Phạm Hồng Dương

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Phạm Hồng Dương
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

KỂ VỀ TRUYỀN THUYẾT SƠN TINH - THỦY TINH

Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, số truyền thuyết ly kỳ ý nghĩa. Trong số đó, câu chuyện về cuộc giao tranh bất tận giữa Sơn Tinh, vị thần núi hùng mạnh, Thủy Tinh, chúa tể biển cả, luôn khiến tôi đặc biệt ấn tượng bởi không chỉ một câu chuyện thần kỳ còn khúc ca về tinh thần quật cường dựng nước giữ nước của dân tộc ta.

Truyền thuyết bắt đầu khi Vua Hùng thứ XVIII muốn tìm người tài đức để cưới công chúa Mỵ Nương. Lời thách đố được đưa ra rất đỗi phi thường: ai mang sính lễ gồm "một cặp sừng giác một đôi ngà voi chín ngà, một trăm ván chín chồng ngựa chín hồng mao hai trăm tấm lụa tốt nhất" đến trước thì sẽ được kết duyên. Thủy Tinh, vốn chúa tể miền sông nước, tự tin vào sức mạnh của mình, đã dâng lên những báu vật từ biển cả. Tuy nhiên, Sơn Tinh, vị thần miền non cao, đã nhanh chóng tìm được tất cả lễ vật, thậm chí còn vượt xa yêu cầu của nhà vua. Trong khoảnh khắc quyết định, khi tiếng gáy trưa chưa kịp vang lên, Sơn Tinh đã rước công chúa về núi Tản Viên.

Thủy Tinh cùng tức giận thua cuộc. Từ đó, năm nào Thủy Tinh cũng dâng nước biển lên để đánh chiếm đất đai của Sơn Tinh, hòng cướp lại công chúa. Mỗi lần Thủy Tinh dâng nước, Sơn Tinh lại lấy đất bồi lên cao hơn, khiến núi đồi càng thêm vững chãi. Cuộc chiến diễn ra ác liệt: Thủy Tinh mưa gọi gió, dâng nước biển dâng cao ngập cả cây cỏ, còn Sơn Tinh thì dùng phép thuật dời non lấp biển, đất đá chất chồng lên để ngăn chặn dòng nước dữ. Cứ như thế, cuộc chiến kéo dài không hồi kết qua hết năm này sang năm khác.

một truyền thuyết về các vị thần, nhưng câu chuyện này đã khéo léo lồng ghép ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Đối với em, truyền thuyết này một lời nhắc nhở hùng hồn về thiên tai (lũ lụt) người dân Việt Nam phải hứng chịu qua nhiều thế hệ, đồng thời ca ngợi ý chí kiên cường, bất khuất của tổ tiên ta trong cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên bảo vệ bờ cõi. Thủy Tinh hung dữ đến đâu, Sơn Tinh vẫn luôn chiến thắng, thể hiện niềm tin vào sự chiến thắng cuối cùng của sức mạnh chính nghĩa ý chí đoàn kết.

Câu 1.

Văn bản trên được viết theo thể thơ lục bát (một thể thơ truyền thống của Việt Nam, với cấu trúc dòng sáu chữ dòng tám chữ xen kẽ).

Câu 2.

Đêm nay thầy đâu rồi
Nhớ thầy, em lại lặng ngồi em nghe...

Các tiếng hiệp vần (vần lưng/vần liền) với nhau là: rồi ngồi.

Câu 3.

Biện pháp tu từ nhân hoá trong dòng thơ "Nghe trăng thở động tàu dừa" (gán hành động "thở" của con người cho "trăng") đem lại tác dụng:

  • Tăng tính biểu cảm  gợi hình: Khiến hình ảnh "trăng" trở nên sống động,  hồn  gần gũi như một sinh thể.
  • Gợi không gian yên tĩnh  huyền ảo: Hành động "trăng thở" gợi lên sự tĩnh lặng tuyệt đối của đêm khuya, khiến ta cảm nhận được cả những rung động rất nhỏ như tiếng trăng đang khẽ khàng "thở", làm nổi bật sự kết nối tinh tế giữa con người  thiên nhiên.
  • Thể hiện cảm nhận tinh tế của nhân vật trữ tình: Cho thấy sự rung động  lắng nghe sâu sắc của nhân vật "em" trước vẻ đẹp của cảnh vật, đặc biệt  khi lắng nghe lời thơ của thầy.

Câu 4. (

Khi thầy đọc thơ, hình ảnh quê hương hiện lên cùng sống động, gần gũi, nên thơ tràn đầy ức:

  • Tươi sáng, rực rỡ: Tiếng thơ mang theo sắc màu ("đỏ nắng, xanh cây"), lan tỏa  bao trùm không gian quanh nhà.
  • Gợi cảm giác hoài niệm, thân thương: Tiếng thơ đưa người nghe trở về với những hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam ("mái chèo nghiêng mặt sông xa")  gợi nhớ về  ức tuổi thơ, về người thân yêu ("tiếng  năm xưa").
  • Hòa quyện với thiên nhiên huyền ảo: Tiếng thơ dường như làm thiên nhiên cũng trở nên  hồn,  sự sống ("trăng thở động tàu dừa")  gần gũi với những hiện tượng tự nhiên quen thuộc ("chuyển cơn mưa giữa trời").

Tóm lại, hình ảnh quê hương hiện lên qua tiếng thơ của thầy không chỉ khung cảnh vật chất còn không gian của cảm xúc, của ức sự rung động lãng mạn.

Câu 5.

(Đây câu hỏi mở, câu trả lời sẽ dựa trên một hình ảnh gợi ý, học sinh thể chọn hình ảnh khác giải thích hợp lý).

Em thích nhất hình ảnh "Tiếng thơ đỏ nắng, xanh cây quanh nhà".

do:

  • Sức mạnh của thơ ca: Hình ảnh này sử dụng phép liệt   đảo ngữ kết hợp với sắc màu, cho thấy tiếng thơ không chỉ  âm thanh  còn  sức mạnh thay đổi cả không gian.  làm cho cảnh vật trở nên tươi sáng ("đỏ nắng"), tràn đầy sức sống ("xanh cây").
  • Gợi cảm giác lan tỏa, ấm áp: Hình ảnh gợi cảm giác thơ ca đã lan tỏa khắp mọi nơi, mang lại sự ấm áp của ánh nắng  sự sống động của cây xanh, thể hiện sự ảnh hưởng tích cực, mãnh liệt của lời thơ  người thầy đối với tâm hồn người nghe.