PHẠM KHÔI NGUYÊN
Giới thiệu về bản thân
♦ Ảnh hưởng của chế độ thực dân với các thuộc địa Đông Nam Á
- Ảnh hưởng tích cực: Sau hơn bốn thế kỉ thống trị, thực dân phương Tây đã tạo ra một số thay đổi ở khu vực Đông Nam Á như:
+ Gắn kết khu vực với thị trường thế giới;
+ Du nhập nền sản xuất công nghiệp, xây dựng một số cơ sở hạ tầng,…
+ Thúc đẩy phát triển một số yếu tố về văn hóa như chữ viết, tôn giáo, giáo dục....
- Ảnh hưởng tiêu cực: chế độ thực dân đã để lại hậu quả nặng nề đối với các quốc gia Đông Nam Á.
+ Về chính trị - xã hội: chính sách “chia để trị" của thực dân phương Tây là một trong những nguyên nhân dẫn tới xung đột sắc tộc, tôn giáo, vùng miền gay gắt ở các quốc gia Đông Nam Á, đồng thời gây ra nhiều tranh chấp biên giới, lãnh thổ giữa các quốc gia trong khu vực.
+ Về kinh tế: chế độ thực dân để lại một hệ thống cơ sở hạ tầng nghèo nàn, lạc hậu. Phần lớn các nước trong khu vực bị biến thành nơi cung cấp nguyên liệu và thị trường tiêu thụ hàng hóa của phương Tây.
+ Về văn hóa: thực dân phương Tây áp đặt nền văn hóa nô dịch, thi hành chính sách ngu dân và hạn chế hoạt động giáo dục đối với nhân dân các nước thuộc địa.
♦ Liên hệ Việt Nam: Ở Việt Nam, hơn 80 năm cai trị của thực dân Pháp đã để lại những hậu quả nặng nề trên mọi lĩnh vực. Ví dụ như:
- Về chính trị:
+ Từ một quốc gia thống nhất, dưới sự thống trị của thực dân Pháp, Việt Nam bị chia thành 3 xứ với 3 chế độ khác nhau: Bắc Kì là xứ bảo hộ; Trung Kỳ là xứ nửa bảo hộ; Nam Kỳ là xứ thuộc địa. Tên nước Việt Nam bị xóa trên bản đồ chính trị thế giới.
+ Thực dân Pháp cũng lập ra nhiều xứ tự trị, làm phức tạp các mối quan hệ vùng miền, tôn giáo, tộc người.
- Về kinh tế:
+ Sự của du nhập phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tuy đem lại một số chuyển biến tích cực, tuy nhiên, đó chỉ là sự chuyển biến mang tính cục bộ ở một số ngành nghề, một số địa phương.
+ Về cơ bản, kinh tế Việt Nam vẫn nghèo nàn, lạc hậu, phát triển thiếu cân đối và lệ thuộc nặng nề vào kinh tế Pháp;
- Về xã hội: hầu hết các giai cấp, tầng lớp nhân dân ở Việt Nam bị áp bức, bóc lột nặng nề, lâm vào cảnh nghèo khổ, bần cùng. Mâu thuẫn dân tộc giữa nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược bao trùm xã hội, làm bùng nổ nhiều cuộc đấu tranh yêu nước.
- Về văn hóa: đại bộ phận dân cư vẫn trong tình trạng nghèo đói, lạc hậu, trình độ dân trí thấp (hơn 90% dân số Việt Nam mù chữ); nhiều giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam bị xói mòn; trong xã hội tồn tại phổ biến nhiều hủ tục, tệ nạn xã hội, như: cờ bạc, mại dâm, hút thuốc phiện,…
♦ Quá trình xâm lược và cai trị của thực dân phương Tây ở Đông Nam Á hải đảo
- Từ sau các cuộc phát kiến địa lí, các nước tư bản phương Tây tăng cường tìm kiếm thị trường và thuộc địa; trong khi đó, các quốc gia phong kiến ở Đông Nam Á đang suy yếu, khủng hoảng. Nhân cơ hội này, các nước tư bản phương Tây tiến hành xâm lược và cai trị các nước ở Đông Nam Á.
+ Ở Inđônêxia, từ thế kỉ XV - XVI, các thế lực thực dân Bồ Đào Nha và Hà Lan cạnh tranh ảnh hưởng. Đến thế kỉ XIX, Hà Lan hoàn thành việc xâm chiếm và thiết lập ách thống trị thực dân trên đất nước này.
+ Ở Philíppin: Từ thế kỉ XVI, Philíppin bị thực dân Tây Ban Nha thống trị. Sau khi thất bại trong cuộc chiến tranh với Mỹ (1898), Tây Ban Nha đã nhượng quyền quản lí thuộc địa Philíppin cho Mỹ. Từ năm 1899, Philíppin trở thành thuộc địa của Mỹ.
+ Ở Mã Lai, năm 1826, thực dân Anh đẩy mạnh xâm chiếm các tiểu quốc như Kêđa, Pênang,... và thành lập Mã Lai thuộc Anh vào năm 1895.
- Các nước thực dân phương Tây đã thực thi chính sách chính trị hà khắc, đàn áp phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, vơ vét bóc lột cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên. Hầu hết các nước Đông Nam Á hải đảo đều rơi vào tình trạng lạc hậu, phụ thuộc nặng nề vào nền kinh tế của các nước phương Tây.
♦ Quá trình xâm lược và cai trị của thực dân phương Tây ở Đông Nam Á lục địa
- Sau quá trình lâu dài xâm nhập và chuẩn bị, đến thế kỉ XIX, các nước thực dân phương Tây bắt đầu quá trình xâm lược vào các nước Đông Nam Á lục địa.
+ Ở Miến Điện, sau ba cuộc chiến tranh xâm lược (1824 - 1826, 1852, 1885) thực dân Anh thôn tính Miến Điện rồi sáp nhập nước này thành một tỉnh của Ấn Độ thuộc Anh.
+ Ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia là đối tượng xâm lược của thực dân Pháp. Đến cuối thế kỉ XIX, thực dân Pháp đã hoàn thành quá trình xâm lược những nước này và bắt đầu thi hành chính sách bóc lột, khai thác thuộc địa.
+ Vương quốc Xiêm, trong nửa cuối thế kỉ XIX, trở thành vùng tranh chấp của thực dân Anh và Pháp. Với chính sách ngoại giao mềm dẻo, khôn khéo của vua Ra-ma V, Xiêm là nước duy nhất ở Đông Nam Á giữ được nền độc lập tương đối về chính trị.
- Thực dân Anh và thực dân Pháp tiến hành chính sách “chia để trị” nhằm xóa bỏ nền độc lập đối với Miến Điện và ba nước Đông Dương. Về kinh tế, thực thi chính sách khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, chính sách thuế khóa nặng nề. Về văn hoá, thực hiện chính sách nô dịch và đồng hoá.
Câu 1
Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử là tác phẩm tiêu biểu thể hiện vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên thôn Vĩ, đồng thời bộc lộ sâu sắc tâm trạng của nhà thơ. Mở đầu bài thơ là lời hỏi thăm nhẹ nhàng nhưng chan chứa nỗi nhớ: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”. Cảnh vật hiện lên tươi sáng với nắng mới, hàng cau cao vút, khu vườn xanh mướt, gợi nên một không gian trong trẻo, thanh bình. Tuy nhiên, ẩn sau vẻ đẹp ấy là nỗi buồn man mác, cô đơn của tác giả. Sang khổ thơ thứ hai và thứ ba, cảnh vật dần trở nên mờ ảo, chia lìa với hình ảnh “dòng nước buồn thiu”, “sương khói mờ nhân ảnh”. Đặc biệt, câu hỏi “Ai biết tình ai có đậm đà?” thể hiện sự hoài nghi, khát khao được yêu thương nhưng đầy tuyệt vọng. Qua bài thơ, Hàn Mặc Tử không chỉ vẽ nên bức tranh thiên nhiên xứ Huế giàu chất thơ mà còn gửi gắm nỗi lòng đau đớn, cô đơn của một tâm hồn tha thiết với cuộc đời.
Câu 2 (khoảng 600 chữ)
Trong xã hội hiện đại, bên cạnh những tiến bộ vượt bậc về khoa học và công nghệ, con người lại đang phải đối mặt với một thực trạng đáng lo ngại: sự thờ ơ, vô cảm ngày càng trở nên phổ biến. Đó là khi con người sống khép kín, thiếu quan tâm, thiếu chia sẻ và dửng dưng trước nỗi đau của người khác.
Sự thờ ơ, vô cảm trước hết thể hiện qua lối sống ích kỉ, chỉ biết đến lợi ích cá nhân mà không quan tâm đến cộng đồng. Không khó để bắt gặp những hình ảnh người gặp tai nạn giữa đường nhưng xung quanh chỉ là ánh mắt lạnh lùng hoặc những chiếc điện thoại giơ lên để quay phim, chụp ảnh. Nhiều người sẵn sàng lướt qua nỗi bất hạnh của người khác vì cho rằng “không liên quan đến mình”. Chính thái độ sống ấy đã khiến các mối quan hệ giữa con người với con người ngày càng trở nên xa cách.
Nguyên nhân của sự vô cảm bắt nguồn từ nhiều phía. Nhịp sống hiện đại quá vội vã khiến con người bị cuốn vào công việc, học tập và các mối quan tâm cá nhân. Bên cạnh đó, sự phát triển của mạng xã hội khiến nhiều người sống “ảo”, dễ đồng cảm qua màn hình nhưng lại lạnh nhạt trong đời sống thực. Ngoài ra, việc thiếu sự giáo dục về lòng nhân ái và trách nhiệm cộng đồng cũng góp phần làm gia tăng sự thờ ơ trong xã hội.
Hậu quả của lối sống vô cảm là vô cùng nghiêm trọng. Nó làm suy giảm các giá trị đạo đức, khiến xã hội trở nên lạnh lẽo và thiếu tình người. Khi con người không còn biết yêu thương, chia sẻ, thì nỗi đau và bất hạnh sẽ dễ dàng lan rộng. Một xã hội mà ai cũng thờ ơ sẽ là một xã hội yếu đuối, thiếu sự gắn kết và khó phát triển bền vững.
Tuy nhiên, sự vô cảm không phải là điều không thể thay đổi. Mỗi người cần bắt đầu từ những hành động nhỏ như biết quan tâm, lắng nghe, giúp đỡ người khác khi có thể. Gia đình và nhà trường cần chú trọng giáo dục đạo đức, nuôi dưỡng lòng nhân ái cho thế hệ trẻ. Khi mỗi cá nhân sống có trách nhiệm hơn với cộng đồng, xã hội sẽ trở nên ấm áp và nhân văn hơn.
Tóm lại, sự thờ ơ, vô cảm là một vấn đề đáng báo động trong xã hội hiện đại. Chỉ khi con người biết mở lòng yêu thương và chia sẻ, cuộc sống mới thực sự có ý nghĩa và đáng sống.
Câu 1 (0,5 điểm).
Thể loại: Truyện ngắn.
Câu 2 (0,5 điểm).
Đề tài: Mối quan hệ giữa người với người trong cuộc sống hiện đại.
Câu 3 (1,0 điểm).
- Biện pháp tu từ liệt kê được thể hiện qua việc tác giả đưa ra những trường hợp con người đã từng rơi hoặc sợ bị rơi vào cảnh làm
"mồi người" - một công cụ câu tương tác trên mạng xã hội bởi các trang báo lá cải đưa tin không chính thống.
- Tác dụng: Thể hiện rõ nét sự khốn đốn của những người dân nghèo khi bị vạ lây bởi những chiêu trò câu tương tác, những âm mưu đầy vị kỉ của những cá nhân, tổ chức trên mạng xã hội.
Câu 4 (1,0 điểm).
HS bày tỏ suy nghĩ của bản thân và có lí giải hợp lí. Ví dụ:
- Tình trạng người dân hôi của khi một ai đó gặp nạn trên đường là một tình trạng đã xuất hiện khá lâu và cho đến thời điểm hiện nay nó vẫn chưa chấm dứt hoàn toàn. Đây là một hành vi rất xấu, gây ảnh hưởng đến hình ảnh người Việt Nam trên trường quốc tế nói chung và ảnh hưởng đến đạo đức, nhân cách con người Việt Nam nói riêng.
- Tình trạng này cho thấy con người Việt Nam đang dần trở nên xa cách, thiếu sự đồng cảm, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau. Điều này đòi hỏi chúng ta phải nhìn nhận lại và thay đối.
Câu 5 (1,0 điểm).
- HS tự rút ra bài học cho bản thân và có lí giải hợp lí.
- Một số bài học có thế được rút ra từ văn bản:
+ Cần học cách đồng cảm, yêu thương, sẻ chia với mọi người xung quanh.
+ Không nên đế mạng xã hội, thiết bị điện tử chi phối chúng ta trong cuộc sống.
Câu 1
Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử là bức tranh giàu chất thơ, đồng thời thể hiện thế giới nội tâm đầy đau đớn và khát khao của nhà thơ. Mở đầu bài thơ là câu hỏi tu từ “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”, gợi lên nỗi nhớ da diết về thôn Vĩ với vẻ đẹp trong trẻo, tươi sáng. Hình ảnh hàng cau, nắng mới, vườn ai mướt quá xanh như ngọc đã khắc họa một không gian thanh bình, tràn đầy sức sống. Tuy nhiên, càng về sau, bức tranh thơ dần nhuốm màu buồn bã. Hình ảnh “dòng nước buồn thiu”, “hoa bắp lay”, “sương khói mờ nhân ảnh” không chỉ miêu tả cảnh vật mà còn phản ánh tâm trạng cô đơn, lạc lõng của tác giả. Đặc biệt, khổ thơ cuối với câu hỏi “Ai biết tình ai có đậm đà?” thể hiện sự hoài nghi, tuyệt vọng trước tình đời, tình người. Qua bài thơ, Hàn Mặc Tử đã gửi gắm nỗi lòng đau đớn nhưng vẫn chan chứa khát khao yêu thương và gắn bó với cuộc sống.
Câu 2
Trong cuộc sống, không phải lúc nào con đường chúng ta đi cũng bằng phẳng và dễ dàng. Chính vì vậy, ý chí và nghị lực là những yếu tố vô cùng quan trọng giúp con người vượt qua khó khăn, thử thách để vươn tới thành công. Ý chí là sự quyết tâm theo đuổi mục tiêu, còn nghị lực là khả năng đứng dậy sau những vấp ngã. Hai yếu tố này luôn song hành và bổ trợ cho nhau trong hành trình sống của mỗi con người.
Cuộc sống luôn tiềm ẩn những biến cố bất ngờ: thất bại trong học tập, khó khăn trong công việc, hay những mất mát về tinh thần. Nếu không có ý chí, con người dễ nản lòng, buông xuôi trước nghịch cảnh. Ngược lại, người có ý chí và nghị lực sẽ xem khó khăn là cơ hội để rèn luyện bản thân. Họ không trốn tránh mà dám đối diện, không đầu hàng mà kiên trì tìm cách vượt qua. Chính nghị lực giúp con người đứng vững, còn ý chí dẫn lối để họ tiếp tục bước đi.
Thực tế cho thấy, nhiều tấm gương thành công đều bắt đầu từ những hoàn cảnh rất khó khăn. Nhà thơ Hàn Mặc Tử dù phải chịu đựng bệnh tật đau đớn nhưng vẫn không ngừng sáng tác, để lại cho đời những vần thơ giàu giá trị. Hay trong cuộc sống hiện đại, không ít người khuyết tật vẫn vươn lên học tập, lao động và cống hiến cho xã hội. Những con người ấy chính là minh chứng rõ ràng cho sức mạnh to lớn của ý chí và nghị lực.
Tuy nhiên, trong xã hội hiện nay, vẫn còn những người sống thiếu ý chí, dễ bỏ cuộc khi gặp khó khăn. Họ ngại thử thách, sợ thất bại và chọn cách dựa dẫm vào người khác. Lối sống đó không chỉ khiến bản thân tụt hậu mà còn làm mất đi cơ hội phát triển và hoàn thiện chính mình. Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện ý chí và nghị lực từ những việc nhỏ nhất, như kiên trì trong học tập, không nản lòng khi gặp điểm kém, hay biết tự đứng lên sau những sai lầm.
Ý chí và nghị lực không phải là thứ có sẵn mà là kết quả của quá trình rèn luyện lâu dài. Khi con người có đủ quyết tâm và bản lĩnh, không khó khăn nào là không thể vượt qua. Chính ý chí và nghị lực sẽ giúp chúng ta sống có ý nghĩa hơn, mạnh mẽ hơn và từng bước chạm tới những ước mơ của mình.
Câu 1.
Các phương thức biểu đạt:
• Biểu cảm
• Miêu tả
Câu 2.
Đề tài của bài thơ:
→ Nỗi nhớ và tình yêu tha thiết đối với thôn Vĩ, với con người và cuộc đời, đồng thời thể hiện tâm trạng cô đơn, khát khao được yêu thương của nhà thơ.
Câu 3.
Hình ảnh thơ mang tính tượng trưng (ví dụ):
• “Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”
→ Gợi cảm giác buồn bã, lặng lẽ, tượng trưng cho nỗi cô đơn, chia lìa và tâm trạng u uẩn của tác giả trước cuộc đời.
Câu 4.
Biện pháp tu từ trong khổ cuối:
• Câu hỏi tu từ, hình ảnh ảo – thực đan xen, ẩn dụ
→ Tác dụng:
Làm nổi bật nỗi hoài nghi, tuyệt vọng, cảm giác xa cách, mờ nhạt giữa con người với con người, thể hiện bi kịch tinh thần của nhà thơ.
Câu 5.
Nhận xét về cấu tứ bài thơ:
→ Bài thơ có cấu tứ chặt chẽ, triển khai theo mạch cảm xúc từ nhớ thương → mơ mộng → hoài nghi, tuyệt vọng, vừa thống nhất vừa giàu chiều sâu cảm xúc
\(v=\sqrt{\overset{}{A^2-x^2}}\) =\(2\sqrt{6^2-\left(-2\right)^2}\) =\(8\sqrt2\)
\[\]
\(v=\sqrt{\overset{}{A^2-x^2}}\) =\(2\sqrt{6^2-\left(-2\right)^2}\) =\(8\sqrt2\)
\[\]