Nguyễn Thị Yến Ngọc
Giới thiệu về bản thân
Bài 2 :
a. Tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa được thể hiện qua các yếu tố chính :
+ Tổng lượng bức xạ lên tới 110 - 160 kcal / cm2 / năm cán cân bức xạ dương từ 70 - 100 kcal / cm2 / năm.
+ Nhiệt độ trung bình năm trên 20°C (trừ vùng núi cao) và tăng dần từ Bắc vào Nam.
+ Số giờ nắng nhiều, đạt từ 1400 - 3000 giờ / năm
b. Nguyên nhân dẫn đến suy giảm tài nguyên sinh vật ở nước ta :
- Do thiên tai : ngập lụt, hạn hán, lũ lụt, ... làm giảm số lượng sinh vật, phá hủy môi trường sống của chúng
- Do thay đổi khí hậu : nhiệt độ tăng cao, lượng mưa thay đổi không đều làm thay đổi môi trường sống của sinh vật, khiến nhiều loài không thích nghi và chết dần.
- Do con người gây ra như chặt phá rừng, làm ô nhiễm môi trường, bắt cá săn bắt quá mức, giống lạ xâm nhập.
Bài 1 :
a. Những nét chính về tình hình kinh tế thời Nguyễn :
- Nông nghiệp : chú trọng khai hoang, di dân lập ấp, lập đồn điền ở các tỉnh phí Bắc và phía Nam
+ Tuy nhiên ruộng đất nằm trong tay bọn địa chủ cường hào nông dân không có ruộng đất để cày cấy phải đi lưu vong, hạn hán, lũ lụt thường xuyên xảy ra.
- Thủ công nghiệp :
+ Có những cải tiến nhất định về kĩ thuật nghề khai mỏ được đẩy mạnh, thợ thủ công bị bắt vào làm việc trong các quan xưởng nên một số nghành nghề không phát triển được.
- Thương nghiệp :
+ Hoạt động mua bán ở trong nước và ngoài nước ngày càng tăng.
+ Nhà nước có những quy định ngặt nghèo về thuế, mẫu mã và thi hành chính sách bế khoan tỏa cả.
+ Những đô thị trung tâm buôn bán từ thời kì trước như Thăng long, phố Hiến, Thanh Hà, Hội An...bị giảm sút
b. Nét nổi bật về tình hình xã hội thời Nguyễn nửa thế kỉ XIX :
- Đời sống của nhân dân nhất là nông dân ngày càng khổ cực
- Bị địa chủ, cường hào chiếm đoạt ruộng đất quan lại tham nhũng, tô thuế nặng nề.
- Lũ lụt, hạn hán, nạn đói thường xuyên xảy ra.
- Những cuộc khởi nghĩa nông dân đã diến ra như : khởi nghĩa của Phan Bá Vành và Cao Bá Quát, Nông Văn Vân,...
Số lượng của các cuộc khởi nghĩa gợi cho em suy nghĩ là mâu thuẫn xã hội gay gắt, sự bất mãn của dân chúng đối với chính sách của triều đình Nguyễn, sự sẵn sàng của dân chúng đấu tranh vì quyền lợi của mình, sự yếu kém của triều Nguyễn.
Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ lớn của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX. Thơ ông thường gắn bó với làng quê và cuộc sống của người nông dân. Bài thơ “Chốn quê” đã khắc họa chân thực cuộc sống nghèo khó, lam lũ của người dân quê trong xã hội cũ, đồng thời thể hiện nỗi xót xa, cảm thông sâu sắc của tác giả trước cảnh đời cơ cực ấy. Ngay từ hai câu thơ đầu, tác giả đã nói lên sự vất vả của người nông dân: “Mấy năm làm ruộng vẫn chân thua, Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa.” Hai câu thơ cho thấy người nông dân quanh năm vất vả làm ruộng nhưng vẫn không thoát khỏi cảnh thiếu thốn. Dù chăm chỉ lao động nhưng họ vẫn “chân thua”, nghĩa là luôn thua thiệt, nghèo khổ. Hết vụ chiêm lại mất mùa, vụ mùa cũng thất bát. Cách diễn đạt lặp lại “chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa” càng nhấn mạnh sự khó khăn, bấp bênh của cuộc sống người nông dân. Hai câu thơ tiếp theo nói rõ hơn nguyên nhân khiến người nông dân càng thêm khổ cực: “Phần thuế quan Tây, phần trả nợ, Nửa công đứa ở, nửa thuê bò.” Trong xã hội phong kiến và thực dân lúc bấy giờ, người nông dân phải chịu nhiều loại thuế nặng nề. Họ phải nộp thuế cho chính quyền thực dân (“quan Tây”), đồng thời còn phải trả những khoản nợ chồng chất. Không chỉ vậy, họ còn phải thuê người làm hoặc thuê bò để cày ruộng. Những chi phí ấy khiến cuộc sống vốn đã nghèo khó lại càng thêm chật vật. Đến hai câu thơ tiếp theo, tác giả khắc họa bữa ăn và sinh hoạt hằng ngày của người dân quê: “Sớm trưa dưa muối cho qua bữa, Chợ búa trầu chè chẳng dám mua.” Bữa ăn của họ rất đạm bạc, chỉ có “dưa muối” qua ngày. Những thứ bình thường như trầu, chè ở chợ mà họ cũng không dám mua vì quá nghèo. Qua đó, ta thấy rõ sự thiếu thốn và khó khăn trong đời sống của người nông dân thời bấy giờ. Hai câu thơ cuối thể hiện tâm trạng và nỗi lo lắng của người dân quê: “Cần kiệm thế mà không khá nhỉ, Bao giờ cho biết khỏi đường lo?” Dù họ sống rất cần cù, tiết kiệm nhưng cuộc sống vẫn không khá lên được. Câu hỏi cuối bài thơ như một lời than thở đầy chua xót. Đó cũng là nỗi băn khoăn, lo lắng về tương lai mờ mịt của người nông dân khi họ không biết đến bao giờ mới thoát khỏi cảnh nghèo khổ. Bằng giọng thơ chân thực, mộc mạc và giàu cảm xúc, bài thơ “Chốn quê” đã phản ánh rõ nét cuộc sống lam lũ, cơ cực của người nông dân trong xã hội cũ. Qua đó, tác giả bày tỏ sự cảm thông sâu sắc đối với họ, đồng thời cho thấy tấm lòng gắn bó của nhà thơ với quê hương và cuộc sống của người dân. Tóm lại, bài thơ “Chốn quê” không chỉ phản ánh hiện thực cuộc sống khó khăn của người nông dân mà còn thể hiện tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Khuyến. Tác phẩm giúp người đọc hiểu rõ hơn về cuộc sống nông thôn Việt Nam trong xã hội cũ và càng thêm trân trọng giá trị của cuộc sống hôm nay.
Câu 1 :
Phương thức biểu đạt chính của truyện là tự sự.
Câu 2 :
Ngôi kể của truyện là ngôi thứ nhất.
Câu 3 :
Chủ đề của văn bản là thể hiện tình cảm gia đình, đặc biệt là tình cảm yêu thương và sự quan tâm của con dành cho mẹ.
Câu 4 :
Từ ngữ địa phương trong câu văn "Bí đỏ nấu với đậu phộng thêm vài cọng rau om, ngon hết biết." là từ đậu phộng.
Một từ toàn dân tương ứng là đậu lạc (lạc)
Câu 5 :
Chi tiết trên cho thấy:
Nhân vật “tôi” rất thương và quan tâm đến mẹ, thấy mẹ buồn thì cũng buồn theo và cố gắng làm mẹ vui dù bản thân không thích ăn canh bí đỏ.
Câu 6 :
Tình cảm gia đình có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi con người. Gia đình là nơi ta được yêu thương, che chở và chia sẻ mọi niềm vui nỗi buồn trong cuộc sống. Khi gặp khó khăn, gia đình luôn là chỗ dựa vững chắc giúp ta vượt qua thử thách. Tình cảm giữa cha mẹ và con cái cũng giúp mỗi người sống tốt hơn và biết quan tâm đến người khác. Vì vậy, mỗi chúng ta cần biết trân trọng và giữ gìn tình cảm gia đình. Đồng thời phải yêu thương, kính trọng và hiếu thảo với cha mẹ.
Câu 1 :
Bài thơ "Bài học đầu cho con" của Đỗ Trung Quân đã chạm đến trái tim em bằng một tình cảm thật dung dị, mộc mạc nhưng vô cùng sâu sắc. Tác giả khéo léo lồng ghép hình ảnh đất nước vào lời ru của mẹ, khiến em nhận ra rằng tình yêu quê hương không phải điều gì cao xa, mà bắt đầu từ những điều bình dị nhất như tình yêu thương mẹ, tiếng ru à ơi êm ái, hay mùi thơm của lúa. Hình ảnh "mẹ và đất nước / Chia đều nỗi nhớ thương" khiến em bồi hồi, xúc động, nhận ra rằng mẹ chính là cội nguồn, là non sông thu nhỏ. Bài thơ thôi thúc em phải biết yêu quý, trân trọng mảnh đất mình sinh ra, phải giữ gìn non sông gấm vóc như đã trân trọng tình mẹ. Đó là một bài học ý nghĩa, nhắc nhở thế hệ trẻ về lòng biết ơn và trách nhiệm với Tổ quốc. Câu 2 :
Quê hương, mảnh đất chôn nhau cắt rốn, không chỉ là nơi ta sinh ra mà còn là chiếc nôi nuôi dưỡng tâm hồn, là bến đỗ bình yên trong tâm trí mỗi người. Như nhà văn Nguyễn Tuân từng nói: "Quê hương là nơi mỗi con người tìm về, dù ở đâu, dù thế nào". Tác phẩm văn học, với những ký ức tuổi thơ tươi đẹp và hình ảnh bình dị, đã khơi gợi sâu sắc ý nghĩa thiêng liêng ấy, nhắc nhở chúng ta về giá trị không thể thay thế của quê hương. Trước hết, quê hương là cội nguồn của ký ức tuổi thơ, là nền móng hình thành nhân cách. Những hình ảnh quen thuộc như con đường làng, bờ đê, dòng sông, tiếng ru của mẹ, hay hương lúa đồng nội... đã khắc sâu vào tâm trí, tạo nên những kỷ niệm đẹp đẽ, làm nên con người chúng ta. Chính những ký ức đó, dù bình dị đến đâu, cũng là món quà quý giá, là điểm tựa tinh thần vững chắc cho chúng ta trên mọi nẻo đường đời, như lời bài thơ "Quê hương" của Đỗ Trung Quân đã vẽ nên: "Quê hương là cầu tre nhỏ... Là chùm khế ngọt... Là con diều biếc tuổi thơ con thả trên đồng". Tiếp theo, quê hương là điểm tựa tinh thần và nguồn sức mạnh vô hình. Khi xa nhà, bất chợt gặp người đồng hương hay nghe một làn điệu dân ca, ta như tìm thấy sự đồng cảm, sẻ chia, một cảm giác thân thuộc đến lạ kỳ, xoa dịu nỗi nhớ nhung và cô đơn. Quê hương tiếp thêm động lực, giúp ta hoàn thiện bản thân, để trở thành người có ích, cống hiến cho sự phát triển của quê hương, đất nước, để rồi khi nhìn lại, ta thấy cuộc đời mình trọn vẹn và ý nghĩa hơn. Hơn thế nữa, quê hương còn mang ý nghĩa của trách nhiệm và lòng tự hào dân tộc. Mỗi người đều mang trong mình dòng máu, bản sắc của quê hương, đất nước. Yêu quê hương, ta có ý thức gìn giữ và phát huy những giá trị truyền thống, tham gia xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh. Như lời Bác Hồ dạy "Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước", tình yêu quê hương gắn liền với tình yêu đất nước, thôi thúc ta hướng về cội nguồn, giữ gìn và làm giàu thêm mạch nguồn văn hóa dân tộc. Tóm lại, quê hương không chỉ là nơi chốn mà còn là một phần máu thịt, là di sản tinh thần vô giá. Từ những câu chuyện, hình ảnh trong văn học, ta nhận thức rõ hơn rằng, hãy biết trân trọng, yêu thương và góp sức mình để quê hương mãi là điểm tựa, là niềm tự hào, là bến đỗ bình yên cho mỗi người Việt Nam.
Câu 1 : Bài thơ trên thuộc thể thơ sáu chữ.
Câu 2 : Bài thơ "Bài học đầu cho con" của Đỗ Trung Quân là lời của người cha nói với người con.
Câu 3 :
Trong bài thơ "Bài học đầu cho con" của Đỗ Trung Quân, 4 hình ảnh được dùng để mô tả về quê hương là hoa bí, giậu mồng tơi, bờ dâm bụi, hoa sen trắng,...
Nhận xét của em về những hình ảnh đó là dùng để miêu tả một quê hương bình dị, thân thương như vòng tay mẹ, đầy ắp kỉ niệm tuổi thơ và có ý nghĩa thiêng liêng như tình mẹ, nhắc nhở mỗi người nhớ về cội nguồn.
Câu 4 :
Trong bài thơ "Bài học đầu cho con" của Đỗ Trung Quân, biện pháp tu từ so sánh được sử dụng xuyên suốt để biến những hình ảnh quê hương giản dị (chùm khế ngọt, con diều biếc, đường đi học,...) thành những biểu tượng đẹp đẽ, thân thương, làm nổi bật tình cảm thiêng liêng, gần gũi của quê hương đối với mỗi con người, giúp thế hệ trẻ cảm nhận được giá trị cội nguồn và bài học đầu tiên về tình yêu quê hương, đất nước. Tác dụng chính là tạo hình ảnh sinh động, gợi cảm, khẳng định quê hương là tình yêu, là cội nguồn không thể thiếu trong quá trình trưởng thành.
Câu 5 :
Hai dòng thơ "Quê hương mỗi người chỉ một / Như là chỉ một mẹ thôi" của Đỗ Trung Quân khẳng định tình yêu quê hương thiêng liêng, không thể thay thế như tình mẹ, coi đó là bài học nhân sinh đầu đời, là cội nguồn hình thành nhân cách, nhắc nhở mỗi người phải biết trân trọng, gắn bó với nơi chôn rau cắt rốn, bởi ai không nhớ quê hương thì không thể thành người trọn vẹn, sâu sắc.
Cuộc sống hiện đại đang kéo con người vào nhịp sống nhanh, sống vội, sống cuồng nhiệt khiến cho khoảng cách cũng như mối quan hệ như bị kéo dãn ra. Có nhiều biểu hiện sai trái, lệch lạc cũng xuất phát từ lối sống này. Một trong những lối sống đang lên án chính là thói vô trách nhiệm. Thói vô trách nhiệm được hiểu là sự hờ hững, không quan tâm, không có trách nhiệm với việc làm của mình và của người khác. Trong cuộc sống hiện nay thói vô trách nhiệm đang hiển hiện và ngày càng gia tăng. Bạn vô trách nhiệm với chính bản thân mình, vô trách nhiệm với bạn bè, với gia đình và với nhiều mối quan hệ khác. Thói sống này ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của bạn và của nhiều người xung quanh. Khi sống trong một gia đình, lúc còn bé thì ba mẹ có trách nhiệm nuôi con cái trưởng thành. Sau này con cái khôn lớn, tự lập, tự lo cho cuộc sống của chính mình; ba mẹ đã về già thì con cái phải có trách nhiệm phụng dưỡng ba mẹ. Đây là nền nếp văn hóa vẫn được phát huy và gìn giữ trong mỗi gia đình. Hơn hết việc có trách nhiệm không chỉ là với người khác, mà nó còn là phải có trách nhiệm với chính bản thân mình. Có trách nhiệm với bản thân mình được hiểu là những suy nghĩ và hành động của bản thân luôn ở trong chế độ có kiểm soát. Mở rộng hơn nữa còn là có trách nhiệm với những người xung quanh mình. Đây là điều mà hiện nay rất nhiều người đã bị guồng quay cuộc sống quá phức tạp cuốn đi mất. Họ sống thờ ơ, dửng dưng, vô trách nhiệm không chỉ với người khác mà còn với chính bản thân mình. Ở lứa tuổi thanh niên, lối sống vô trách nhiệm với bản thân xuất hiện rất nhiều. Những hành vi, hành động của tuổi trẻ không được kiểm soát sẽ dẫn đến nhiều hậu quả sai lầm về sau. Một ví dụ điển hình cho thói vô trách nhiệm này là việc các cặp đôi yêu nhau hiện nay không có trách nhiệm với những hành động của mình. Việc sống thử với nhau khi yêu, rồi mang bầu, mọi chuyện được giải quyết bằng cách phá bỏ cái thai trong bụng. Đây chính là hành động vô trách nhiệm, sai lầm lớn khiến cho cuộc đời bạn về sau phải hối hận. Hiện nay, rất nhiều người đang sống ích kỉ, thờ ơ, lạnh nhạt, vô trách nhiệm với những người ở xung quanh mình. Nó đã để lại nhiều hậu quả mà chính bản thân họ sau này mới nhận ra. Trong những năm gần đây, cư dân mạng đang nhức nhối tình hình bố mẹ bỏ con cái ở cổng chùa, ở rừng; con cái đuổi bố mẹ ra khỏi nhà, không cho ăn, phải đi lang thang. Thực tế đau lòng này khiến cho chúng ta mất niềm tin vào con người. Chúng ta sống với nhau cần phải có trách nhiệm với nhau nhưng họ lại vô trách nhiệm như thế thì khác nào đang tự đẩy cuộc sống của mình vào sai lầm. Hậu quả của lối sống vô trách nhiệm rất nặng nề. Có rất nhiều cần chúng ta giúp đỡ ở ngoài kia nhưng chúng ta lại làm ngơ, ngó lơ, cứ lạnh lùng bước qua. Có thể hôm nay chúng ta đi qua một khu chợ sầm uất và bắt gặp cảnh tượng hai bà cháu đang ngửa chiếc nón rách để xin tiền về qua. Và chúng ta đã bước qua, chỉ ngoái nhìn và không làm gì. Đây chẳng phải là vô trách nhiệm, thờ ơ trước khó khăn của người khác hay sao. Khi cuộc sống quá nhanh, con người cạnh tranh khốc liệt với nhau, tranh giành địa vị, chức quyền và chúng ta đã quên mất trách nhiệm với bản thân và với những người xung quanh. Khi sống có trách nhiệm, chúng ta sẽ được nhiều người yêu mến và kính trọng. Mỗi người chúng ta là một cá thể đặc biệt tạo nên xã hội. Chúng ta cần phải sống có trách nhiệm để có thể xây dựng một xã hội phát triển lành mạnh hơn. Đây là điều cần thiết mà mỗi người cần phải rèn luyện.
Câu 1 : Truyện được kể theo ngôi thứ ba.
Câu 2 : Trong truyện cười Quỳnh thuộc kiểu nhân vật thông minh, mưu trí, đại diện cho trí tuệ dân gian, dùng tài năng và sự hóm hỉnh để vạch trần thói hư tật xấu, mỉa mai những kẻ dốt nát khoe khoang như ông Tú Cát.
Câu 3 : Nghĩa hàm ẩn trong lời của Quỳnh "Bụng ông nó đang kêu "ong óc" đây này! Tiếng cơm, tiếng gà, tiếng cá, lợn,... chứ có phải tiếng chữ, tiếng sách đâu" có nghĩa hàm ẩn chế giễu và vạch trần sự dốt nát, khoe mẽ giả dối của lão trọc phú - bũng lão chỉ chứ đầy thức ăn (cơm, cá, lợn) chứ không chứa chút chữ nghĩa sách vở nào, và âm thanh "ong óc" là tiếng đói bụng không phải "tiếng sách" như lão tưởng tượng, qua đó mỉa mai lão "thùng rỗng kêu to".
Câu 4 : Thủ pháp gây cười của truyện là sự đối lập, mỉa mai, sâu cay giữa nhân vật trọc phú khoe mẽ, dốt nát ("thùng rỗng kêu to") và nhân vật thông minh Quỳnh cùng lời bình luận của người kể chuyện, tạo nên tiếng cười châm biếm kẻ không thực học mà ham hư danh.
Câu 5 : Tác giả dân gian sáng tác truyện nhằm mục đích phê phán, châm biếm thói học đòi làm sang, khoe khoang tri thức giả tạo của những kẻ nông cạn, thiếu hiểu biết nhưng lại cố tỏ ra uyên bác (như lão trọc phú), qua đó giáo dục, nhắc nhở mọi người phải tự trao dồi kiến thức thực chất, đề cao giá trị của việc học hành chân chính, tránh xa sự giả dối, khoác lác.
Câu 6 : Qua câu chuyện Phơi Sách, Phơi Bụng, em học đc bài học sâu sắc về giá trị tri thức và sự tự phụ, dốt nát.
Truyện cười dân gian "Phơi sách, phơi bụng" là một tác phẩm ngụ ngôn sâu sắc, sử dụng tiếng cười để phê phán thói xấu trong xã hội. Câu chuyện xoay quanh sự đối lập giữa Trạng Quỳnh thông minh, coi trọng tri thức thực chất và lão trọc phú dốt nát nhưng thích khoe khoang học thức một cách kệch cỡm. Qua tình huống Trạng Quỳnh "phơi bụng" chứa sách và sau đó vạch trần bụng lão trọc phú chỉ chứa "cơm gà cá lợn", tác giả dân gian đã đả kích mạnh mẽ thói học làm sang, học đòi mà không có sự tích lũy kiến thức thực sự. Bài học lớn nhất mà chúng ta nhận được là tri thức phải được trau dồi bằng sự cần cù, khiêm tốn, đừng bao giờ tự huyễn hoặc bản thân bằng vẻ bề ngoài rỗng tuếch hay "thùng rỗng kêu to".
Bài làm
Nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập trường, một ngày ý nghĩa đối với mỗi học sinh, lớp em đã có cơ hội tham gia một chuyến tham quan về nguồn đầy bổ ích. Đó không chỉ là một chuyến đi ngoại khóa đơn thuần, mà còn là hành trình tìm về cội nguồn, nơi những giá trị lịch sử và văn hóa được hun đúc, và là cơ hội để chúng em khắc ghi những kỷ niệm đẹp đẽ bên thầy cô, bè bạn. Từng khoảnh khắc của chuyến đi ấy, đến giờ vẫn còn vẹn nguyên trong tâm trí em, như những thước phim sống động, thôi thúc em ghi lại để chia sẻ trên tập san của trường. Ngay từ khi nhận được thông báo về chuyến đi, không khí háo hức đã lan tỏa khắp lớp. Chúng em cùng nhau chuẩn bị, từ những món quà nhỏ mang ý nghĩa tri ân đến việc tìm hiểu sơ lược về địa điểm sẽ đến. Từng ánh mắt lấp lánh niềm vui, từng lời thì thầm bàn luận về những điều thú vị sắp được khám phá, tất cả tạo nên một bức tranh rộn ràng, tràn đầy năng lượng tuổi trẻ. Khi chiếc xe lăn bánh rời khỏi cổng trường, dù có chút lưu luyến mái nhà thứ hai, nhưng trong lòng mỗi chúng em là sự mong chờ, háo hức hướng về phía trước. Cảnh vật hai bên đường lần lượt lướt qua, mỗi ngôi nhà, mỗi con đường dường như đều mang một câu chuyện riêng, thôi thúc trí tưởng tượng của chúng em bay xa. Điểm dừng chân của chúng em là. Ngay khi đặt chân đến nơi, một không gian tĩnh lặng, trang nghiêm đã bao trùm lấy chúng em. Những kiến trúc cổ kính, những hiện vật nhuốm màu thời gian, tất cả đều như đang thì thầm kể lại những câu chuyện lịch sử hào hùng. Chúng em đã cùng nhau dâng nén hương thơm, bày tỏ lòng thành kính đối với các bậc tiền nhân đã có công dựng nước và giữ nước. Thật xúc động khi được lắng nghe những bài thuyết minh đầy tâm huyết từ các hướng dẫn viên, họ đã giúp chúng em hình dung rõ hơn về cuộc sống, về những hy sinh và cống hiến của thế hệ đi trước. Em đặc biệt ấn tượng với bởi nó đã khắc sâu vào tâm trí em một bài học quý giá về lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và ý chí kiên cường. Không chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu lịch sử, chuyến đi còn mang đến những giây phút gắn kết tuyệt vời. Chúng em cùng nhau tham gia các hoạt động tập thể, chia sẻ những món ăn mang đậm hương vị quê nhà, cùng nhau ca hát dưới bầu trời trong xanh. Những tiếng cười nói rộn rã, những cái nắm tay thật chặt, tất cả đã xóa tan mọi khoảng cách, thắt chặt thêm tình bạn và sự sẻ chia. Dưới mái trường này, chúng em không chỉ là những người bạn học, mà còn là những người cùng nhau lớn lên, cùng nhau chia sẻ những khoảnh khắc đáng nhớ. Khi chuyến đi dần khép lại, lòng em dâng lên một cảm xúc thật khó tả. Vui vì những trải nghiệm tuyệt vời, tự hào vì được là một phần của lịch sử hào hùng dân tộc, nhưng cũng có chút tiếc nuối khi phải chia tay nơi đây. Chuyến đi về nguồn đã để lại trong em nhiều bài học quý giá hơn em tưởng. Em nhận ra rằng, việc tìm hiểu về cội nguồn không chỉ là trách nhiệm mà còn là niềm vinh dự. Nó giúp chúng em hiểu rõ hơn về giá trị của lịch sử, về ý nghĩa của sự hy sinh, từ đó trân trọng hơn cuộc sống hiện tại và có ý thức hơn trong việc gìn giữ, phát huy những giá trị tốt đẹp. Kết thúc bài viết, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Ban Giám hiệu nhà trường, các thầy cô giáo và Ban tổ chức đã tạo điều kiện để chúng em có một chuyến đi ý nghĩa như vậy. Chuyến đi về nguồn không chỉ là một kỷ niệm đẹp mà còn là một bài học sâu sắc, một hành trang quý báu để chúng em tiếp tục hành trình trưởng thành dưới mái trường thân yêu. Em tin rằng, những bài học từ chuyến đi này sẽ luôn đồng hành cùng chúng em trên suốt chặng đường phía trước.
Câu 1 :
Bài thơ "Nhớ Huế quê tôi" được viết theo thể thơ bảy chữ.
Câu 2 :
Những từ ngữ, hình ảnh miêu tả quê hương của tác giả trong khổ thơ thứ nhất là : sông núi vươn dài, núi sông, cò bay thẳng cánh, đồng không, Huế quê tôi ở giữa lòng. Thể hiện tình cảm gắn bó sâu sắc, Huế là nơi luôn hiện hữu trong tâm trí của tác giả.
Câu 3 :
Trong câu thơ này "nhuộm" mang sắc thái nghĩa biến đổi, bao trùm, nhấn mạnh sự khốc liệt của chiến tranh. "Bao lần máu đỏ nhuộm đồng xanh" nhấn mạnh sự hi sinh to lớn, sự mất mát, đau thương của chiến tranh đã gây ra những người anh hùng đã nằm xuống ở quê hương và đất nước này.
Câu 4 :
Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ quê hương da diết và niềm tự hào về truyền thống đấu tranh, về sự hi sinh anh hùng của người dân Huế.
Căn cứ vào nhà thơ liên tục nhắc đến Huế với tình cảm "quê tôi", "ở giữa lòng người", "mang Huế theo" thể hiện tình yêu sâu nặng, các hình ảnh về sông núi, giọng hò, con người Huế thể hiện lên nỗi nhớ thương. Bài thơ còn khắc họa hình ảnh những người con Huế hi sinh vì độc lập, tự do.
Câu 5 :
Mạch cảm xúc của bài thơ được triển khai theo 1 trình tự hồi tưởng và tự hào về quê hương Huế, gắn liền với những kỉ niệm và truyền thống cách mạng.
Khổ 1 : Mở đầu bằng lời tình cảm khẳng định mãnh liệt, sâu đậm : Huế không xa xôi mà nằm "ở giữa lòng" tác giả, là sự hòa quyện của sông núi và đồng không.
Khổ 2 : Cảm xúc chuyển sang những hồi tưởng gắn bó, gần gũi như sông hương, giọng hò mái đẩy, mang theo Huế vượt mọi không gian cách trở.
Khổ 3 và 4 : Mạch cảm xúc vỡ òa thành niềm tự hào khi nghĩ về người con xứ Huế kiên cường, bất khuất, có "ý chí xông pha", "dấn thân", "mở đường giải phóng". Đặc biệt cảm xúc và trân trọng những hi sinh cao cả cho độc lập, tự do.
Khổ 5 : Cảm xúc lắng đọng, trầm buồn khi nhắc đến những năm tháng đau thương, máu lửa của lịch sử Huế ,nhưng vẫn ánh lên niềm hi vọng, khí thế chuyển mình của đất nước.
Khổ 6 : Kết thúc bằng cảm xúc khắc khoải, nhớ thương quê mẹ, xen lẫn sự chờ mong, hoàn thành xứ mệnh. Mạch cảm xúc hồi tưởng - tự hào - trầm hùng khắc khoải tạo nên bức chân dung tơ mộng nhưng cũng đầy bi tráng về mảnh đất và con người Huế.
Câu 6 :
Dựa trên câu thơ "Có bao người Huế không về nữa/ Gửi đá ven rừng chép chiến công", chúng ta có thể suy ngẫm về sự hy sinh cao cả của những người con đã ngã xuống vì độc lập, tự do của dân tộc. Họ đã hiến dâng tuổi thanh xuân, máu xương cho quê hương, đất nước. Sự hy sinh ấy là vô giá, là nguồn động lực lớn lao để thế hệ trẻ noi theo và phát huy truyền thống yêu nước, bất khuất của dân tộc. Thế hệ trẻ ngày nay có trách nhiệm giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Chúng ta cần phải học tập, rèn luyện để trở thành những người có ích cho xã hội, góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh. Đồng thời, chúng ta cũng cần phải lên án những hành vi đi ngược lại với truyền thống đạo lý của dân tộc, bảo vệ những giá trị văn hóa tốt đẹp mà cha ông ta đã dày công vun đắp.