Nguyễn Văn Toản
Giới thiệu về bản thân
câu2
a. Tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa trong lớp phủ thổ nhưỡng:
Quá trình phong hóa: Diễn ra mạnh mẽ trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm cao, tạo nên lớp vỏ phong hóa dày.
Quá trình Feralit: Là quá trình hình thành đất đặc trưng. Mưa nhiều làm rửa trôi các chất bazơ dễ tan, tích tụ oxit sắt và nhôm, tạo nên loại đất Feralit có màu đỏ vàng, thường bị chua.
Sự xói mòn, rửa trôi: Do mưa tập trung theo mùa với cường độ lớn ở vùng đồi núi nên đất dễ bị xói mòn, rửa trôi, đặc biệt là ở những nơi mất lớp phủ thực vật.
b. Nguyên nhân dẫn đến suy giảm tài nguyên sinh vật ở nước ta:
Nguyên nhân con người (Chủ yếu):
Khai thác quá mức, sai quy định (chặt phá rừng, săn bắt động vật hoang dã trái phép).
Mở rộng diện tích đất canh tác, xây dựng khu công nghiệp, đô thị hóa làm mất môi trường sống tự nhiên.
Ô nhiễm môi trường (nước, đất, không khí) do rác thải và hóa chất.
Nguyên nhân tự nhiên:
Biến đổi khí hậu gây ra các hiện tượng cực đoan như hạn hán, lũ lụt, cháy rừng tự nhiên.
Dịch bệnh ở các loài sinh vật.
câu2
a. Tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa trong lớp phủ thổ nhưỡng:
Quá trình phong hóa: Diễn ra mạnh mẽ trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm cao, tạo nên lớp vỏ phong hóa dày.
Quá trình Feralit: Là quá trình hình thành đất đặc trưng. Mưa nhiều làm rửa trôi các chất bazơ dễ tan, tích tụ oxit sắt và nhôm, tạo nên loại đất Feralit có màu đỏ vàng, thường bị chua.
Sự xói mòn, rửa trôi: Do mưa tập trung theo mùa với cường độ lớn ở vùng đồi núi nên đất dễ bị xói mòn, rửa trôi, đặc biệt là ở những nơi mất lớp phủ thực vật.
b. Nguyên nhân dẫn đến suy giảm tài nguyên sinh vật ở nước ta:
Nguyên nhân con người (Chủ yếu):
Khai thác quá mức, sai quy định (chặt phá rừng, săn bắt động vật hoang dã trái phép).
Mở rộng diện tích đất canh tác, xây dựng khu công nghiệp, đô thị hóa làm mất môi trường sống tự nhiên.
Ô nhiễm môi trường (nước, đất, không khí) do rác thải và hóa chất.
Nguyên nhân tự nhiên:
Biến đổi khí hậu gây ra các hiện tượng cực đoan như hạn hán, lũ lụt, cháy rừng tự nhiên.
Dịch bệnh ở các loài sinh vật.
câu2
a. Tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa trong lớp phủ thổ nhưỡng:
Quá trình phong hóa: Diễn ra mạnh mẽ trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm cao, tạo nên lớp vỏ phong hóa dày.
Quá trình Feralit: Là quá trình hình thành đất đặc trưng. Mưa nhiều làm rửa trôi các chất bazơ dễ tan, tích tụ oxit sắt và nhôm, tạo nên loại đất Feralit có màu đỏ vàng, thường bị chua.
Sự xói mòn, rửa trôi: Do mưa tập trung theo mùa với cường độ lớn ở vùng đồi núi nên đất dễ bị xói mòn, rửa trôi, đặc biệt là ở những nơi mất lớp phủ thực vật.
b. Nguyên nhân dẫn đến suy giảm tài nguyên sinh vật ở nước ta:
Nguyên nhân con người (Chủ yếu):
Khai thác quá mức, sai quy định (chặt phá rừng, săn bắt động vật hoang dã trái phép).
Mở rộng diện tích đất canh tác, xây dựng khu công nghiệp, đô thị hóa làm mất môi trường sống tự nhiên.
Ô nhiễm môi trường (nước, đất, không khí) do rác thải và hóa chất.
Nguyên nhân tự nhiên:
Biến đổi khí hậu gây ra các hiện tượng cực đoan như hạn hán, lũ lụt, cháy rừng tự nhiên.
Dịch bệnh ở các loài sinh vật.
câu1
a. Những nét chính về tình hình kinh tế thời Nguyễn:
Nông nghiệp:
Nhà nước thực hiện nhiều biện pháp như: khai hoang, di dân lập ấp, lập đồn điền (nhất là ở phía Nam), tu sửa đê điều.
Tuy nhiên, ruộng đất vẫn tập trung vào tay địa chủ, cường hào; nông dân thiếu ruộng, đời sống bấp bênh.
Thủ công nghiệp:
Thủ công nghiệp nhà nước (đúc tiền, đóng tàu, sản xuất vũ khí...) rất phát triển.
Thủ công nghiệp trong nhân dân (dệt vải, làm gốm, rèn sắt...) vẫn duy trì nhưng chịu sự kiểm soát và thuế khóa nặng nề.
Thương nghiệp:
Nội thương phát triển với hệ thống chợ làng, chợ huyện mọc lên nhiều nơi.
Ngoại thương: Nhà nước nắm độc quyền ngoại thương, hạn chế giao lưu với các nước phương Tây (chính sách "Bế quan tỏa cảng"), chủ yếu buôn bán với các nước láng giềng như Trung Quốc, Xiêm...
b. Tình hình xã hội thời Nguyễn (nửa đầu thế kỉ XIX):
Nét nổi bật: Xã hội phân hóa sâu sắc. Đời sống nhân dân cực khổ do tô thuế nặng nề, phu dịch liên miên, thiên tai, dịch bệnh và sự tham nhũng của quan lại. Mâu thuẫn giữa nhân dân (đặc biệt là nông dân) với nhà nước phong kiến trở nên gay gắt.
Suy nghĩ về số lượng các cuộc khởi nghĩa:
Hàng trăm cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ nổ ra (như khởi nghĩa Phan Bá Vành, Lê Duy Lương, Lê Văn Khôi, Cao Bá Quát...) chứng tỏ sự bất mãn tột độ của nhân dân đối với triều đình.
Nó cho thấy sự khủng hoảng trầm trọng của chế độ phong kiến nhà Nguyễn ngay từ giai đoạn đầu.
bài làm
Bài thơ Chốn quê của Nguyễn Khuyến đã khắc họa chân thực cuộc sống nghèo khó, vất vả của người nông dân Việt Nam trong xã hội cũ. Qua những câu thơ giản dị nhưng giàu cảm xúc, tác giả thể hiện nỗi xót xa, thương cảm trước cảnh đời lam lũ của người dân quê.
Mở đầu bài thơ, tác giả nói đến công việc làm ruộng vất vả nhưng kết quả lại không như mong muốn:
“Mấy năm làm ruộng vẫn chân thua,
Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa.”
Hai câu thơ cho thấy sự cực nhọc của người nông dân khi phải quanh năm gắn bó với ruộng đồng nhưng vẫn luôn gặp thất bát. “Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa” diễn tả tình cảnh mất mùa liên tiếp, khiến cuộc sống vốn đã khó khăn lại càng thêm túng thiếu. Qua đó, ta thấy được nỗi lo toan thường trực của người nông dân trước thiên tai và cuộc sống bấp bênh.
Không chỉ vậy, người nông dân còn phải gánh chịu nhiều khoản thuế và nợ nần nặng nề:
“Phần thuế quan Tây, phần trả nợ,
Nửa công đứa ở, nửa thuê bò.”
Những câu thơ này phản ánh rõ sự áp bức trong xã hội lúc bấy giờ. Người nông dân làm lụng vất vả nhưng thành quả lại phải chia ra nhiều phần: một phần để đóng thuế, một phần để trả nợ. Thậm chí họ còn phải thuê bò, thuê người làm nên cuộc sống càng thêm khó khăn. Qua đó, tác giả đã bày tỏ sự cảm thông sâu sắc với nỗi khổ của người dân quê.
Đến những câu thơ tiếp theo, hình ảnh cuộc sống nghèo khó hiện lên rất rõ:
“Sớm trưa dưa muối cho qua bữa,
Chợ búa trầu chè chẳng dám mua.”
Bữa ăn của người nông dân chỉ có những món ăn đơn giản như dưa muối, đủ thấy cuộc sống thiếu thốn đến mức nào. Những thứ bình thường như trầu, chè ở chợ họ cũng không dám mua vì phải tiết kiệm từng chút một. Điều đó cho thấy cuộc sống của người nông dân vô cùng chật vật, luôn phải lo lắng cho miếng ăn hàng ngày.
Hai câu thơ cuối thể hiện tâm trạng và nỗi lo của người nông dân:
“Cần kiệm thế mà không khá nhỉ,
Bao giờ cho biết khỏi đường lo?”
Dù đã sống rất cần cù, tiết kiệm nhưng cuộc sống vẫn không khá lên. Câu hỏi tu từ ở cuối bài thơ như một lời than thở, thể hiện nỗi băn khoăn và mong muốn có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Qua đó, ta thấy được nỗi niềm day dứt của tác giả trước hoàn cảnh khó khăn của người dân quê.
Tóm lại, bài thơ “Chốn quê” đã phản ánh chân thực cuộc sống nghèo khổ, lam lũ của người nông dân trong xã hội xưa. Bằng ngôn ngữ giản dị, gần gũi, Nguyễn Khuyến đã bày tỏ sự đồng cảm và xót thương sâu sắc đối với họ. Bài thơ không chỉ giúp người đọc hiểu hơn về cuộc sống của người nông dân ngày trước mà còn khiến chúng ta thêm trân trọng những giá trị của cuộc sống hiện tại.
câu 1
Phương thức biểu đạt chính của truyện là tự sự.
câu 2
ngôi kể trong truyện là ngôi thứ nhất.
câu 3
chủ đề của văn bản là tình cảm gia đình, đặc biệt là tình yêu thương và sự quan tâm của cha mẹ dành cho con và tình cảm của người con dành cho mẹ.
câu 4
một từ ngữ địa phương trong câu văn trên là “ đậu phộng”
từ toàn dân tương ứng là “ lạc”
câu 5
chi tiết ấy đã gợi cho em suy nghĩ về tình cảm nhân vật tôi dành cho mẹ là rất thương yêu, biết quan tâm đến cảm xúc của mẹ và muốn làm mẹ vui dù cho bản thân thích ăn canh bí đỏ.
câu 6
bài làm
Tình cảm gia đình có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi con người. Gia đình là nơi yêu thương, che chở và luôn bên cạnh ta trong mọi hoàn cảnh. Nhờ có tình cảm của cha mẹ mà chúng ta có thêm động lực để học tập và cố gắng. Khi gặp khó khăn, gia đình cũng là nơi giúp ta vượt qua và trưởng thành hơn. Vì vậy mỗi người cần biết yêu thương, kính trọng và quan tâm đến các thành viên trong gia đình. Đó chính là điều làm cho cuộc sống trở nên ấm áp và ý nghĩa hơn.
câu 1:
bài làm
Bài thơ “Bài học đầu cho con” của Đỗ Trung Quân đã để lại trong em nhiều cảm xúc sâu lắng. Qua lời thơ giản dị mà tha thiết, tác giả gửi gắm bài học đầu tiên cho con về tình yêu quê hương, đất nước. Quê hương không chỉ là nơi ta sinh ra mà còn là cội nguồn nuôi dưỡng tâm hồn mỗi con người. Tình yêu ấy bắt đầu từ những điều rất gần gũi: con đường làng, dòng sông, mái nhà, tiếng ru của mẹ. Bài thơ nhắc nhở mỗi chúng ta phải biết trân trọng, gìn giữ và bảo vệ quê hương mình. Đọc bài thơ, em càng thêm yêu nơi chôn nhau cắt rốn của mình và tự nhủ phải sống tốt, học tập chăm chỉ để sau này góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.
câu 2:
bài làm
Quê hương là hai tiếng thiêng liêng, giản dị nhưng mang ý nghĩa vô cùng sâu sắc trong cuộc đời mỗi con người. Dù đi đâu, về đâu, quê hương vẫn luôn là điểm tựa tinh thần bền vững, là nơi neo giữ những yêu thương sâu nặng nhất.
Quê hương là nơi ta được sinh ra và lớn lên, là mảnh đất ghi dấu những kỉ niệm tuổi thơ hồn nhiên, trong sáng. Ở đó có mái nhà thân thương, có dòng sông êm đềm, có những con người hiền hậu đã nuôi dưỡng ta bằng tình yêu và sự chở che. Chính quê hương đã góp phần hình thành nhân cách, bồi đắp tâm hồn và dạy ta những bài học đầu tiên về cách làm người.
Không chỉ vậy, quê hương còn là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn. Khi con người đối mặt với khó khăn, thử thách trong cuộc sống, nghĩ về quê hương sẽ tiếp thêm niềm tin và nghị lực để vượt qua. Với những người xa quê, nỗi nhớ quê hương luôn da diết, bởi đó là nơi có gia đình, có cội nguồn không thể thay thế.
Tình yêu quê hương không chỉ thể hiện qua lời nói mà còn qua hành động cụ thể. Đó là ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa, bảo vệ môi trường sống, sống có trách nhiệm với cộng đồng. Mỗi người, dù ở vị trí nào, cũng cần nỗ lực học tập, lao động để góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp hơn. Ngược lại, cần phê phán những người sống thờ ơ, quên đi cội nguồn, chỉ biết đến lợi ích cá nhân.
Đối với em, quê hương là nơi em luôn hướng về với tất cả niềm yêu thương và tự hào. Em tự nhủ sẽ cố gắng học tập, rèn luyện đạo đức để mai này có thể đóng góp một phần nhỏ bé cho quê hương của mình.
câu 1:
bài thơ được viết theo thể thơ sáu chữ.
câu 2:
bài thơ là lời của “ người con “ nói với “ mọi người “.
câu 3:
4 hình ảnh được dùng để miêu tả quê hương là chùm khế ngọt, đường đi học, diều biếc, hoa cau trắng.
em có nhận xét về những hình ảnh này là những hình ảnh giản dị, quen thuộc, gần gũi và gợi tuổi thơ êm đềm, làm cho khái niệm “ quê hương” trở nên cụ thể, thân thương.
câu 4
so sánh: “Quê hương “ với “ chùm khế ngọt”
“Quê hương ” với “đường đi học”
“Quê hương” với “vòng tay ấm”
“Quê hương” với “đêm trăng tỏ”
nhờ biện pháp tu từ so sánh đã nhấn mạnh quê hương gắn liền với tuổi thơ, tình mẹ, kỷ niệm và gợi cảm xúc xúc động, gần gũi dễ đi vào lòng người.
đồng thời làm cho bài theo trở nên sinh động, hay hơn.
câu 5:
bài làm
Hai dòng thơ khẳng định giá trị thiêng liêng và duy nhất của quê hương trong cuộc đời mỗi con người. Quê hương không thể thay thế, giống như người mẹ – chỉ có một mà thôi. Dù đi đâu, làm gì, con người vẫn luôn hướng về nơi chôn nhau cắt rốn. Câu thơ nhắc nhở mỗi người phải biết trân trọng, yêu thương và gìn giữ quê hương của mình.
câu 1:
bài thơ được viết theo thể thơ sáu chữ.
câu 2:
bài thơ là lời của “ người con “ nói với “ mọi người “.
câu 3:
4 hình ảnh được dùng để miêu tả quê hương là chùm khế ngọt, đường đi học, diều biếc, hoa cau trắng.
em có nhận xét về những hình ảnh này là những hình ảnh giản dị, quen thuộc, gần gũi và gợi tuổi thơ êm đềm, làm cho khái niệm “ quê hương” trở nên cụ thể, thân thương.
câu 4
so sánh: “Quê hương “ với “ chùm khế ngọt”
“Quê hương ” với “đường đi học”
“Quê hương” với “vòng tay ấm”
“Quê hương” với “đêm trăng tỏ”
nhờ biện pháp tu từ so sánh đã nhấn mạnh quê hương gắn liền với tuổi thơ, tình mẹ, kỷ niệm và gợi cảm xúc xúc động, gần gũi dễ đi vào lòng người.
đồng thời làm cho bài theo trở nên sinh động, hay hơn.
câu 5:
bài làm
Hai dòng thơ khẳng định giá trị thiêng liêng và duy nhất của quê hương trong cuộc đời mỗi con người. Quê hương không thể thay thế, giống như người mẹ – chỉ có một mà thôi. Dù đi đâu, làm gì, con người vẫn luôn hướng về nơi chôn nhau cắt rốn. Câu thơ nhắc nhở mỗi người phải biết trân trọng, yêu thương và gìn giữ quê hương của mình.
câu 1:
bài thơ được viết theo thể thơ sáu chữ.
câu 2:
bài thơ là lời của “ người con “ nói với “ mọi người “.
câu 3:
4 hình ảnh được dùng để miêu tả quê hương là chùm khế ngọt, đường đi học, diều biếc, hoa cau trắng.
em có nhận xét về những hình ảnh này là những hình ảnh giản dị, quen thuộc, gần gũi và gợi tuổi thơ êm đềm, làm cho khái niệm “ quê hương” trở nên cụ thể, thân thương.
câu 4
so sánh: “Quê hương “ với “ chùm khế ngọt”
“Quê hương ” với “đường đi học”
“Quê hương” với “vòng tay ấm”
“Quê hương” với “đêm trăng tỏ”
nhờ biện pháp tu từ so sánh đã nhấn mạnh quê hương gắn liền với tuổi thơ, tình mẹ, kỷ niệm và gợi cảm xúc xúc động, gần gũi dễ đi vào lòng người.
đồng thời làm cho bài theo trở nên sinh động, hay hơn.
câu 5:
bài làm
Hai dòng thơ khẳng định giá trị thiêng liêng và duy nhất của quê hương trong cuộc đời mỗi con người. Quê hương không thể thay thế, giống như người mẹ – chỉ có một mà thôi. Dù đi đâu, làm gì, con người vẫn luôn hướng về nơi chôn nhau cắt rốn. Câu thơ nhắc nhở mỗi người phải biết trân trọng, yêu thương và gìn giữ quê hương của mình.