Trần Duy Long

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Trần Duy Long
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1

Đoạn trích trong trường ca "Bài thơ Hắc Hải" của Nguyễn Đình Thi là một bản tình ca tha thiết về đất nước. Bằng thể thơ lục bát uyển chuyển, tác giả đã vẽ nên một bức tranh Việt Nam tươi đẹp với "biển lúa" mênh mông, "cánh cò" dập dờn và đỉnh Trường Sơn hùng vĩ. Đất nước ấy không chỉ đẹp ở thiên nhiên mà còn ngời sáng bởi sức mạnh của con người. Hình ảnh những người dân "áo nâu nhuộm bùn" bình dị trong lao động nhưng lại mạnh mẽ, quật khởi trong chiến đấu "đạp quân thù xuống đất đen" đã để lại ấn tượng sâu đậm. Đặc biệt, khổ thơ cuối với điệp từ "nhớ" đã chạm đến sợi dây tình cảm thiêng liêng nhất của mỗi người: lòng biết ơn và sự gắn bó với những điều giản dị như "bữa cơm rau muống", "quả cà giòn tan". Qua ngôn ngữ giàu hình ảnh và nhạc điệu, bài thơ không chỉ bồi đắp lòng tự hào dân tộc mà còn nhắc nhở chúng ta về trách nhiệm yêu thương, gìn giữ mảnh đất hình chữ S thân thương này.

Câu 2

Từ những vần thơ đầy tự hào của Nguyễn Đình Thi về một Việt Nam "chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên", ta càng thêm thấu hiểu về sức mạnh vô địch của tinh thần dân tộc – sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài lịch sử bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước của cha ông. Tinh thần dân tộc không phải là một khái niệm trừu tượng, mà là sự kết tinh của lòng yêu nước nồng nàn, ý thức tự tôn về văn hóa và sự gắn kết chặt chẽ giữa mỗi cá nhân với vận mệnh của cộng đồng. Trong lịch sử, tinh thần ấy chính là vũ khí sắc bén nhất để một dân tộc nhỏ bé chiến thắng những đế quốc sừng sỏ. Đó là hình ảnh những người nông dân "áo nâu" gác lại cày cuốc để cầm súng, là sự hy sinh thầm lặng của biết bao thế hệ để giữ vững tấc đất biên cương. Bước vào thời bình, tinh thần dân tộc lại chuyển mình thành khát vọng xây dựng đất nước giàu mạnh. Nó hiện hữu trong sự cần cù của người lao động, trong sự tài hoa của những "bàn tay phép tiên" làm đẹp cho đời, và trong ý chí của những trí thức trẻ mong muốn đưa trí tuệ Việt vươn tầm thế giới. Đặc biệt, mỗi khi đất nước đối mặt với khó khăn như thiên tai hay dịch bệnh, tinh thần "tương thân tương ái" lại bùng cháy mãnh liệt. Những chuyến xe cứu trợ hướng về miền Trung bão lũ hay sự đồng lòng của cả dân tộc trong những giai đoạn thử thách chính là minh chứng sống động nhất cho sức mạnh của sự đoàn kết. Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập hiện nay, vẫn còn một bộ phận nhỏ có tư tưởng "sính ngoại" cực đoan, quay lưng với giá trị truyền thống hoặc thờ ơ trước những vấn đề chung của đất nước. Đây là những biểu hiện đáng phê phán, bởi một dân tộc chỉ có thể đứng vững khi có điểm tựa vững chắc từ gốc rễ văn hóa và lòng yêu nước. Tóm lại, tinh thần dân tộc là nguồn nội lực vô tận giúp Việt Nam vượt qua mọi nghịch cảnh. Là thế hệ trẻ - những người chủ tương lai, chúng ta cần nuôi dưỡng lòng tự hào dân tộc bằng những hành động thiết thực: học tập tốt, giữ gìn bản sắc văn hóa và sẵn sàng cống hiến để hai chữ "Việt Nam" mãi vang xa với niềm kiêu hãnh.

Câu1

Bài thơ được viết theo thể thơ lục bát (dòng 6 chữ xen kẽ dòng 8 chữ)

Câu2

Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm (kết hợp với miêu tả và tự sự).

Câu3

Biện pháp tu từ: Điệp ngữ ("Ta đi", "Ta nhớ", "Nhớ"). Tác dụng: Tạo nhịp điệu da diết, nồng nàn như hơi thở và nhịp đập của trái tim người đi xa. Nhấn mạnh nỗi nhớ sâu sắc, khôn nguôi đối với những hình ảnh bình dị, gần gũi của quê hương (núi rừng, dòng sông, khoai ngô, bữa cơm rau muống...).Khẳng định sự gắn bó máu thịt và tình yêu bền chặt của tác giả dành cho mảnh đất quê hương.

Câ4

Qua bài thơ, con người Việt Nam hiện lên với những phẩm chất cao đẹp: Cần cù, chịu khó: "Mặt người vất vả in sâu", "áo nâu nhuộm bùn".Anh hùng, bất khuất: "Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên", "đạp quân thù xuống đất đen".Hiền lành, nhân hậu: "Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa".Thủy chung, tình nghĩa: "Yêu ai yêu trọn tấm tình thuỷ chung".Khéo léo, tài hoa: "Tay người như có phép tiên".

Câ 5

Đề tài: Đất nước và con người Việt Nam. Chủ đề: Bài thơ ca ngợi vẻ đẹp trù phú, thơ mộng của thiên nhiên và truyền thống lịch sử, phẩm chất cao quý của con người Việt Nam; qua đó thể hiện tình yêu quê hương đất nước tha thiết, tự hào của tác giả.


Bài thơ "Bến đò ngày mưa" đã để lại trong lòng người đọc những ấn tượng sâu sắc về một bức tranh làng quê yên tĩnh nhưng đượm buồn. Chủ đề của bài thơ tập trung vào việc miêu tả cảnh sinh hoạt đời thường nơi bến đò trong một ngày thời tiết khắc nghiệt. Thông qua những hình ảnh như "con thuyền đậu trơ vơ", "quán hàng không khách" hay người đi chợ "đội cả bầu trời mưa", tác giả đã làm nổi bật lên cuộc sống lam lũ, vất vả của những kiếp người nhỏ bé nơi thôn dã. Cảm hứng chủ đạo của tác phẩm chính là niềm xót xa, thương cảm đầy nhân văn của nhà thơ trước sự lặng lẽ, đơn độc của con người giữa thiên nhiên lạnh lẽo. Đọc bài thơ, ta không chỉ thấy được sự tài tình trong cách quan sát cảnh vật mà còn cảm nhận rõ tấm lòng trân trọng của tác giả dành cho những mảnh đời bình dị, từ đó nhắc nhở người đọc biết sống yêu thương và thấu cảm hơn với mọi người xung quanh

Câu2:

Trong hành trình dài rộng của mỗi kiếp người, quê hương luôn là điểm tựa tinh thần vững chãi và là nơi neo giữ những ký ức thiêng liêng nhất. Quê hương không chỉ đơn thuần là mảnh đất nơi ta cất tiếng khóc chào đời, mà còn là khởi nguồn của tình yêu thương, là mảnh ghép quan trọng nhất tạo nên nhân cách của mỗi cá nhân. Trước hết, quê hương là "ngôi nhà" lưu giữ những ký ức tuổi thơ tươi đẹp. Đó là lũy tre làng, con đường đất quanh co, là tiếng gọi của mẹ hay hình ảnh những người dân lam lũ bên bến đò ngày mưa. Những hình ảnh giản dị ấy chính là hành trang tinh thần, nuôi dưỡng tâm hồn ta trở nên giàu lòng trắc ẩn và biết yêu thương con người hơn. Khi ta bước chân vào đời, đối diện với những bộn bề, lo toan, quê hương trở thành bến đỗ bình yên để ta tìm về, gột rửa tâm hồn và nạp lại năng lượng sau những vấp ngã. Hơn thế nữa, quê hương còn dạy cho ta bài học về sự nhẫn nại và lòng kiên cường. Nhìn vào cuộc sống của những người lao động như bác lái đò, bà hàng hay người đi chợ trong cơn mưa dầm, ta học được cách đối diện với nghịch cảnh bằng sự kiên trì và hy vọng. Sự gắn kết với cội nguồn giúp chúng ta không bị lạc lối, luôn nhớ về đạo lý "uống nước nhớ nguồn" và khơi dậy trách nhiệm đóng góp để xây dựng quê hương ngày càng tốt đẹp hơn. Tóm lại, quê hương là máu thịt, là một phần không thể tách rời trong cuộc đời mỗi con người. Dù đi xa đến đâu, hãy luôn giữ hình ảnh quê hương trong tim như một la bàn định hướng cho nhân cách. Yêu quê hương chính là cách giản đơn nhất để ta yêu chính bản thân mình và sống một cuộc đời trọn vẹn, ý nghĩa hơn.

Câu 1:

Bài thơ trên đc viết theo thể thơ tám chữ

Câu 2:

Đề tài của bài thơ là về thiên nhiên và đời sống con người nơi bến đò trong một ngày mưa buồn, vắng lặng.

biện pháp tự từ nhân hía Nhân hóa: Trong câu "Chuối bơ phờ đầu bến đứng dầm mưa". Tác dụng: Việc sử dụng từ ngữ nhân hóa ("bơ phờ", "đứng dầm mưa") đã biến hình ảnh cây chuối trở nên có tâm trạng, có dáng vẻ như con người. Qua đó, tác giả không chỉ miêu tả sự vật mà còn gợi lên cảm giác buồn bã, hiu quạnh, kiệt sức của thiên nhiên trước cảnh mưa gió dầm dề, làm tăng tính biểu cảm cho bức tranh bến đò

Câu 4:

Các hình ảnh miêu tả: * Cảnh vật thiên nhiên: Tre rũ rợi, chuối bơ phờ đứng dầm mưa, dòng sông trôi rào rạt. Con người và sự vật tại bến: Con thuyền đậu trơ vơ, quán hàng không khách đứng xo ro, bác lái đò hút điếu thuốc, bà hàng sụ sụ ho, người đi chợ đội thúng như đội cả bầu trời mưa. Cảm nhận: Những hình ảnh này gợi lên một không gian ảm đạm, lạnh lẽo, buồn bã và đơn độc. Sự khắc nghiệt của thiên nhiên (mưa dầm) như bao trùm lên cuộc sống mưu sinh vất vả, lam lũ của những con người nhỏ bé nơi bến đò.

Câu 5:

Bài thơ gợi lên niềm đồng cảm sâu sắc của tác giả đối với nỗi vất vả, nhọc nhằn của những kiếp người nghèo khổ trong xã hội cũ. Đó là một nỗi buồn man mác, một sự xót xa trước cảnh đời lặng lẽ, đơn độc và sự tĩnh lặng đầy ám ảnh của không gian bến đò ngày mưa.

Câu 1:Nhân vật Đạm Tiên trong Truyện Kiều của Nguyễn Du là hình ảnh tiêu biểu cho số phận người phụ nữ tài sắc nhưng bạc mệnh trong xã hội phong kiến. Nàng vốn là một ca nhi nổi tiếng, “nổi danh tài sắc một thì”, từng được nhiều người ngưỡng mộ. Thế nhưng cuộc đời Đạm Tiên lại kết thúc trong bi kịch: chết trẻ, mồ mả hoang lạnh, không người hương khói. Qua số phận ấy, Nguyễn Du đã thể hiện sâu sắc quy luật nghiệt ngã “tài mệnh tương đố”. Đạm Tiên không chỉ là một nhân vật phụ mà còn mang ý nghĩa biểu tượng, như một lời cảnh báo cho số phận đầy sóng gió của Thúy Kiều sau này. Đồng thời, nhân vật này còn thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc của Nguyễn Du khi ông xót thương cho những con người tài hoa bị xã hội bất công vùi dập. Đạm Tiên vì thế trở thành một hình ảnh ám ảnh, gợi nhiều đau xót trong lòng người đọc.

Câu 2

Trong thời đại công nghệ phát triển mạnh mẽ, mạng xã hội đã trở thành một phần quen thuộc trong đời sống của con người, đặc biệt là học sinh. Tuy nhiên, việc sử dụng mạng xã hội quá nhiều đang khiến không ít học sinh sao nhãng học tập, sống thiếu trách nhiệm và lệ thuộc vào thế giới ảo. Vì vậy, sử dụng mạng xã hội một cách lành mạnh và hiệu quả là vấn đề rất cần được quan tâm. Trước hết, mỗi học sinh cần nhận thức rõ mạng xã hội có cả mặt tích cực và tiêu cực. Nếu biết sử dụng đúng cách, mạng xã hội giúp học sinh mở rộng kiến thức, trao đổi học tập, kết nối bạn bè và cập nhật thông tin nhanh chóng. Ngược lại, việc lạm dụng mạng xã hội sẽ làm mất nhiều thời gian, giảm khả năng tập trung, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và kết quả học tập. Để sử dụng mạng xã hội hiệu quả, học sinh cần biết quản lý thời gian hợp lý, không dành quá nhiều giờ cho việc lướt mạng. Bên cạnh đó, cần chọn lọc thông tin, tránh xa các nội dung độc hại, sai sự thật hay các trào lưu tiêu cực. Việc sử dụng mạng xã hội cho mục đích học tập, giải trí lành mạnh và chia sẻ những giá trị tích cực là điều rất cần thiết. Ngoài ra, mỗi người cần có ý thức trách nhiệm khi tham gia mạng xã hội, biết cư xử văn minh, tôn trọng người khác và không phát tán thông tin sai lệch. Gia đình và nhà trường cũng cần định hướng, giáo dục học sinh sử dụng mạng xã hội đúng đắn. Tóm lại, mạng xã hội chỉ thực sự mang lại lợi ích khi con người làm chủ được nó. Là học sinh, chúng ta cần sử dụng mạng xã hội một cách thông minh, lành mạnh và hiệu quả để phục vụ cho học tập và cuộc sống, thay vì để nó chi phối và làm ảnh hưởng đến tương lai của mình.

Câu 1:

Văn bản trên được viết theo thể thơ lục bát.

Câu 2:

Hai dòng thơ: Rằng: “Sao trong tiết Thanh minh, Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?” sử dụng lời thoại trực tiếp của nhân vật. Dấu hiệu: có từ “Rằng” và lời nói được đặt trong dấu ngoặc kép.

Câu 3:

Tác giả đã sử dụng nhiều từ láy như: sè sè, dầu dầu, vắng tanh, lạnh ngắt, lờ mờ, dầm dầm, đầm đầm… Các từ láy này có tác dụng: Gợi tả không gian hoang lạnh, hiu quạnh, u buồn của nấm mồ Đạm Tiên.Thể hiện nỗi xót xa, thương cảm trước số phận bạc mệnh của người con gái tài sắc.Góp phần tạo nên giá trị biểu cảm và tính nhạc cho đoạn thơ.

Vâu 4:

Trước hoàn cảnh của Đạm Tiên, Thúy Kiều mang tâm trạng xót thương, đau đớn, đồng cảm sâu sắc, thể hiện qua hình ảnh “dầm dầm châu sa” và tiếng than “Đau đớn thay, phận đàn bà!”. Điều đó cho thấy Thúy Kiều là người đa cảm, giàu lòng nhân ái, biết thương người, đặc biệt là thương cho số phận người phụ nữ tài sắc nhưng bạc mệnh. Đồng thời, Kiều cũng như linh cảm trước chính số phận éo le của mình sau này.

Câu 5:

Từ nội dung văn bản, em rút ra bài học,Cần biết trân trọng con người, đặc biệt là phụ nữ, cảm thông với những số phận bất hạnh trong cuộc sống. Đồng thời, mỗi người cần sống nhân ái, biết yêu thương và sẻ chia, không thờ ơ trước nỗi đau của người khác.Vì chỉ có lòng nhân ái mới giúp con người sống tốt đẹp và có ý nghĩa hơn.

Câu 1:

Đoạn trích tái hiện cuộc đối thoại gay gắt giữa vua Lê Tương Dực và quận công Trịnh Duy Sản khi Trịnh Duy Sản vào cung can gián nhà vua bãi bỏ việc xây dựng Cửu Trùng Đài, cảnh báo tình hình giặc giã nổi lên khắp nơi và sự oán thán của nhân dân. Qua đó thể hiện sự suy đồi của triều đình nhà Lê và mâu thuẫn gay gắt giữa vua với bề tôi trung nghĩa.

Câu 2:

Một lời độc thoại của nhân vật Lê Tương Dực là: “Trẫm phải nghe ngươi dạy khôn à?”

Câu 3:

Nhận xét về những chỉ dẫn sân khấu của vua Lê Tương Dực: Những chỉ dẫn sân khấu của vua Lê Tương Dực như (cau mặt, giận dữ, rút kiếm) đã khắc họa rõ tính cách hung bạo, độc đoán, ngang ngược và tàn nhẫn của nhân vật. Các chỉ dẫn này giúp người đọc và người xem hình dung rõ diễn biến tâm lí ngày càng căng thẳng của nhà vua, đồng thời làm nổi bật bản chất của một hôn quân không chấp nhận lời can gián, sẵn sàng dùng bạo lực để bịt miệng trung thần.

Câu 4:

Đoạn văn sử dụng biện pháp liệt kê "Thôn Duy Nhạc, Ngô Văn Tổng, Trần Tuân, Phùng Chương…" kết hợp với phóng đại “tiếng oán thán nổi lên đầy trời”.

Các biện pháp tu từ này có tác dụng làm nổi bật quy mô rộng lớn, mức độ nghiêm trọng của nạn giặc giã và sự khổ cực của nhân dân, cho thấy xã hội đang rơi vào cảnh loạn lạc, bất ổn. Qua đó, tác giả tố cáo sự suy đồi của triều đình và sự vô trách nhiệm của vua Lê Tương Dực.

Cáu 5:

Qua đoạn trích, có thể thấy xã hội thời Lê Tương Dực vô cùng rối ren và mục nát. Triều đình suy yếu, vua mê muội, sa đọa, bỏ bê việc nước. Nhân dân lầm than vì thuế khóa nặng nề, giặc giã nổi lên khắp nơi, đời sống cực khổ, oán thán dâng cao. Đó là bối cảnh của một xã hội phong kiến đang trên bờ vực sụp đổ.

Câu 1:

Lê Tương Dực là hình ảnh tiêu biểu cho một ông vua tàn bạo, hoang dâm và vô trách nhiệm với đất nước, nhân dân. Trong đoạn trích, nhà vua hiện lên với lối sống xa hoa, chỉ biết hưởng lạc, chìm đắm trong các cuộc vui vô độ mà không màng đến nỗi khổ của lê dân. Lê Tương Dực cho xây dựng những công trình xa xỉ, tốn kém sức người, của cải, khiến nhân dân lầm than, oán thán. Sự tàn ác của ông thể hiện ở việc coi mạng sống con người như cỏ rác, bắt dân phu lao dịch cực nhọc để thỏa mãn thú vui cá nhân. Không chỉ vậy, Lê Tương Dực còn là một ông vua mù quáng, tự cao tự đại, không nghe lời can gián của bề tôi trung nghĩa. Qua việc khắc họa nhân vật này, tác giả đã lên án gay gắt tầng lớp vua chúa phong kiến suy đồi, đồng thời bày tỏ niềm xót thương sâu sắc trước số phận đau khổ của nhân dân. Nhân vật Lê Tương Dực trở thành bài học cảnh tỉnh về hậu quả của quyền lực khi bị sử dụng sai lầm.

Câu 2:

Trong xã hội hiện đại, bên cạnh những người trẻ năng động, giàu lòng nhân ái, vẫn còn tồn tại một thực trạng đáng lo ngại: bệnh vô cảm trong một bộ phận giới trẻ. Đây là căn bệnh tinh thần nguy hiểm, làm con người thờ ơ trước nỗi đau và bất hạnh của người khác. Vô cảm là thái độ sống lạnh lùng, dửng dưng, thiếu sự quan tâm, chia sẻ với những gì diễn ra xung quanh. Biểu hiện của bệnh vô cảm ở giới trẻ khá rõ nét: thấy người gặp nạn nhưng không giúp đỡ, thờ ơ trước các vấn đề xã hội, chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân, thậm chí quay video, chụp ảnh thay vì cứu giúp người khác. Nhiều bạn trẻ sống khép kín trong thế giới riêng của mạng xã hội, thiếu sự gắn kết và đồng cảm với đời sống thực. Nguyên nhân của bệnh vô cảm xuất phát từ nhiều phía. Trước hết là do ảnh hưởng tiêu cực của lối sống thực dụng, đề cao vật chất. Bên cạnh đó, việc lạm dụng công nghệ, mạng xã hội khiến con người xa rời các mối quan hệ trực tiếp. Gia đình và nhà trường đôi khi chưa chú trọng đúng mức đến việc giáo dục đạo đức, lòng nhân ái cho thế hệ trẻ. Bệnh vô cảm gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Nó làm con người trở nên ích kỉ, lạnh nhạt, làm suy giảm các giá trị đạo đức tốt đẹp của xã hội. Một xã hội mà con người sống vô cảm sẽ thiếu tình yêu thương, thiếu sự đoàn kết và dễ rơi vào khủng hoảng niềm tin. Để khắc phục bệnh vô cảm, mỗi người trẻ cần rèn luyện cho mình lối sống nhân ái, biết yêu thương và chia sẻ. Gia đình, nhà trường và xã hội cần phối hợp giáo dục, khơi dậy tinh thần trách nhiệm và lòng đồng cảm ở giới trẻ. Chỉ khi biết quan tâm đến người khác, con người mới thực sự sống có ý nghĩa.

Câu 1:

Bài làm

Nhân vật Dung trong đoạn trích Hai lần chết của Thạch Lam là hình ảnh tiêu biểu cho số phận đau khổ của người phụ nữ trong xã hội cũ. Sinh ra trong một gia đình sa sút, Dung lớn lên trong sự hờ hững của cha mẹ và cuối cùng bị chính mẹ đẻ bán cho nhà giàu để lấy tiền. Bước vào cuộc sống làm dâu, Dung phải chịu cảnh lao động cực nhọc, bị mẹ chồng hà khắc, em chồng hắt hủi, còn người chồng thì nhu nhược, vô tâm. Nỗi đau của Dung không chỉ là thể xác mà còn là sự cô đơn, tuyệt vọng vì không có ai che chở, an ủi. Ngay cả gia đình ruột thịt cũng quay lưng với nàng khi nàng cầu cứu. Bị dồn ép đến bước đường cùng, Dung đã nghĩ đến cái chết như một cách giải thoát. Tuy nhiên, sau khi được cứu sống, nàng vẫn phải đối diện với sự lạnh lùng, tàn nhẫn của mẹ chồng và đành chọn cách trở về trong buồn bã. Qua nhân vật Dung, Thạch Lam thể hiện niềm xót thương sâu sắc đối với người phụ nữ và lên án xã hội bất công đã đẩy họ vào bi kịch.

Câu 2:

Bình đẳng giới là một trong những vấn đề quan trọng của xã hội hiện đại, thể hiện sự công bằng giữa nam và nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống. Bình đẳng giới không có nghĩa là nam và nữ giống hệt nhau, mà là cả hai đều được tôn trọng, tạo điều kiện phát triển và hưởng quyền lợi như nhau. Trong xã hội ngày nay, bình đẳng giới đã có nhiều chuyển biến tích cực. Phụ nữ ngày càng được học tập, làm việc, tham gia quản lí và khẳng định vai trò của mình trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Nam giới cũng dần được chia sẻ trách nhiệm trong việc nhà, nuôi dạy con cái. Tuy nhiên, trên thực tế, bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại. Ở nhiều nơi, phụ nữ vẫn bị coi nhẹ, phải gánh vác nhiều việc gia đình nhưng không được đánh giá đúng mức. Một số định kiến như “trọng nam khinh nữ”, phân biệt nghề nghiệp theo giới hay bạo lực gia đình vẫn chưa được xóa bỏ hoàn toàn. Nguyên nhân của tình trạng này xuất phát từ tư tưởng lạc hậu, thói quen lâu đời và nhận thức chưa đầy đủ của một bộ phận con người. Để thực hiện bình đẳng giới, cần có sự chung tay của toàn xã hội. Nhà nước cần ban hành và thực thi nghiêm các chính sách bảo vệ quyền lợi của cả nam và nữ. Gia đình và nhà trường phải giáo dục con người từ sớm về sự tôn trọng, yêu thương và chia sẻ. Bản thân mỗi người cũng cần thay đổi nhận thức, xóa bỏ định kiến giới. Bình đẳng giới không chỉ mang lại hạnh phúc cho mỗi cá nhân mà còn góp phần xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ và nhân ái hơn.


Câu1:

Luận đề của văn bản là:

Ý nghĩa và giá trị nghệ thuật của chi tiết “cái bóng” trong truyện Chuyện người con gái Nam Xương, qua đó khẳng định bi kịch của Vũ Nương bắt nguồn từ thói ghen tuông mù quáng của người chồng chứ không phải do lỗi của nàng hay do bản thân chi tiết cái bóng.

Câu 2:

Theo người viết, truyện hấp dẫn bởi tình huống người chồng sau nhiều năm đi lính trở về, bị chính lời nói ngây thơ của đứa con về “người cha khác” (thực chất là cái bóng) làm cho nghi ngờ vợ, dẫn đến bi kịch gia đình tan vỡ. Bởi đây là tình huống éo le, bất ngờ, buộc người đọc phải theo dõi đến tận cùng để tìm lời giải thích.

Câu 3:

Mục đích của người viết khi nhắc đến tình huống truyện ở phần mở đầu băn bản là: Giới thiệu vấn đề trung tâm cần bàn luận (chi tiết cái bóng gắn với bi kịch của Vũ Nương). Tạo sự dẫn dắt tự nhiên, thu hút người đọc, làm cơ sở để phân tích sâu hơn ý nghĩa của chi tiết nghệ thuật “cái bóng” ở các phần sau. Định hướng người đọc nhìn nhận bi kịch từ góc độ nghệ thuật xây dựng tình huống.

Câu 4:

Một chi tiết trình bày khách quan trong đoạn (2): Việc miêu tả trò chơi soi bóng trên tường là trò chơi dân gian quen thuộc trong đời sống xưa. Một chi tiết trình bày chủ quan trong đoạn (2)là: Nhận định: “Có lẽ vì muốn con luôn cảm thấy người cha vẫn có mặt ở nhà… nên người vợ đã chỉ vào cái bóng của mình mà nói với con rằng đó là cha của Đản.” c. Nhận xét về mối quan hệ giữa hai cách trình bày: Cách trình bày khách quan tạo cơ sở thực tế, tăng tính thuyết phục. Cách trình bày chủ quan giúp bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ, làm nổi bật tấm lòng yêu chồng thương con của Vũ Nương. Hai cách trình bày bổ sung cho nhau, giúp lập luận vừa chặt chẽ vừa giàu cảm xúc.

Câu 5:

người viết lại cho rằng chi tiết cái bóng là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc vì: Xuất phát từ đời sống sinh hoạt rất bình dị, quen thuộc. Được Nguyễn Dữ nâng lên thành một chi tiết nghệ thuật quan trọng, làm cơ sở tạo nên tình huống truyện độc đáo. Không phải nguyên nhân trực tiếp gây bi kịch, mà là phương tiện để bộc lộ thói ghen tuông mù quáng của người chồng. Thể hiện tấm lòng thủy chung, yêu chồng thương con sâu sắc của Vũ Nương, đồng thời góp phần làm nổi bật giá trị nhân đạo của tác phẩm.