HÒA MINH TUỆ

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của HÒA MINH TUỆ
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Trong hành trình học tập của mình, em đã gặp rất nhiều thầy cô, nhưng người để lại cho em nhiều ấn tượng sâu sắc nhất chính là thầy giáo dạy Toán. Thầy không chỉ là người truyền đạt kiến thức mà còn là người truyền cảm hứng cho em mỗi ngày đến lớp.

Thầy có dáng người cao, giọng nói rõ ràng và ánh mắt luôn nghiêm nghị nhưng ẩn chứa sự quan tâm. Ban đầu, em cảm thấy hơi sợ thầy vì thầy khá nghiêm khắc. Tuy nhiên, càng học, em càng nhận ra sự nghiêm khắc đó xuất phát từ mong muốn học sinh tiến bộ.

Những giờ học Toán của thầy luôn thú vị. Thầy không chỉ giảng bài mà còn đưa ra nhiều ví dụ gần gũi để chúng em dễ hiểu. Khi học sinh chưa hiểu, thầy kiên nhẫn giảng lại từng chút một. Có lần em không làm được bài tập khó, thầy đã dành thời gian ở lại sau giờ học để hướng dẫn em. Nhờ vậy, em dần tự tin hơn với môn Toán mà trước đây em từng rất sợ.

Điều em quý nhất ở thầy là sự tận tâm. Thầy luôn theo sát từng học sinh, nhắc nhở chúng em học tập và rèn luyện. Thầy thường nói rằng: “Chỉ cần cố gắng, ai cũng có thể tiến bộ.” Câu nói ấy đã trở thành động lực giúp em không ngừng nỗ lực.

Đối với em, thầy giống như một người lái đò thầm lặng, ngày ngày đưa chúng em cập bến tri thức. Em cảm thấy thật may mắn khi được học thầy. Em sẽ luôn ghi nhớ những lời dạy của thầy và cố gắng học tập thật tốt để xứng đáng với công lao của thầy.

Trong lòng mỗi người dân Việt Nam, hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh luôn thiêng liêng và cao quý. Người không chỉ là một nhà hoạt động cách mạng vĩ đại mà còn là biểu tượng tinh túy nhất của tinh thần dân tộc. Nhắc đến Bác, cảm xúc trào dâng nhất có lẽ là lòng biết ơn sâu sắc trước sự hy sinh vô bờ bến của Người, đặc biệt là bước ngoặt lịch sử: cuộc ra đi tìm đường cứu nước năm 1911. Năm ấy, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành mới 21 tuổi, rời xa gia đình, quê hương xứ Nghệ đầy hoài bão. Đứng trước bến cảng Nhà Rồng, với đôi bàn tay trắng và cái tên mới Văn Ba, Bác không ra đi tìm danh lợi, mà ra đi với một trái tim cháy bỏng yêu nước. Đó là thời điểm đất nước đang rên xiết dưới ách nô lệ, bao cuộc khởi nghĩa thất bại khiến lòng người đau đáu. Bác quyết định sang Pháp – đất nước của kẻ thù – để tìm hiểu xem họ làm thế nào, rồi trở về giúp đồng bào. Sự ra đi ấy thật cảm động! Đó là sự từ bỏ tuổi trẻ, sự bình yên của gia đình để dấn thân vào con đường bôn ba khắp năm châu bốn biển. 10 năm ròng rã, Bác làm đủ nghề: phụ bếp, cào tuyết, chụp ảnh... để sống và hoạt động, dấu chân Người in dấu trên nhiều đại lục. Tình yêu quê hương của Bác lớn lao đến mức, dù xa quê gần nửa thế kỷ, giọng nói, tiếng quê cha đất tổ vẫn vẹn nguyên, và tấm lòng luôn hướng về miền Nam đau thương.  Sự dũng cảm, kiên định của Bác khi dời quê hương không chỉ là câu chuyện lịch sử, mà là bài học sâu sắc về lòng yêu nước cho thế hệ trẻ. Hành trình ấy đã mở ra một kỷ nguyên mới, mang lại ánh sáng tự do cho dân tộc Việt Nam. Cảm ơn Bác, người cha già kính yêu, người đã mang lại độc lập cho dân tộc.

Dân tộc Việt Nam để có được hòa bình như hôm nay đã phải trải qua biết bao nhiêu cuộc chiến. Trong những cuộc chiến đó, luôn có sự hi sinh của các anh hùng, liệt sĩ. Họ là những chiến sĩ trên chiến trường, nói cách khác là nơi tiền tuyến. Ở hậu phương, trong những năm tháng chiến tranh, cũng có biết bao là sự hi sinh thầm lặng của người phụ nữ. Nhắc đến đây, tôi nghĩ tới nhân vật dì Bảy trong bài tản văn Người ngồi đợi trước hiên nhà của Huỳnh Như Phương.

Nhân vật Dì Bảy là một người phụ nữ để lại trong tôi nhiều sự thương mến và cảm phục khó nói thành lời. Khi mới 20 tuổi, độ tuổi xuân thì nhất, dì đã được gả đi. Dượng Bảy lại phải đi tập kết và chiến đấu. Vậy là từ ngày cưới, cả hai vợ chồng dì chưa được ở cạnh nhau bao lâu. Họ gặp nhau chỉ qua những cánh thư. 20 năm sau, Dượng Bảy mới có thể nhờ người gửi chiếc nón bài thơ cho dì làm quà và để chứng tỏ tình cảm của mình, để an ủi những người đang chờ mong. Thế nhưng, trước khi chiến tranh kết thúc khoảng mươi ngày, dì Bảy đã chở thành người phụ nữ góa chồng. Vậy là suốt hơn 20 năm chờ đợi, biết bao thương nhớ, biết bao buồn tủi, biết bao là những nỗi lo lắng, bồn chồn, cuối cùng dượng Bảy đã không thể cho dì được một hạnh phúc trọn vẹn.

Đến khi nghe tin bản thân trở thành góa phụ, dì Bảy vẫn cứ lầm lũi ngồi bên bậc thềm, nhìn ra xa như trông đợi điều gì. Dì Bảy đã phải hi sinh hạnh phúc cá nhân mình vì nghĩa lớn. Tôi biết, không chỉ có dì Bảy, mà còn có rất nhiều người phụ nữ trên dải đất hình chữ S này cũng chung cảnh ngộ như dì. Họ đều đã hi sinh thầm lặng, cao cả cho cuộc kháng chiến, để đất nước được thống nhất và phát triển. Chúng ta, những thế hệ hôm nay phải biết ơn và làm được điều gì để đền đáp được công ơn đó.

Dì Bảy đã cho tôi hiểu về đức hi sinh của con người. Tôi tin rằng thế hệ tôi và những thế hệ mai sau sẽ đều ghi nhớ công ơn của các thế hệ trước. Nhưng tôi cũng mong sẽ không còn ai phải chịu cảnh ngộ, phải hi sinh như dì Bảy.

Trong chương trình ngữ văn 7, em đã được tìm hiểu rất nhiều những tác phẩm văn học đặc sắc. Trong đó em ấn tượng với nhân vật Võ Tòng, trong đoạn trích'' Người đàn ông cô độc giữa rừng''.

Chú tên là gì?, quê ở đâu cũng không rõ. Võ Tòng là tên mọi người gọi chú từ một sự tích trong truyên tàu. Chú Võ Tòng có hai hố mắt sâu hoắm, và từ trong đáy hố sâu thẳm đó, một cặp tròng mắt trắng dã, long qua long lại như sắc dao. Chú có một vết sẹo khủng khiếp chạy từ thái dương xuống cổ, vì chú đã từng vật lộn với một con hổ chúa.

cuộc đời chú thật bất hạnh, khi chú phải chịu nỗi oan ức thê thảm đã đẩy chú vào ngục tù. Trước khi đi tù, chú có một gia đình đàng hoàng, vợ của chú là một người xinh xắn. lúc vợ của chú chửa đứa con đầu lòng, vì vợ chú thèm ăn măng, chú bèn phải xách dao đến bụi tre đầu làng xắn một mụt măng. Khi về, chú đi qua bờ tre nhà tên địa chủ quyền thế nhất xã ấy cứ vung ba toong đánh lên đầu chú, chú đánh trả lại và chú xách dao đến ném trước nhà việc, bó tay chịu tội. Sau khi ra tù, vợ chú đã làm lẽ với tên địa chủ, còn đứa con trai độc nhất của chú chưa biết mặt đã chết từ khi chú ngồi trong tù. Chú không đi tìm tên địa chủ để quyết đấu mà bỏ làng ra đi vào rừng ở quanh năm săn bắt thú.

Chú Võ Tòng là người mạnh mẽ, gan dạ lại có tinh thần yêu nước sâu sắc được thể hiện trong cuộc chiến đấu với con hổ chúa. Khi đánh lại tên địa chủ và chú dũng cảm ra nhà việc nhận tội. Khi sẵn sàng làm nỏ tẩm thuốc cho ông Hai để bắn quân giặc.

Như vậy, chú Võ Tòng là nhân vật tiêu biểu đại diện cho những người dân Nam bộ phóng khoáng mạnh mẽ, gan dạ, có tinh thần yêu nước nồng nàn, da diết.


Sau khi đọc bài văn '' Đẽo cày giữa đường '' của tác giả Nguyễn Xuân Kính, em cảm thấy bài văn trên nói về sự thiếu chinh kiến, ba phải và không có lập trường vững vàng.

Ban đầu, anh ta dốc hết vốn liếng để làm nghề nhưng lại không có kế hoạch kinh doanh cụ thể, không xác định được đối tượng khách hàng hay loại cày phù hợp với nhu cầu thị trường. Vào một hôm anh ta đang bán hàng thì gặp phải một ông cụ khuyên là ''Phải đẽo cho cao, cho to'' anh ta nghe theo ngay mà không suy sét. Sau đó, anh ta lại gặp phải một bác dân làng nói ''Phải đẽo nhỏ hơn, thấp hơn '', anh ta lại đổi ý làm theo dẫn đến hàng không bán được. Cuối cùng, anh ta nghe theo lời của người miền núi làm cày cho voi cày, anh ta đẽo hỏng hết gỗ, mất sạch vốn liếng.

Qua câu chuyện trên, em đã rút ra bài học không nên vội vàng tin vào lời khuyên của người khác mà cần phải có ý kiến riêng của mình.