Nguyễn Hoàng Khiêm
Giới thiệu về bản thân
Quan điểm "Chữ bầu lên nhà thơ" được tác giả Lê Đạt triển khai một cách sâu sắc và nhất quán, coi ngôn ngữ là thành tố quyết định danh vị, tài năng và số phận của người làm thơ.
Ý kiến "nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ" là một hình ảnh ẩn dụ đầy sức gợi, thể hiện quan niệm sâu sắc và độc đáo của nhà thơ Lê Đạt về bản chất của hoạt động sáng tạo thơ ca.
1. Thơ gắn liền với cảm xúc bộc phát, "bốc đồng," làm thơ không cần cố gắng. Lí lẽ: "Những cơn bốc đồng thường ngắn ngủi." "Làm thơ không phải đánh quả. Và không ai trúng số độc đắc suốt đời." (Ý nói sự ngẫu hứng, may rủi không thể kéo dài và không làm nên một nhà thơ lớn). Sáng tạo thơ không chỉ là cảm xúc mà còn cần đến lý trí của người sáng tác. Dẫn chứng: Sử dụng câu nói của Trang Tử: "Vứt thánh bỏ trí" (để ngầm ý rằng việc quá đề cao cảm xúc tự nhiên, thiên bẩm mà xem nhẹ lao động trí tuệ là không đúng). 2. Thơ là vấn đề của năng khiếu đặc biệt, xa lạ với lao động lầm lũi và nỗ lực trau dồi học vấn. Lí lẽ: Khẳng định sự cần thiết của việc lao động chữ, khổ công "dùi mài" và cúc cung tận tụy với ngôn từ. Đề cao những nhà thơ "một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ." Dẫn chứng: Đưa ra các tấm gương nhà thơ lớn trên thế giới, những người đã khẳng định tài năng bằng sự lao động miệt mài: Lý Bạch, Xa-a-đi, Gớt, Ta-go. Trích dẫn quan niệm của nhà thơ gốc Pháp Ét-mông Gia-bét (Edmond Jabès): "Chữ bầu lên nhà thơ" và "Không có chức nhà thơ suốt đời" (ý nhấn mạnh việc làm thơ là một cuộc "bỏ phiếu" thường xuyên của ngôn ngữ, đòi hỏi sự làm mới, lao động liên tục). Nhận xét Về Lí lẽ và Dẫn chứng Tính thuyết phục cao: Những lí lẽ của Lê Đạt rất sắc sảo và thực tế, đặc biệt là quan niệm thơ không phải là "đánh quả" mà là sự lao động nghiêm túc, bền bỉ. Ông đã phân tích rõ sự khác biệt giữa cảm xúc bộc phát và lao động sáng tạo đích thực. Dẫn chứng uy tín: Việc dẫn chứng các tên tuổi lớn trong nền văn học thế giới như Lý Bạch, Gớt, Ta-go... đã tăng cường tính khách quan và phổ quát cho luận điểm của ông. Việc trích dẫn các danh ngôn của Trang Tử và Gia-bét cũng tạo sự hậu thuẫn triết lí sâu sắc. Mạch lạc và mới mẻ: Các lí lẽ được trình bày mạch lạc, nhưng lại mang một cá tính sáng tạo độc đáo của Lê Đạt. Quan niệm "lao động chữ" và "chữ bầu lên nhà thơ" buộc người đọc phải suy ngẫm lại về bản chất của hoạt động sáng tạo thơ ca. Về Quan điểm Tác giả Khẳng định vai trò của Ngôn ngữ: Tác giả đã đặt ngôn ngữ (chữ) vào vị trí trung tâm của quá trình sáng tạo. Chữ không chỉ là công cụ mà còn là "cử tri" quyết định danh vị của nhà thơ. Đề cao Lao động: Thông qua việc tranh luận, tác giả khẳng định: tài năng thiên bẩm cần thiết, nhưng lao động kiên trì và ý thức trách nhiệm với ngôn từ mới là yếu tố làm nên tầm vóc của một nhà thơ chân chính. Tính phản biện: Văn bản của Lê Đạt mang tinh thần phản biện mạnh mẽ, không chấp nhận những nhận định dễ dãi, phổ biến về thơ ca. Điều này rất có ý nghĩa trong việc định hướng sáng tạo và tiếp nhận văn học.
Tác giả "rất ghét": Cái quan niệm/định kiến quái gở: các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng tàn lụi sớm (hoặc chín sớm nên cũng lụi tàn). Tác giả "không mê": Những nhà thơ thần đồng, những người sống bằng vốn trời cho. Ngược lại, ông "ưa" đối tượng nào: Những nhà thơ chăm chỉ làm việc trên cánh đồng giấy, tích góp từng câu chữ, hạt chữ (hoặc những nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ).