói này nhấn mạnh rằng tuổi trẻ không chỉ là khoảng thời gian của sức khỏe, sự nhiệt huyết mà còn là thời điểm quan trọng để theo đuổi ước mơ và khát vọng.
Tuổi trẻ là thời gian đẹp nhất trong cuộc đời mỗi con người, nơi mà những ước mơ chưa bị vùi dập bởi những lo toan cơm áo gạo tiền, những thất bại hay sự mỏi mệt. Mỗi người trẻ đều mang trong mình những ước mơ lớn lao, những hoài bão chưa hoàn thành. Chính ước mơ đó thúc đẩy họ vượt qua khó khăn, thử thách, đồng thời giúp họ kiên trì và không bao giờ bỏ cuộc. Mơ ước là nguồn năng lượng mạnh mẽ giúp con người tìm thấy mục đích sống và làm việc không ngừng nghỉ.
Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, nhiều người trẻ dễ dàng bị cuốn vào những giá trị vật chất, sự an phận và bỏ quên ước mơ của mình. Họ sợ thất bại, sợ rủi ro, và đôi khi là sự lo lắng về tương lai. Chính vì thế, có những người khi già đi, không còn động lực, không còn nhiệt huyết như khi họ còn trẻ. Họ mất đi những ước mơ lớn lao và trở nên già cỗi trong tâm hồn dù cơ thể vẫn còn khỏe mạnh.
Ước mơ là ngọn lửa giúp người ta sống, giúp họ không ngừng vươn lên. Tuy nhiên, để duy trì ngọn lửa đó, mỗi người trẻ cần phải luôn kiên định với mục tiêu, luôn kiên trì theo đuổi ước mơ của mình bất chấp mọi khó khăn. Đừng để cuộc sống này đánh bại ước mơ của chúng ta, đừng để chúng ta đánh mất đi những khát vọng vì sợ thất bại hay vì đã quá mệt mỏi.
Vì vậy, tuổi trẻ chính là thời điểm để ta theo đuổi ước mơ, để ta tạo dựng tương lai của chính mình. Hãy sống hết mình và đừng bao giờ từ bỏ ước mơ của mình, bởi vì đó chính là nguồn sức mạnh giúp chúng ta vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống.