Nguyễn Thị Nhung

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Thị Nhung
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Trong xã hội hiện đại, nơi con người đến từ nhiều hoàn cảnh, văn hóa và có những suy nghĩ, lối sống khác nhau, việc tôn trọng sự khác biệt trở thành một yêu cầu tất yếu của đời sống văn minh. Sự khác biệt là những nét không giống nhau giữa con người về quan điểm, cá tính, niềm tin hay cách thể hiện bản thân. Tôn trọng sự khác biệt là biết thừa nhận rằng mỗi cá nhân đều có giá trị riêng và không ai có quyền áp đặt suy nghĩ của mình lên người khác. Khi con người biết tôn trọng sự khác biệt, họ sẽ cư xử bao dung, lắng nghe và thấu hiểu hơn trong giao tiếp. Ngược lại, thái độ kỳ thị, miệt thị hay phủ nhận sự khác biệt dễ dẫn đến mâu thuẫn, xung đột và làm tổn thương người khác. Tôn trọng sự khác biệt không có nghĩa là chấp nhận mọi hành vi lệch chuẩn, mà là biết phân biệt giữa khác biệt lành mạnh và sai trái cần điều chỉnh. Đối với thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay, vấn đề này càng trở nên quan trọng. Người trẻ có xu hướng thể hiện cá tính mạnh mẽ, tuy nhiên cũng dễ rơi vào thái độ cực đoan, công kích những người không giống mình, đặc biệt trên mạng xã hội. Những lời phán xét vội vàng hay hành vi bắt nạt tinh thần không chỉ làm tổn thương cá nhân mà còn làm nghèo nàn môi trường văn hóa chung. Vì vậy, mỗi người trẻ cần học cách mở lòng, tôn trọng sự khác biệt và cư xử văn minh. Khi biết tôn trọng sự khác biệt, thế hệ trẻ sẽ góp phần xây dựng một xã hội Việt Nam đa dạng, nhân ái và tiến bộ.

Câu 2:

Từ lâu, tình mẫu tử đã đi vào thơ ca và trở thành đề tài muôn thuở phổ biến được nhiều ngòi bút đón nhận, hướng tới viết. Và áng thơ "Nắng mới" của tác giả Lưu Trọng Lư lại cũng là một trong những thí dụ điển hình tiêu biểu cho điều này. Bằng chính sự kết hợp hài hòa cả về hình thức nội dung lẫn nghệ thuật, tác phẩm đã thành công nêu bật lên được tình cảm nhớ thương mẹ sâu đậm, sâu sắc của nhân vật trữ tình - "tôi" hay chính người con trong bài.

Tác phẩm là bức tranh thiên nhiên gợi buồn với tâm trạng xót đau, nhung nhớ về một "thời dĩ vãng" đã trôi xa trong tâm hồn và trái tim người nghệ sĩ. Dưới cái "nắng mới" lung linh của buổi trưa hè, trước thứ hình ảnh khơi nguồn cảm hứng, gây ấn tượng mạnh mẽ , "nắng" đã phần nào soi rọi vào tiềm thức mà gợi dậy những kỉ niệm tươi đẹp về mẹ trong kí ức người con. Bằng cách khéo léo đưa vào khổ đầu những tính từ láy "xao xác" , "não nùng" để miêu tả tiếng gà quen thuộc. Đồng thời, gắn liền với thủ pháp nghệ thuật lấy động tả tĩnh, tác giả lại càng thêm làm nổi bật hơn sự vắng lặng, hiu hắt của quang cảnh làng quê đi đôi với tâm trạng "rượi buồn" , "chập chờn" của nhân vật trữ tình.

Mạch cảm xúc trong thơ được xoay chuyển liên tục, nếu ở khổ đầu là hiện tại thì sang khổ 2, tác giả đã hoàn toàn chuyển hóa về quá khứ. Hình ảnh người mẹ từ đây đã bắt đầu hiện lên một cách mờ nhạt, thấp thoáng nhưng lung linh và ngày một rõ ràng hơn trong trí nhớ của con "thuở lên mười" . Dù chỉ được phác họa một cách gián tiếp sau màu sắc áo đỏ và lưng giậu phơi, nhưng cũng chính từ đây, người đọc lại thêm phần nào thấy được hình ảnh của một người mẹ dịu dàng, đảm đang, chu toàn, tần tảo. Tác giả còn đặc biệt gây ấn tượng mạnh mẽ đánh thẳng vào sự đồng cảm của độc giả nhiều hơn, khi có sự sáng tạo đầy tài hoa trong việc sử dụng ngôn từ để miêu tả ánh nắng. Không dùng những từ "hắt" , "rọi" , "chiếu" ... thông thường, Lưu Trọng Lư đã lựa chọn động từ "reo" . Qua đây, để thấy rằng, những tháng ngày còn có mẹ nó rộn ràng và tươi vui đến thế, nó khác hẳn so với những ngày mẹ mất đi ...

Mạch thơ lại quay trở lại hiện tại. Khổ cuối lại tiếp tục nối chuỗi và một lần nữa khắc họa lại lên hình ảnh người mẹ trong nỗi nhớ của người con. Nếu ở khổ 2 , mẹ hiện lên với chiếc "áo đỏ" thì ở khổ cuối này, mẹ hiện lên cùng "nét cười đen nhánh" . Có thể nói rằng, bức chân dung người mẹ ở cả khổ 2 và khổ 3 , chỉ thông qua những hình ảnh hết đỗi mộc mạc nhưng lại có thể khắc họa một cách chân thực vẻ đẹp của mẹ với sự hiền từ, ấm áp, thân thương, giàu đức cam chịu, hi sinh. Và có lẽ, chính những hình ảnh đó lại là một phần đẹp đẽ, mang dư âm nặng trĩu, trìu mến nhất mà người thi sĩ còn mang, "chửa xóa mờ" , còn lưu giữ và đọng lại mãi trong tâm trí với sự thổn thức, bồi hồi, xao xuyến đến tột cùng ...

Có thể khẳng định rằng, tình mẫu tử trong "Nắng mới" đã được Lưu Trọng Lư xây dựng một cách đầy chân thành, xúc động và vô cùng tinh tế. Bằng thể thơ ngũ ngôn với lời thơ giản dị cùng giọng điệu nhẹ nhàng, da diết , bằng sự kết hợp cân đối giữa phương thức biểu cảm lẫn miêu tả, bằng cả sự linh hoạt trong hệ thống vần, nhịp và biện pháp tu từ thì những rung động, tâm tư của người con lại một lần nữa được nhà thơ khắc họa rõ nét sâu sắc hơn. Và cũng chính từ đây, người đọc lại có thể chiêm nghiệm, suy ngẫm mà thấm thía hơn về thứ tình cảm tha thiết, thiêng liêng này để có thể hoàn thiện trọn vẹn hơn đạo hiếu làm con, để biết trân trọng và nâng niu nhiều hơn những giây phút khi còn được cạnh bên mẹ ...


Câu 1 :

Phương thức biểu đạt chính nghị luận Câu 2:

2 cặp từ, cặp cụm từ đối lập được sử dụng trong đoạn 1 là: "Tằn tiện" đối lập với "phung phí", "hào phóng" đối lập với "keo kiệt". Câu 3: Tác giả đưa ra lời khuyên này vì - Mỗi người đều có lăng kính và quan điểm riêng, việc phán xét thường dựa trên cái tôi chủ quan chứ không phải sự thật khách quan về người khác

- Sự phán xét dễ dàng thường dẫn đến những hiểu lầm, ác cảm và làm tổn thương mối quan hệ giữa người với người. Câu 4 : Em hiểu về quan điểm trên của tác giả là:

- Định kiến là một "tấm lưới": Nó giam cầm tư duy, khiến ta không còn cái nhìn đa chiều, khách quan và bao dung với thế giới xung quanh.

- Sự tự nguyện đánh mất bản sắc: Khi "buông mình" vào định kiến, ta không còn sống bằng suy nghĩ và cảm xúc thật của chính mình mà sống theo những khuôn mẫu, ác cảm có sẵn. - Điều này khiến cuộc sống trở nên hẹp hòi, nặng nề và ngăn cản sự thấu hiểu, kết nối giữa người với người. Đây là sự "tồi tệ nhất" vì nó làm nghèo nàn tâm hồn chúng ta. Câu 5:

- Văn vản trên nhắc nhở mỗi người cần học cách lắng nghe và tôn trọng sự khác biệt.

- Từ đó, thay vì vội vàng đánh giá ai đó qua vẻ bề ngoài hay một hành động nhất thời, hãy mở lòng để thấu hiểu câu chuyện riêng của họ. Đừng để định kiến của đám đông hay của chính mình điều khiển suy nghĩ, hãy sống và nhìn nhận cuộc đời bằng sự thấu cảm và trái tim chân thành

Câu 1. Thể loại của văn bản là : thần thoại. 

Câu 2. Những từ ngữ, hình ảnh miêu tả con ác thú ở Nê-mê là: 

- "Con sư tử to lớn hung dữ gấp mười lần con sư tử ở Ci-thơ-ron".

- "Con ác thú này có lớp da kì lạ, đó là không cung tên, gươm dao nào đâm thủng, bắn thủng da nó được".

Câu 3. 

- Biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn là biện pháp liệt kê: "Thần A-pô-lô cho chàng một cây cung và một ống tên. Thần Hơ-mét cho chàng một thanh gươm dài và cong. Thần Hê-phai-tớt rèn cho chàng một bộ áo giáp vàng. Còn nữ thần A-thê-na ban cho chàng một bộ quần áo do tự tay nàng dệt lấy vải may thành áo, thành quần rất đẹp".

- Tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê là:

+ Làm tăng sức gợi hình gợi cảm, sinh động và hấp dẫn cho câu văn.

+ Nhấn mạnh sự quan tâm, giúp đỡ của những vị thần trên đỉnh Olympus đối với người anh hùng Hê-ra-clét trong cuộc hành trình của chàng.

Câu 4. Nhận xét về một phẩm chất nổi bật về nhân vật Hê-ra-clét 

- Phẩm chất nổi bật của nhân vật Hê - ra- clét là : sự thông minh, dũng cảm, kiên cường.

- Dù đối mặt với ác thú nguy hiểm , chàng vẫn sẵn sàng chiến đấu.

- Sự giúp đỡ từ các vị thần cũng cho thấy chàng là người xứng đáng với sự ưu ái đó, thể hiện phẩm chất anh hùng được mọi người công nhận.

Câu 5. Nhận xét về mối tương quan giữa con ác thú ở Nê-mê và người anh hùng Hê-ra-clét: 

- Mối tương quan giữa con ác thú ở Nê-mê và người anh hùng Hê-ra-clét: con ác thú chính là thử thách để qua đó làm nổi bật lên vẻ đẹp về sức mạnh và trí tuệ của người anh hùng. 

-



Câu 1. Thể thơ của bài thơ này là thất ngôn tứ tuyệt Đường luật

Câu 2. Bài thơ này được triển khai theo luật trắc vì chữ thứ hai của dòng thơ thứ nhất là chữ "sóc", mang thanh trắc. 

Câu 3. 

- Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ trên là: so sánh độc đáo khi ví tam quân (ba quân - quân đội nhà Trần) với tì hổ (hổ báo - loài mãnh thú chốn rừng sâu).

- Tác cụng của biện pháp so sánh là:

+ Làm tăng sức gợi hình gợi cảm, sinh động, hấp dẫn

+ Thể hóa sức mạnh, tầm vóc và sự dũng mãnh, đồng thời thể hiện sự ngợi ca, khí thế hừng hực, quyết tâm bảo vệ non sông, đất nước của quân đội nhà Trần.

Câu 4.  Nhận xét của em về hình tượng bậc nam tử trong bài thơ" Thuật hoài": 

- Bậc nam tử trong bài thơ "Thuật hoài" hiện lên với một tư thế hiên ngang như một hùng tướng đang ở tư thế phòng vệ, sẵn sàng nghênh chiến, nhằm bảo vệ giang sơn xã tắc, hết lòng vì nhân dân.

- Người hùng tướng ấy còn mang trong mình một khí thế ngút trời cùng với nỗi lòng khắc khoải, khát khao được tận hiến với Tổ quốc, dẹp giặc ngoại xâm, giữ yên bờ cõi của dân tộc.

Câu 5:

qua văn bản, em rút ra được thông điệp là: cần phải cống hiến cho Tổ quốc. Bởi vì đây là trách nhiệm cao đẹp, tự nguyện đem sức lực , trí tuệ xây dựng quê hương và bảo vệ chủ quyền.