Trần Minh Tiến

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Trần Minh Tiến
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1.

Trong truyện, bà ngoại hiện lên là biểu tượng cảm động của đức hi sinh thầm lặng. Bà đã lần lượt nhận tin ba người con hi sinh nơi chiến trường. Nỗi đau quá lớn khiến bà ngất đi và mắc chứng bệnh quên. Thế nhưng, ẩn sau sự “quên” ấy lại là một tình mẫu tử sâu nặng và sự chịu đựng phi thường. Bà giả vờ ngây dại, hỏi “gió đã về chưa” như một cách tự an ủi rằng các con vẫn trở về thăm mình. Bà không muốn chồng và các con nhìn thấy mình khóc, nên cố giấu nước mắt vào trong. Sự hi sinh của bà không ồn ào mà âm thầm, lặng lẽ: hi sinh cả nỗi đau riêng để người thân bớt day dứt. Hình ảnh bà khiến người đọc nghẹn ngào, thấm thía sự mất mát do chiến tranh gây ra và càng thêm trân trọng tình mẹ bao la, bền bỉ.

Câu 2.

Trong cuộc sống, mỗi con người đều phải đối diện với những giới hạn nhất định. Giới hạn có thể là hoàn cảnh gia đình, điều kiện kinh tế, năng lực bản thân hay những rào cản vô hình từ xã hội. Đứng trước những giới hạn ấy, người trẻ nên chấp nhận hay phá vỡ? Theo tôi, người trẻ cần biết chấp nhận những giới hạn tất yếu, nhưng đồng thời phải dũng cảm vượt qua, phá vỡ những giới hạn đang kìm hãm sự phát triển của mình.

Trước hết, có những giới hạn mang tính khách quan mà ta buộc phải chấp nhận. Không ai có thể lựa chọn nơi mình sinh ra, hoàn cảnh gia đình hay những biến cố bất ngờ của cuộc đời. Việc chấp nhận những điều không thể thay đổi giúp con người sống thực tế, bình tĩnh và trưởng thành hơn. Nếu chỉ mãi oán trách hay phủ nhận thực tế, ta sẽ dễ rơi vào bế tắc, tiêu cực. Chấp nhận ở đây không phải là đầu hàng, mà là hiểu rõ điểm xuất phát của mình để tìm hướng đi phù hợp.

Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở sự chấp nhận, người trẻ sẽ tự giới hạn tương lai của chính mình. Tuổi trẻ vốn là thời điểm của khát vọng và dấn thân. Nhiều người sinh ra trong hoàn cảnh khó khăn nhưng bằng ý chí và nỗ lực đã vươn lên mạnh mẽ. Họ không chấp nhận việc nghèo khó hay thiếu thốn tri thức sẽ quyết định số phận mình. Họ học tập không ngừng, rèn luyện bản thân, dám thử thách ở những môi trường mới. Chính tinh thần dám nghĩ, dám làm đã giúp họ phá vỡ những rào cản tưởng chừng không thể vượt qua.

Bên cạnh đó, còn có những “giới hạn” do chính chúng ta tự đặt ra: sợ thất bại, sợ bị chê cười, sợ khác biệt. Đây là những bức tường vô hình nhưng lại kìm hãm con người mạnh mẽ nhất. Khi dám bước ra khỏi vùng an toàn, dám thử sức với điều mới mẻ, ta mới nhận ra khả năng của mình rộng lớn hơn ta tưởng. Thất bại không phải là dấu chấm hết, mà là bài học cần thiết trên hành trình trưởng thành.

Tuy vậy, phá vỡ giới hạn không đồng nghĩa với hành động bồng bột, bất chấp mọi quy tắc. Người trẻ cần có mục tiêu rõ ràng, kế hoạch cụ thể và sự chuẩn bị kỹ lưỡng. Phá vỡ giới hạn phải đi cùng với trách nhiệm và hiểu biết. Nếu vượt qua giới hạn bằng sự liều lĩnh thiếu suy nghĩ, ta có thể phải trả giá đắt.

Tóm lại, giới hạn là một phần tất yếu của cuộc sống. Người trẻ cần đủ tỉnh táo để chấp nhận những điều không thể thay đổi, nhưng cũng phải đủ dũng cảm để vượt qua những rào cản cản trở sự phát triển của bản thân. Chỉ khi biết kết hợp hài hòa giữa chấp nhận và phá vỡ, ta mới có thể trưởng thành và tạo nên giá trị riêng cho cuộc đời mình.


Câu 1: Nhân vật chính của truyện là nhân vật “tôi” đứa cháu .  người kể chuyện và cũng là trung tâm thể hiện cảm xúc về bà ngoại. Câu 2: Bà ngoại bị bệnh quên sau khi nhận tin cậu Út hi sinh. Cú sốc quá lớn khiến bà ngất đi, từ đó trí nhớ không còn minh mẫn. Câu 3: Những lời bà hỏi: ... có phải gió đã về không? thể hiện nỗi nhớ thương, mong ngóng các con đã mất. Với bà, gió  là hình ảnh ẩn dụ cho những người con hi sinh trở về thăm mẹ. Câu hỏi lặp lại cho thấy tình mẫu tử sâu nặng và niềm tin, hi vọng đau đáu của bà.

Câu 4: Biện pháp nhân hoá (gió bay về , ngủ , đùa nghịch , giận dữ ) làm cho hình ảnh gió trở nên sinh động, có hồn. Qua đó thể hiện trí tưởng tượng của nhân vật tôi  và nỗi nhớ thương các cậu; đồng thời làm nổi bật tình cảm gia đình tha thiết, sâu nặng. Câu 5: Chiến tranh đã gây ra nhiều mất mát, đau thương cho con người. Những người ở lại phải sống trong nỗi nhớ thương và day dứt khôn nguôi. Họ có thể chịu tổn thương cả về tinh thần lẫn thể xác, như bà ngoại trong truyện. Tuy vậy, họ vẫn giữ tình yêu thương và niềm tin dành cho người đã khuất. Điều đó khiến ta càng trân trọng hòa bình hôm nay và biết ơn sự hi sinh của thế hệ đi trước.

Câu 1

Đoạn thơ thể hiện tình cảm sâu nặng, tha thiết của nhân vật trữ tình đối với người bà kính yêu. Sau khi đã “chạm chân mấy lần vòng tròn đất nước”, nhân vật nhận ra mình vẫn chưa đi hết “con đường làng” con đường gắn liền với bà, với tuổi thơ và cội nguồn. Những hình ảnh “rắc vàng”, “Gò Đống Mới”, “cánh đồng vừa thu hoạch xong vụ lúa” gợi lên không gian làng quê thân thương, bình dị, nơi in đậm dấu chân và bóng dáng của bà. Hình ảnh “bà ngủ thành thơi” vừa gợi sự mệt mỏi sau bao năm tần tảo, vừa ẩn chứa nỗi lo âu về tuổi già và sự hữu hạn của đời người. Câu thơ “Bà ơi rau khúc đã già” vang lên như một tiếng gọi đầy xót xa, thức tỉnh trong cháu nỗi ân hận khi “chưa từng học làm bánh khúc từ bà”. Đó là sự tiếc nuối vì chưa kịp trân trọng, chưa kịp giữ lấy những giá trị giản dị mà thiêng liêng. Qua đó, đoạn thơ bộc lộ tình yêu thương sâu sắc, lòng biết ơn và nỗi day dứt chân thành của người cháu đối với bà người đã gắn bó cả đời với quê hương và cháu con.

Câu 2

      Bản sắc văn hóa dân tộc là tổng hòa những giá trị truyền thống, phong tục, tập quán, lối sống và tinh thần được hun đúc qua nhiều thế hệ. Đó chính là linh hồn của một dân tộc, giúp mỗi con người nhận ra cội nguồn và bản sắc riêng của mình. Trong thời đại hội nhập và phát triển mạnh mẽ ngày nay, bản sắc văn hóa dân tộc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với tuổi trẻ.

Bên cạnh đó, bản sắc văn hóa là điểm tựa tinh thần giúp tuổi trẻ vững vàng trước những biến động của cuộc sống hiện đại. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, nhiều luồng văn hóa mới du nhập mạnh mẽ, nếu thiếu bản lĩnh, người trẻ dễ chạy theo lối sống thực dụng, đề cao vật chất, xem nhẹ giá trị tinh thần. Khi có nền tảng văn hóa vững chắc, tuổi trẻ sẽ biết chọn lọc tinh hoa nhân loại, tiếp thu cái mới một cách tỉnh táo mà không đánh mất bản thân.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy một bộ phận giới trẻ còn thờ ơ với truyền thống, sính ngoại, xem nhẹ tiếng mẹ đẻ và các giá trị văn hóa dân tộc. Điều đó đặt ra yêu cầu mỗi người trẻ cần tự ý thức hơn trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa. Những việc làm nhỏ như nói lời hay, sống nhân ái, tôn trọng phong tục, tìm hiểu lịch sử dân tộc đều góp phần bảo tồn văn hóa. Tóm lại, bản sắc văn hóa dân tộc có vai trò vô cùng quan trọng đối với tuổi trẻ trong thời đại ngày nay. Đó không chỉ là cội nguồn hình thành nhân cách mà còn là nền tảng để người trẻ hội nhập tự tin, phát triển bền vững. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa chính là trách nhiệm và cũng là niềm tự hào của mỗi thế hệ trẻ Việt Nam.

Không chỉ vậy, bản sắc văn hóa còn khơi dậy niềm tự hào dân tộc và ý thức cống hiến trong mỗi người trẻ. Tự hào về lịch sử hào hùng, về tiếng Việt giàu đẹp, về những phong tục tốt đẹp sẽ thôi thúc tuổi trẻ nỗ lực học tập, rèn luyện để xây dựng quê hương, đất nước. Trong thời đại công nghệ, người trẻ còn có thể góp phần quảng bá văn hóa dân tộc ra thế giới thông qua nghệ thuật, du lịch, mạng xã hội, qua đó khẳng định hình ảnh Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy một bộ phận giới trẻ còn thờ ơ với truyền thống, sính ngoại, xem nhẹ tiếng mẹ đẻ và các giá trị văn hóa dân tộc. Điều đó đặt ra yêu cầu mỗi người trẻ cần tự ý thức hơn trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa. Những việc làm nhỏ như nói lời hay, sống nhân ái, tôn trọng phong tục, tìm hiểu lịch sử dân tộc đều góp phần bảo tồn văn hóa.

  Tóm lại, bản sắc văn hóa dân tộc có vai trò vô cùng quan trọng đối với tuổi trẻ trong thời đại ngày nay. Đó không chỉ là cội nguồn hình thành nhân cách mà còn là nền tảng để người trẻ hội nhập tự tin, phát triển bền vững. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa chính là trách nhiệm và cũng là niềm tự hào của mỗi thế hệ trẻ Việt Nam.

Câu 1. Nhân vật trữ tình là “cháu” – người con xa quê, đang hồi tưởng và trò chuyện với bà, gắn với con đường làng quê tuổi thơ. Câu 2. Những câu thơ miêu tả dáng hình, trạng thái của “cái ngõ xoan nhà bà”: Cái ngõ xoan nhà bà / Lối rất quanh co, đường vàng rơm rạ” “Cái ngõ xoan / Sáng nay rưng rức” “Chập chờn cánh chuồn / Nặng cơn mưa bão trước” → Gợi hình ảnh con ngõ nhỏ, quanh co, mộc mạc, gắn với thiên nhiên và cảm xúc buồn thương, rung động. Câu 3. Biện pháp nhân hóa trong câu: Trên luống ngô, khoai, lạc, rau khúc ngã buồn  → Tác giả gán cho cây cối trạng thái “buồn” như con người, làm cảnh vật trở nên có hồn, thể hiện nỗi xót xa, thương cảm trước thiên nhiên sau mưa bão, đồng thời bộc lộ tâm trạng trầm lắng của nhân vật trữ tình. Câu 4. Hai chữ chùng chỉnh  thể hiện: Bước đi chậm chạp, do dự, nặng nề. Gợi tâm trạng lưu luyến, ngại rời xa, bâng khuâng khi hòa vào dòng đời mà quên dần con đường quê và ký ức tuổi thơ. → Diễn tả rất tinh tế nỗi niềm xa quê, sợ đánh mất cội nguồn. Câu    Để tuổi trẻ trôi qua không nuối tiếc, trước hết ta cần sống có ước mơ và mục tiêu rõ ràng. Hãy học tập và rèn luyện nghiêm túc để tích lũy tri thức, kỹ năng cho tương lai. Ta cũng nên trân trọng gia đình, quê hương và những ký ức đẹp của tuổi thơ. Dám thử thách bản thân, không ngại thất bại để trưởng thành hơn mỗi ngày. Quan trọng nhất là sống chân thành, có trách nhiệm và biết yêu thương, sẻ chia với mọi người.

Câu 1. Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do. Câu 2. Một số từ ngữ tiêu biểu thể hiện hình ảnh biển đảo và đất nước là     Biển mùa này sóng dữ, Hoàng Sa, bám biển, biển Tổ quốc Tổ quốc, màu cờ nước Việt, máu ngư dân, giữ nước. Câu 3. Biện pháp tu từ so sánh  “Mẹ Tổ quốc vẫn luôn ở bên ta / Như máu ấm trong màu cờ nước Việt”

Tác dụng: làm nổi bật hình ảnh Tổ quốc gần gũi, thiêng liêng, gắn bó máu thịt với mỗi con người, khơi gợi tình yêu và niềm tự hào dân tộc. Câu 4. Tình yêu sâu nặng với Tổ quốc Niềm tự hào dân tộc Sự trân trọng, biết ơn những người giữ biển Ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo. Câu 5.    Bảo vệ biển đảo là trách nhiệm thiêng liêng của mỗi người Việt Nam. Em nhận thức rõ rằng biển đảo không chỉ là lãnh thổ mà còn là máu xương của bao thế hệ cha ông. Vì vậy, em sẽ ra sức học tập tốt để sau này góp phần xây dựng đất nước. Em cũng tích cực tuyên   truyền, giữ gìn môi trường biển và không làm những việc gây hại đến biển đảo. Mỗi hành động nhỏ hôm nay sẽ góp phần giữ vững chủ quyền mai sau.

Câu 1. Văn bản thể hiện tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ tình trong hoàn cảnh sống nơi đất khách quê người – San Diego, Mỹ , xa quê hương, nhìn cảnh vật lạ mà nhớ quê nhà. Câu 2. Những hình ảnh khiến nhân vật trữ tình ngỡ như quê ta  Mây trắng bay Đồi nhuộm vàng Nắng vàng trên núi xa Bụi đường.

 Những cảnh quen thuộc gợi liên tưởng đến quê hương. Câu 3. Cảm hứng chủ đạo của văn bản là nỗi nhớ quê hương da diết, sâu lắng của người xa xứ, xen lẫn cảm giác bỡ ngỡ trước cảnh vật nơi đất lạ. Câu 4. Tâm trạng của nhân vật trữ tình khi cảm nhận hình ảnh nắng vàng, mây trắng: Ở khổ đầu: cảm xúc ngỡ ngàng, vui mừng, tưởng như đang ở quê nhà. Ở khổ ba: cảm xúc lắng lại, buồn nhớ, nhận ra đó chỉ là quê người , càng thêm nhớ quê hương thật sự.   Khác nhau: từ ngỡ ngàng, gần gũi sang nhớ thương, xa cách. Câu 5.       Em ấn tượng nhất với hình ảnh: “Bụi đường cũng bụi của người ta” Vì hình ảnh này cho thấy rất rõ cảm giác xa lạ nơi đất khách.  cảnh có thể giống quê, nhưng bản chất vẫn không phải quê mình, qua đó làm nổi bật nỗi nhớ quê sâu sắc của nhân vật trữ tình.

Câu 1.  ngôi kể thứ ba

Câu 2.

Người kể chuyện chủ yếu trần thuật theo điểm nhìn của nhân vật Việt

Câu 3.    

Gợi không khí: So sánh âm thanh chiến trận khốc liệt, dữ dội với âm thanh lễ hội dân gian mõ, trống đình tạo ra sự đối lập nhưng cũng gắn kết, làm cho tiếng súng trở nên quen thuộc, gần gũi và mang âm hưởng hào hùng của dân tộc, gợi nhớ về tinh thần kháng chiến. Nhấn mạnh quy mô: Cho thấy sự phối hợp nhịp nhàng, mạnh mẽ của các loại vũ khí, như một trận đánh lớn, mang tầm vóc lịch sử, có sức mạnh áp đảo.

Câu 4.

Yêu nước và căm thù sâu sắc: Sẵn sàng tòng quân diệt giặc để trả thù cho gia đình, thể hiện qua mối thù "sâu nặng" với Mĩ - ngụy. Kiên cường, gan dạ: Dù bị thương nặng, lạc đơn vị, trong đêm tối cô đơn, Việt vẫn giữ tư thế chiến đấu, khao khát được cầm súng, chiến đấu. Tình cảm gắn bó sâu sắc: Rất yêu thương, gắn bó với gia đình ba má, chị Chiến, Út em và đồng đội anh Tánh , luôn nhớ về họ trong những lúc hiểm nguy. Hào hùng, lạc quan: Tinh thần chiến đấu sôi nổi, tiếng súng địch lại khiến Việt quên đi đau đớn, cảm thấy thân thuộc, vui sướng, sẵn sàng xung phong.

Câu 5.

Truyền cảm hứng về lòng yêu nước: Nhắc nhở thế hệ trẻ về sự hy sinh của cha ông, khơi dậy lòng tự hào dân tộc. Nhấn mạnh giá trị gia đình và truyền thống cách mạng: Dù trong hoàn cảnh hiện đại, câu chuyện vẫn nhắc nhở về cội nguồn, về trách nhiệm tiếp nối truyền thống tốt đẹp của gia đình, dân tộc. Khơi gợi trách nhiệm với đất nước: Dù không còn chiến tranh, tinh thần xung kích, cống hiến của Việt (ở phiên bản thời bình) vẫn là lời nhắc nhở về việc góp sức xây dựng, bảo vệ đất nước.

Câu 1. ngôi kể thứ nhất

Câu 2. Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật văn xuôi tự sự, biểu cảm , sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, cảm xúc để bộc lộ nội tâm nhân vật và thế giới tự nhiên.

Câu 3. Sự phát triển tâm lí nhân vật: Truyện tập trung miêu tả sự thay đổi tâm lí, nhận thức của nhân vật Hoài từ việc muốn sở hữu chim đến việc thấu hiểu và tôn trọng chúng, thể hiện rõ sự trưởng thành.

Câu 4. Lòng nhân hậu, tình yêu thương chân thành: Hoài đồng cảm sâu sắc với hoàn cảnh của đôi chim, tưởng tượng cuộc sống của chúng và cầu mong chúng được yên ổn.

Câu 5. Yêu thương và tôn trọng sự sống: Hiểu rằng động vật cũng có gia đình, có quyền sống tự do, không nên vì sở thích cá nhân mà bắt nhốt chúng. Không can thiệp vào tự nhiên: Để chúng tự do sinh sống, tìm kiếm thức ăn và xây tổ ở môi trường tự nhiên. Nhận thức đúng đắn về tình yêu: Yêu thương không phải là chiếm hữu, mà là để cho cái mình yêu được hạnh phúc và phát triển tự nhiên.

Câu 1 phuong thức biểu đạt chính là: biểu cảm     

Câu 2

Văn bản gợi nhắc đến các truyện cổ tích nổi tiếng của Andecxen như Nàng tiên cá em là nàng tiên, biển mặn mòi nước mắt, hóa con người , Nàng công chúa và hạt đậu thử thách tình yêu , và đặc biệt là Cô bé Lọ Lem truyện cổ tích nói chung hoàng tử vô tình, sự dang dở của tình yêu, cái kết như que diêm cuối cùng.       

Câu 3        

Việc gợi nhắc các tác phẩm của Andersen như "Nàng tiên cá", "Cô bé Lọ Lem", "Cô bé bán diêm" (qua hình ảnh "que diêm cuối cùng") trong bài thơ giúp tác giả: 1. Tạo sự đồng cảm, gần gũi với độc giả, đặc biệt những người cùng thế hệ lớn lên với cổ tích, làm nền cho câu chuyện tình yêu buồn. 2. Nâng tầm cảm xúc, từ chuyện tình yêu cá nhân lên tầm vóc lãng mạn, bi kịch, huyền ảo. 3. Làm sâu sắc thêm chủ đề mất mát, tan vỡ tình yêu, sự thật phũ phàng đối lập với mơ ước cổ tích.

Câu 4

Biện pháp so sánh "Biển mặn mòi như nước mắt của em" có giá trị gợi tả nỗi buồn, sự mặn chát, đắng cay của biển cả hòa quyện với nỗi đau của tình yêu tan vỡ, đồng thời tô đậm vẻ đẹp mong manh, sự hy sinh của người em (nàng tiên cá), khiến tình yêu cổ tích trở nên bi tráng, khắc khoải, làm nổi bật tâm trạng day dứt, nuối tiếc của nhân vật trữ tình khi tình yêu không trọn vẹn như truyện cổ tích.

Câu 5

Trong khổ thơ cuối, nhân vật trữ tình hiện lên với vẻ đẹp thấu hiểu, đồng cảm sâu sắc với bi kịch tình yêu, sự hy sinh của nàng tiên cá, thể hiện một tâm hồn nhạy cảm, lãng mạn khi chấp nhận cả những điều dang dở, bão tố của tình yêu như một định mệnh đẹp đẽ, cuối cùng là sự dâng hiến trọn vẹn, cháy bỏng như que diêm cuối cùng, mang đậm màu sắc cổ tích nhưng cũng đầy hiện thực đau thương.



Câu 1 phuong thức biểu đạt chính là: biểu cảm     

Câu 2

Văn bản gợi nhắc đến các truyện cổ tích nổi tiếng của Andecxen như Nàng tiên cá em là nàng tiên, biển mặn mòi nước mắt, hóa con người , Nàng công chúa và hạt đậu thử thách tình yêu , và đặc biệt là Cô bé Lọ Lem truyện cổ tích nói chung hoàng tử vô tình, sự dang dở của tình yêu, cái kết như que diêm cuối cùng.       

Câu 3        

Việc gợi nhắc các tác phẩm của Andersen như "Nàng tiên cá", "Cô bé Lọ Lem", "Cô bé bán diêm" (qua hình ảnh "que diêm cuối cùng") trong bài thơ giúp tác giả: 1. Tạo sự đồng cảm, gần gũi với độc giả, đặc biệt những người cùng thế hệ lớn lên với cổ tích, làm nền cho câu chuyện tình yêu buồn. 2. Nâng tầm cảm xúc, từ chuyện tình yêu cá nhân lên tầm vóc lãng mạn, bi kịch, huyền ảo. 3. Làm sâu sắc thêm chủ đề mất mát, tan vỡ tình yêu, sự thật phũ phàng đối lập với mơ ước cổ tích.

Câu 4

Biện pháp so sánh "Biển mặn mòi như nước mắt của em" có giá trị gợi tả nỗi buồn, sự mặn chát, đắng cay của biển cả hòa quyện với nỗi đau của tình yêu tan vỡ, đồng thời tô đậm vẻ đẹp mong manh, sự hy sinh của người em (nàng tiên cá), khiến tình yêu cổ tích trở nên bi tráng, khắc khoải, làm nổi bật tâm trạng day dứt, nuối tiếc của nhân vật trữ tình khi tình yêu không trọn vẹn như truyện cổ tích.

Câu 5

Trong khổ thơ cuối, nhân vật trữ tình hiện lên với vẻ đẹp thấu hiểu, đồng cảm sâu sắc với bi kịch tình yêu, sự hy sinh của nàng tiên cá, thể hiện một tâm hồn nhạy cảm, lãng mạn khi chấp nhận cả những điều dang dở, bão tố của tình yêu như một định mệnh đẹp đẽ, cuối cùng là sự dâng hiến trọn vẹn, cháy bỏng như que diêm cuối cùng, mang đậm màu sắc cổ tích nhưng cũng đầy hiện thực đau thương.