NGUYỄN ĐOÀN PHƯƠNG LINH

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của NGUYỄN ĐOÀN PHƯƠNG LINH
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Dưới ngòi bút của Nguyễn Bính, bài thơ "Những bóng người trên sân ga" thấm đượm nỗi buồn chia ly, một nỗi buồn thấm sâu vào không gian, con người và từng khoảnh khắc tiễn đưa. Sân ga không chỉ là nơi những chuyến tàu lăn bánh mà còn là nơi chứng kiến bao cuộc chia xa, những cuộc tiễn biệt đầy nước mắt và tiếc nuối. Bằng lối thơ chân thành, giản dị, Nguyễn Bính khắc họa nhiều hình ảnh khác nhau của sự ly biệt: hai cô bé khóc sụt sùi, đôi tình nhân xiêu xiêu cầm tay, người mẹ già tiễn con đi trấn ải và cả người khách lẻ loi, tự mình làm nên cuộc chia ly. Những con người ấy đều mang trong mình nỗi buồn thăm thẳm, nỗi buồn của kẻ ở, người đi, của những giấc mơ sum họp bị chia cắt bởi dòng đời. Điệp ngữ “có lần tôi thấy” như một tiếng vọng của ký ức nhấn mạnh sự lặp lại của những cuộc tiễn biệt, biến sân ga thành nơi lưu giữ biết bao nỗi đau xa cách. Đặc biệt, câu hỏi tu từ “Sao nhà ga ấy, sân ga ấy, chỉ để cho lòng dấu biệt ly?” vang lên như một tiếng thở dài não nề thể hiện sự tiếc nuối và đau xót trước hiện thực phũ phàng. Cả bài thơ là một bản nhạc buồn về những cuộc chia ly không hồi kết, nơi tình cảm con người bị cuốn theo những chuyến tàu xa xôi để lại dư âm day dứt trong lòng người đọc.

Câu 2

Nhạc sĩ Đức Huy đã có những ca từ ý nghĩa: “Tìm một con đường tìm một lối đi ngày qua ngày đời còn nhiều vấn nghi”. Đó không chỉ là một lời khắc khoải của một người nghệ sĩ mà còn là niềm trăn trở cho tất cả ai trong kiếp nhân sinh này. Lựa chọn cho mình một lối đi là điều không dễ vì vậy nhà văn Lỗ Tấn đã từng viết: “Kì thực trên mặt đất làm gì có đường, người ta đi mãi thì thành đường thôi”. Cũng giống như câu nói của Robert Frost: “Trong rừng có rất nhiều lối đi, ta chọn lối đi chưa có dấu chân người”. Đó là những gợi ý cho chúng ta trong việc lựa chọn con đường đi đến ngày mai.

Trước hết, chúng ta phải hiểu được “lối đi” là con đường dẫn đến với đích - đến với thành công. Trong câu của nhà văn Lỗ Tấn: “người ta đi mãi thành đường” muốn nói đến những lối đi đã cũ, cách làm đã cũ. Con đường này sẽ thuận lợi và dễ dàng khi vì đã có người khai phá. Còn đối với “lối đi chưa có dấu chân người” mà Robert Frost lựa chọn đó là lối đi còn mới mẻ, lối đi cần đến sự sáng tạo và mạo hiểm cũng như sự dũng cảm để đương đầu với thử thách. Như vậy, mượn cách nói giàu hình ảnh, hai tác giả nêu lên những con đường khác nhau để bước đến thành công trong cuộc sống. Mỗi con đường đem tới cho ta những thuận lợi và khó khăn riêng, con đường của Lỗ Tấn thiên về cái có sẵn dựa vào kinh nghiệm, còn con đường của Robert Frost đề cao tư duy sáng tạo.

Đi trên một con đường cũ luôn cho chúng ta cảm giác an toàn, đó là một con đường thuận lợi vì người đi trước đã đúc rút kinh nghiệm thay mình và như thế con đường đi đến thành công sẽ được rút ngắn. Nơi sa mạc hoang vu chỉ có một dấu chân đi qua thì không thể gọi là đường vì biết đâu đó là dấu chân của kẻ lạc lối đã bị chết khát. Nếu muốn đến với thảo nguyên xanh, người lữ hành phải đi theo lối có nhiều bước chân. Tuân thủ điều này cơ hội sống sót của khách lữ hành sẽ rất cao. Một học sinh tự mày mò tìm kiếm đáp án có thể cuối cùng cũng tìm ra nhưng thời gian phải bỏ ra là rất lớn. Nếu học sinh đó được sự hướng dẫn của những người đi trước như thầy cô thì sẽ dễ dàng tìm ra đáp án nhanh chóng.

Nhưng lối đi này không hẳn hoàn toàn là những điều tốt đẹp vì con người không còn nhiều cơ hội để tìm ra cái mới, không có cơ hội để khám phá bản thân. Đi trên một lối mòn của cuộc đời rất dễ rơi vào tình trạng mất cảm hứng - biểu hiện của lối “sống mòn”. Một học sinh chỉ biết làm theo người khác một cách máy móc thì mãi mãi chỉ là cái bóng của họ. Trong rừng có nhiều lối đi, ai cũng phải công nhận điều đó nếu ta đi tìm “linh dược” theo bước chân của người đi trước đôi khi sẽ trở về trắng tay bởi chẳng còn gì. Vậy nếu lựa chọn “lối đi không có dấu chân người” thì sao? Lối đi không có dấu chân người đối khi vẫn còn nhiều trở ngại và khó khăn. Nhưng nhờ những điều ấy buộc chúng ta phải dũng cảm để đối đầu, phải sáng tạo để phát huy mọi khả năng tiềm ẩn bên trong mà lúc bình thường không thể khám phá ra. Chính qua lối đi này, con người hiểu được bản lĩnh, ý chí của chính mình và có thể gặt hái được thành công rực rỡ mang dấu ấn của một người tiên phong. Trong lịch sử, có rất nhiều những tấm gương tiêu biểu mà chúng ta không thể không nhắc đến. Lý Tự Trọng khi bị bắt và kết án tử hình vào năm mười bảy tuổi đã để lại cho thế hệ trẻ một tuyên ngôn sống với câu nói nổi tiếng: “Tôi chưa đủ tuổi thành niên nhưng tôi đủ trí khôn để hiểu rằng con đường của tôi chỉ là con đường cách mạng”. Anh chính là biểu tượng cho tinh thần cách mạng của thế hệ thiếu niên thời đại Hồ Chí Minh. Không thể không nhắc đến, vị chủ tịch kính yêu của dân tộc Việt Nam - chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã không đi theo con đường của các bậc tiền bối như Phan Bội Châu hay Phan Châu Trinh mà lựa chọn cho mình một con đường cứu nước riêng: đi sang các nước phương Tây xem nước họ như thế nào rồi về giúp nhân dân mình. Rõ ràng lịch sử đã chứng minh con đường ấy là hoàn toàn đúng đắn.

Như vậy, hai con đường trên thực chất đã bổ sung cho nhau, con người có được thành công chỉ khi vừa biết kế thừa những kinh nghiệm của người đi trước. Từ đó, trên lối đi an toàn sẵn có lại biết sáng tạo và phát huy tư duy mới mẻ của bản thân.

Còn với một học sinh, tôi ý thức được rằng phải kế thừa con đường của cha anh đã đi và không ngừng học hỏi tiếp thu sáng tạo để cho mình một lối đi mới mẻ thể hiện được bản lĩnh của thanh niên Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Tôi chợt nhớ đến câu nói của một triết gia: “Nếu như cuộc đời của một con người chia làm hai phần, vậy nửa phần đầu của cuộc đời chính là không do dự còn nửa phần sau của cuộc đời chính là không hối hận”.

Câu nói của hai tác giả là lời chỉ dẫn về những lựa chọn con đường nào cũng có thuận lợi và khó khăn riêng. Chúng ta cần con đường của người đi trước để tránh sai lầm nhưng cũng cần dũng cảm để khai phá cho mình một con đường mới nhưng không mù quáng. Và chọn con đường nào hãy lắng nghe trái tim bạn mách bảo: “Hãy theo đuổi con đường mà bạn có thể đi với tình yêu và sự tôn kính dù nó có hẹp và quanh co đến mức nào” (Henry David Thoreau).

Câu 1.
Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt

Câu 2.
Khổ cuối:
→ Vần: “bay – tay – tay – này”
→ Kiểu vần: vần chân, vần liền (AAAA)

Câu 3
→ Biện pháp xuyên suốt: Điệp cấu trúc “Có lần tôi thấy…” + điệp từ “những…”

Tác dụng:

  • Tạo cảm giác lặp lại, nối tiếp → nhiều cuộc chia ly liên tục
  • Nhấn mạnh nỗi buồn lan rộng, không của riêng ai
  • Làm nhịp thơ chậm, trĩu nặng cảm xúc

Câu 4.

  • Đề tài: Những cuộc chia ly ở sân ga
  • Chủ đề: Nỗi buồn chia biệt của con người trong cuộc sống, thể hiện sự đồng cảm sâu sắc với những phận người xa cách

Câu 5.
→ Yếu tố tự sự:

  • Kể lại hàng loạt cảnh cụ thể: chị em, người yêu, bạn bè, vợ chồng, mẹ – con…
  • Có “nhân vật”, “tình huống”, “hành động” (tiễn, nắm tay, đứng nhìn…)

Tác dụng:

  • Làm bài thơ không mơ hồ mà rất đời, rất thật
  • Mỗi cảnh = 1 lát cắt cảm xúc → nỗi buồn được tích tụ dần, sâu hơn
  • Giúp người đọc dễ hình dung → dễ đồng cảm → tăng sức ám ảnh

Nói thẳng: bài này hay ở chỗ không “than chung chung” mà kể từng cảnh → dồn cảm xúc

♦ Ảnh hưởng của chế độ thực dân với các thuộc địa

- Ảnh hưởng tiêu cực:

+ Về kinh tế: nền kinh tế các nước Đông Nam Á đều yếu kém, lạc hậu, phụ thuộc vào kinh tế tư bản chủ nghĩa phương Tây.

+ Về chính trị - xã hội: chính sách “chia để trị” của thực dân đã khoét sâu mâu thuẫn vùng miền, sắc tộc, tôn giáo. Mâu thuẫn giữa các giai tầng trong xã hội gay gắt.

+ Về văn hoá: chính sách đồng hoá văn hoá của thực dân phương Tây đã làm mai một không ít những giá trị văn hoá bản địa Đông Nam Á.

Ảnh hưởng tích cực: xuất phát từ mục tiêu khai thác thuộc địa, các nước thực dân phương Tây đã phát triển hệ thống giao thông vận tải, cầu cảng, nhà máy, hầm mỏ, đồn điền và du nhập phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vào Đông Nam Á. Vì thế, diện mạo các quốc gia Đông Nam Á cũng có những biến đổi mang tính tích cực.

♦ Liên hệ Việt Nam: Ở Việt Nam, hơn 80 năm cai trị của thực dân Pháp đã để lại những hậu quả nặng nề trên mọi lĩnh vực. Ví dụ như:

- Về chính trị: từ một quốc gia thống nhất, dưới sự thống trị của thực dân Pháp, Việt Nam bị chia thành 3 xứ với 3 chế độ khác nhau: Bắc Kì là xứ bảo hộ; Trung Kỳ là xứ nửa bảo hộ; Nam Kỳ là xứ thuộc địa. Tên nước Việt Nam bị xóa trên bản đồ chính trị thế giới.

- Về kinh tế: sự của du nhập phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tuy đem lại một số chuyển biến tích cực, tuy nhiên, đó chỉ là sự chuyển biến mang tính cục bộ ở một số ngành nghề, một số địa phương. Về cơ bản, kinh tế Việt Nam vẫn nghèo nàn, lạc hậu, phát triển thiếu cân đối và lệ thuộc nặng nề vào kinh tế Pháp;

- Về xã hội: hầu hết các giai cấp, tầng lớp nhân dân ở Việt Nam bị áp bức, bóc lột nặng nề, lâm vào cảnh nghèo khổ, bần cùng. Mâu thuẫn dân tộc giữa nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược bao trùm xã hội, làm bùng nổ nhiều cuộc đấu tranh yêu nước.

Về văn hóa: đại bộ phận dân cư vẫn trong tình trạng nghèo đói, lạc hậu, trình độ dân trí thấp (hơn 90% dân số Việt Nam mù chữ); nhiều giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam bị xói mòn; trong xã hội tồn tại phổ biến nhiều hủ tục, tệ nạn xã hội, như: cờ bạc, mại dâm, hút thuốc phiện,…

- Từ sau các cuộc phát kiến địa lí, các nước tư bản phương Tây tăng cường tìm kiếm thị trường và thuộc địa; trong khi đó, các quốc gia phong kiến ở Đông Nam Á đang suy yếu, khủng hoảng. Nhân cơ hội này, các nước tư bản phương Tây tiến hành xâm lược và cai trị các nước ở Đông Nam Á.

Ở Inđônêxia, từ thế kỉ XV - XVI, các thế lực thực dân Bồ Đào Nha và Hà Lan cạnh tranh ảnh hưởng. Đến thế kỉ XIX, Hà Lan hoàn thành việc xâm chiếm và thiết lập ách thống trị thực dân trên đất nước này.

Ở Philíppin: Từ thế kỉ XVI, Philíppin bị thực dân Tây Ban Nha thống trị. Sau khi thất bại trong cuộc chiến tranh với Mỹ (1898), Tây Ban Nha đã nhượng quyền quản lí thuộc địa Philíppin cho Mỹ. Từ năm 1899, Philíppin trở thành thuộc địa của Mỹ.

Ở Mã Lai, năm 1826, thực dân Anh đẩy mạnh xâm chiếm các tiểu quốc như Kêđa, Pênang,... và thành lập Mã Lai thuộc Anh vào năm 1895.

- Các nước thực dân phương Tây đã thực thi chính sách chính trị hà khắc, đàn áp phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, vơ vét bóc lột cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên. Hầu hết các nước Đông Nam Á hải đảo đều rơi vào tình trạng lạc hậu, phụ thuộc nặng nề vào nền kinh tế của các nước phương Tây.

\(x=8\cos(\frac{\pi}{2}t+\frac{\pi}{2})\)