Hoàng Thị Phương Thảo

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Hoàng Thị Phương Thảo
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)
a. Tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa trong lớp phủ thổ nhưỡng (đất):
  • Quá trình feralit mạnh: Do khí hậu nóng, ẩm, mưa nhiều, quá trình phong hóa diễn ra sâu sắc, tạo lớp đất feralit dày, màu đỏ vàng đặc trưng (chiếm diện tích lớn nhất).
  • Sự phân hóa theo mùa: Mưa tập trung theo mùa khiến quá trình rửa trôi (mùa mưa) và tích tụ (mùa khô) diễn ra, hình thành các tầng đất khác nhau.
  • Đất phù sa phong phú: Hệ thống sông ngòi dày đặc, ẩm gió mùa tạo điều kiện hình thành các vùng đất phù sa màu mỡ (Đồng bằng sông Cửu Long, sông Hồng). 


b. Nét nổi bật về tình hình xã hội và các cuộc khởi nghĩa:
  • Nét nổi bật: Xã hội phân hóa giai cấp sâu sắc (địa chủ và nông dân). Tệ tham quan ô lại, cường hào ức hiếp nhân dân phổ biến. Tư tưởng Nho giáo độc tôn tạo ra xã hội trọng thi cử, quan trường.
  • Số lượng các cuộc khởi nghĩa: Hàng trăm cuộc khởi nghĩa (tiêu biểu: Phan Bá Vành, Lê Duy Lương, Nông Văn Vân...) diễn ra liên tục từ Bắc vào Nam.
  • Suy nghĩ: Điều này cho thấy mâu thuẫn giai cấp vô cùng gay gắt, triều đình phong kiến suy yếu, không còn khả năng kiểm soát tình hình và đời sống nhân dân quá cực khổ, muốn lật đổ chính quyền. 


Nguyễn Khuyến đã có một thời gian dài gắn bó với chốn quan trường, phục vụ cho dân cho nước. Song ông sớm từ bỏ chốn danh lợi thị phi do bất mãn với chính quyền để về quê ở ẩn. Với tư cách là một người trong cuộc ông thấu hiểu với nỗi vất vả, khốn khó của người dân dưới ách áp bức của thực dân phong kiến. Bài thơ Chốn quê được sáng tác với cảm hứng như thế. Toàn bài thơ là nỗi lòng của ông về cuộc sống khốn khổ trăm đường của nhân dân, ông thương cảm, xót xa cho những cảnh bất hạnh quần quật quanh năm mà đói nghèo vẫn đeo bám.

Thật ra đề tài về cuộc sống khốn khó của người nông dân trước cách mạng tháng tám không hiếm. Phải nói rất nhiều, những tác phẩm truyện ngắn hiện thực của Nguyễn Công Hoan, Phạm Duy Tốn, những bài thơ của nhiều tác giả khác cùng thời với Nguyễn Khuyến đều đã phản ánh rất nhiều. Song đến với bài thơ Chốn quê của Nguyễn Khuyến chúng ta thấy một màu sắc rất riêng. Ông khai thác trên nền đề tài vốn đã cũ để thổi vào đó luồng gió mới. Cũng là cảnh khổ, cái đói nghèo, cái sự khốn cùng của nhân dân nhưng lại được Nguyễn Khuyến diễn tả một cách nhẹ nhàng, thấm thía. Với những thi liệu rất gần gũi, quen thuộc bài thơ đã mở ra một không khí của chốn làng quê, tuy đói nghèo nhưng vẫn không túng quẫn. Đó là cái nhìn trân trọng của nhà thơ với số phận của những người nông dân trước cách mạng:

Mấy năm làm ruộng vẫn chân thua,
Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa.
Phần thuế quan Tây, phần trả nợ,
Nửa công đứa ở, nửa thuê bò.

Những câu thơ như là ông đang nói hộ nỗi niềm của những người nông dân nghèo khổ trong xã hội. Họ như đang ngồi lại với nhau để bộc bạch sự khốn khó của mình. Đó là những cảnh nghèo vất vả trong nhiều năm, bán mặt cho đất bán lưng cho trời vẫn chẳng ăn thua nghĩa là công cốc, chả bỏ ra được gì. Bởi đâu do như vậy? Chẳng phải do người lao động không cố gắng mà vì rất nhiều lý do chủ quan và khách quan khác. Thứ nhất là do mùa màng thất bát, thời tiết không ủng hộ. Thứ hai là do thuế sưu quá nặng, thuế để nộp quan tây, thuế để nộp địa chủ. Thứ ba là công thuê mướn người làm nửa công cho đứa ở, nửa công thuê bò làm ruộng… thành thử trừ tất cả đi người nông dân chẳng còn lại là bao. Cả một mùa vất vả một nắng hai sương ngoài ruộng đồng, thứ họ nhận lại được chẳng đáng với công sức đã bỏ ra. Phép đối và liệt kê đã được sử dụng rất chuẩn chỉnh thể hiện những khó khăn chồng chất khó khăn của người lao động. Đồng thời cũng thể hiện thái độ trân trọng, cảm thông của nhà thơ với những lo toan của người nông dân.

Sớm trưa dưa muối cho qua bữa,
Chợ búa trầu chè chẳng dám mua.
Cần kiệm thế mà không khá nhỉ,
Bao giờ cho biết khỏi đường lo?

Bốn câu thơ cuối là tiếng thở dài của người lao động. Vì cuộc sống vất vả, khốn khó nên họ đã tằn tiện tiết kiệm từng đồng hào. Bữa ăn đạm bạc chẳng có gì “sớm trưa dưa muối” để cho qua bữa, những thú vui giản dị như trầu chè cũng chẳng dám mua. Mọi thứ đã tiết kiệm hết mức có thể ấy thế mà đời sống vẫn chẳng thay đổi, chẳng khấm khá hơn được.

Câu thơ cuối khép lại bài thơ bằng một câu hỏi tu từ “Bao giờ cho biết khỏi đường lo?” đầy tâm trạng của người lao động. Bao giờ cho hết đường lo đây, nếu xã hội vẫn bất công, chế độ thực dân phong kiến vẫn đàn áp như bây giờ thì đời sống của người nông dân sẽ chẳng bao giờ tốt hơn được.

Bài thơ miêu tả cảnh sống khốn khó của người nông dân bằng ngòi bút chân thực. Nhà thơ như sống cùng với họ, thấu hiểu tâm trạng và nỗi niềm của họ, nói thay nỗi lòng của họ bằng một giọng thơ ngậm ngùi, chua xót. Qua đó chúng ta cũng hiểu thêm về con người Nguyễn Khuyến, một nhà thơ của làng quê Việt Nam, luôn sống và thấu hiểu người dân bằng tất cả tấm lòng của mình.

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: Tự sự (kể chuyện).
Câu 2: Ngôi kể: Ngôi thứ nhất, nhân vật "tôi" (Chương) kể chuyện.
Câu 3: Chủ đề: Kể về những kỉ niệm buồn vui, sự nỗ lực học tập và tình cảm gia đình ấm áp trong một mùa hè ôn thi của nhân vật tôi.
Câu 4: 
  • Từ ngữ địa phương: bậu phộng, rưng rưng, còm nhom, con mắm (trong văn cảnh, "đậu phộng" thường được coi là từ miền Nam thay cho lạc ở miền Bắc; "con mắm" là từ cảm thán thể hiện sự gầy gò).
  • Từ ngữ toàn dân tương ứng: Lạc.
    Câu 5: Chi tiết đó cho thấy nhân vật tôi là một người con hiếu thảo, biết thương mẹ, trân trọng tình cảm của mẹ. Dù rất ngán món canh, "tôi" vẫn cố gắng ăn hết vì không muốn mẹ buồn và để mẹ yên lòng, thể hiện sự trưởng thành và tinh tế trong tâm hồn.
    Câu 6:
    Tình cảm gia đình là điểm tựa tinh thần vững chắc nhất đối với mỗi con người. Giống như tình mẹ chăm chút qua tô canh bí đỏ hay sự quan tâm thầm lặng của ba trong đoạn trích, gia đình luôn che chở và tiếp sức cho ta vượt qua những khó khăn, áp lực của cuộc sống. Tình cảm đó không chỉ là tình yêu thương, mà còn là sự hi sinh, động viên, giúp ta có thêm ý chí và nghị lực. Khi thất bại, gia đình là nơi bình yên để quay về; khi thành công, đó là niềm vui nhân đôi. Trân trọng gia đình là trân trọng gốc rễ, giúp mỗi người vững bước trên hành trình trưởng thành. Vì vậy, ta cần biết yêu thương, hiếu thảo và quan tâm đến người thân từ những điều nhỏ bé nhất hàng ngày


Bài 1: Học sinh tự viết đoạn văn theo cảm nhận riêng, đảm bảo các ý chính sau: Bài 2

Học sinh tự viết bài văn nghị luận, đảm bảo các ý chính sau:

Bài 1: Học sinh tự viết đoạn văn theo cảm nhận riêng, đảm bảo các ý chính sau: Bài 2

Học sinh tự viết bài văn nghị luận, đảm bảo các ý chính sau:

Cậu 1 thể thơ tự do

Bài 2 những từ ngữ hình ảnh miêu tả quê hương của tác giả trong khổ thơ thứ nhất là:màu đỏ, đồng xanh.

Bài 3 từ " nhuộm" trong câu thơ này mang sắc thái nghĩa là tô điểm, làm đẹp

Bài 4 cảm hứng chủ đạo của bài thơ là tình yêu quê hương, đất nước và lòng biết ơn sâu sắc đối với những người đã hy sinh vì độc lập, tự do

Bài 5 Mạch cảm xúc của bài thơ chuyển từ niềm tự hào về vẻ đẹp và truyền thống anh hùng của quê hương sang nỗi xót xa, thương tiếc những người đã hy sinh và cuối cùng là sự trân trọng, biết ơn và ý thức trách nhiệm của thế hệ sau