Tạ Thị Lan Anh
Giới thiệu về bản thân
a. Nội dung khởi nghĩa Hương Khê trong phong trào Cần Vương cuối thế kỉ XIX
- Khởi nghĩa Hương Khê (1885 - 1896): Địa bàn hoạt động của nghĩa quân gồm các huyện miền Tây Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Lãnh đạo cao nhất của cuộc khởi nghĩa là Phan Đình Phùng, cùng các tướng lĩnh tài ba, tiêu biểu là Cao Thắng.
+ Từ năm 1885 đến năm 1888 (giai đoạn xây dựng lực lượng và căn cứ chiến đấu): nghĩa quân được tổ chức quy củ, chế tạo thành công súng trường theo mẫu của Pháp.
+ Từ năm 1888 đến năm 1896 (giai đoạn chiến đấu quyết liệt): với sự chỉ huy thống nhất và tương đối chặt chẽ, đã đẩy lui nhiều cuộc hành quân càn quét của địch.
+ Tuy thất bại nhưng đây là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nhất trong phong trào Cần Vương.
b. Đóng góp của nhà Nguyễn trong quá trình thực thi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa
- Đóng góp của vua Gia Long:
+ Đặt hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa trong cơ cấu hành chính của Việt Nam (cụ thể là: dưới thời vua Gia Long, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi).
+ Năm 1803, vua Gia Long cho tái lập lại hai hải đội Hoàng Sa và Bắc Hải, biên chế nằm trong lực lượng quân đội, với nhiệm vụ thực thi chủ quyền của Việt Nam trên cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
+ Năm 1816, vua Gia Long sai thủy quân triều đình phối hợp với đội Hoàng Sa ra thăm dò, đo đạc thủy trình và cắm cờ khẳng định chủ quyền trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
- Đóng góp của vua Minh Mạng: tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động thực thi chủ quyền trên quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa như:
+ Việc đo đạc thủy trình kết hợp với vẽ bản đồ được quan tâm thực hiện, nhà vua đã cho dựng miếu thờ và trồng cây xanh ở quần đảo Hoàng Sa.
+ Năm 1838, Quốc sử quán triều Nguyễn đã cho vẽ bản đồ Đại Nam nhất thống toàn đồ thể hiện quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam.
a. Nội dung khởi nghĩa Hương Khê trong phong trào Cần Vương cuối thế kỉ XIX
- Khởi nghĩa Hương Khê (1885 - 1896): Địa bàn hoạt động của nghĩa quân gồm các huyện miền Tây Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Lãnh đạo cao nhất của cuộc khởi nghĩa là Phan Đình Phùng, cùng các tướng lĩnh tài ba, tiêu biểu là Cao Thắng.
+ Từ năm 1885 đến năm 1888 (giai đoạn xây dựng lực lượng và căn cứ chiến đấu): nghĩa quân được tổ chức quy củ, chế tạo thành công súng trường theo mẫu của Pháp.
+ Từ năm 1888 đến năm 1896 (giai đoạn chiến đấu quyết liệt): với sự chỉ huy thống nhất và tương đối chặt chẽ, đã đẩy lui nhiều cuộc hành quân càn quét của địch.
+ Tuy thất bại nhưng đây là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nhất trong phong trào Cần Vương.
b. Đóng góp của nhà Nguyễn trong quá trình thực thi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa
- Đóng góp của vua Gia Long:
+ Đặt hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa trong cơ cấu hành chính của Việt Nam (cụ thể là: dưới thời vua Gia Long, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi).
+ Năm 1803, vua Gia Long cho tái lập lại hai hải đội Hoàng Sa và Bắc Hải, biên chế nằm trong lực lượng quân đội, với nhiệm vụ thực thi chủ quyền của Việt Nam trên cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
+ Năm 1816, vua Gia Long sai thủy quân triều đình phối hợp với đội Hoàng Sa ra thăm dò, đo đạc thủy trình và cắm cờ khẳng định chủ quyền trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
- Đóng góp của vua Minh Mạng: tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động thực thi chủ quyền trên quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa như:
+ Việc đo đạc thủy trình kết hợp với vẽ bản đồ được quan tâm thực hiện, nhà vua đã cho dựng miếu thờ và trồng cây xanh ở quần đảo Hoàng Sa.
+ Năm 1838, Quốc sử quán triều Nguyễn đã cho vẽ bản đồ Đại Nam nhất thống toàn đồ thể hiện quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam.
Bài làm
Kỳ nghỉ hè năm nay, gia đình của em đã có một chuyến du lịch vô cùng đáng nhớ. Đặc biệt, em đã làm quen thêm được những người bạn mới, có thêm những bài học bổ ích.
Chuyến du lịch đến biển Sầm Sơn - một điểm du lịch nổi tiếng ở Thanh Hóa. Đây là lần đầu tiên em được đi du lịch ở biển. Nên em cảm thấy vô cùng hào hứng, thích thú. Buổi sáng hôm đó, em thức dậy từ rất sớm. Sau khi ăn sáng xong, em và bố mẹ nhanh chóng đến điểm hẹn. Chuyến xe xuất phát từ lúc năm giờ ba mươi phút sáng. Cùng đi với gia đình em còn có hai gia đình khác. Trên đường đi, chúng em đã trò chuyện vô cùng vui vẻ. Xe đi mất nửa ngày mới đến nơi.
Sau khi vào khách sạn nhận phòng xong, mọi người nghỉ ngơi một lúc rồi đi ăn trưa. Đến chiều, các gia đình sẽ cùng nhau đi tắm biển. Đi bộ từ khách sạn đến bãi biển chỉ mất khoảng mười phút. Thật kì diệu khi trước mắt em chính là bãi biển rộng lớn. Bầu trời cao, trong xanh không một gợn mây. Ông mặt trời tỏa ánh nắng chói chang xuống khắp nơi. Bãi cát vàng trong nắng càng trở nên lấp lánh, trông tuyệt đẹp. Nước biển xanh và trong. Nhìn ra xa phía chân trời, bầu trời và biển như hòa vào làm một. Gió biển lồng lộng, cùng với tiếng sóng vỗ nghe thật vui tai. Sau khi tắm biển thỏa thích, em cùng hai người bạn mới quen ở trên bờ xây lâu đài cát rất vui vẻ.
Ngày hôm sau, mọi người cùng đi tham quan dãy núi Trường Lệ - một địa danh khá nổi tiếng ở đây. Trên núi có hòn Trống Mái. Hòn gồm có ba phiến đá được sắp đặt một cách độc đáo. Ở dưới là hòn đá lớn, một hòn có đầu nhọn, nằm chồng lên trông như một con gà trống. Hòn khác nhỏ hơn, dáng vẻ tựa như con gà mái. Theo lời của chị hướng dẫn viên thì hòn Trống Mái là biểu tượng cho tình yêu thủy chung.
Ngày cuối cùng, cả đoàn đến thăm làng chài Sầm Sơn, sau đó là chợ hải sản Sầm Sơn. Nơi đây bán đủ các loại hải sản tươi sống được ngư dân đánh bắt về. Bố mẹ em đã mua rất nhiều về để làm quà cho mọi người. Em cũng được thưởng thức rất nhiều món ăn đặc sản hấp dẫn. Một ngày thú vị kết thúc trong sự tiếc nuối khi phải chia tay vùng đất tuyệt vời.
Khi trở về nhà, em cảm thấy chuyến đi đến biển Sầm Sơn thật đáng quý. Gia đình em đã có khoảng thời gian quý giá bên nhau, với những tấm ảnh lưu niệm rất đẹp. Em mong rằng gia đình của mình sẽ có thêm nhiều chuyến du lịch như vậy hơn
Câu 1:
Bài thơ viết theo thể thơ bảy chữ.
Câu 2:
Những từ ngữ miêu tả hình ảnh quê hương của tác giả trong khổ thơ thứ nhất là: sông núi vươn dài, có bay thẳng cánh.
Câu 3:
Sắc thái này nhấn mạnh sự tàn khốc, dữ dội của chiến tranh, nơi máu đổ nhiều đến mức thay đổi cả cảnh quan thiên nhiên.
Câu 4:
Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là sự xót xa, thương cảm trước những mất mát, hi sinh to lớn mà chiến tranh gây ra cho đất nước và con người Việt Nam, đặc biệt là những người con xứ Huế. Căn cứ để xác định như vậy là: Hình ảnh "máu đỏ nhuộm đồng xanh" gợi sự đau thương, mất mát. Câu thơ "Có bao người Huế không về" thể hiện sự xót xa, thương cảm cho những người đã hi sinh. Những hình ảnh về chiến công, về sự kiên cường của người lính thể hiện niềm tự hào, trân trọng.
Câu 5:
Nỗi nhớ thương que hương da diết, sâu lắng với một niềm tự hào, một khát vọng nhỏ nhoi trước những tháng ngày gắn bó với quê hương và một tương lai tươi sáng, tốt đẹp hơn. Câu 6:
Sự hi sinh cao cả của những người con đất Việt đã ngã xuống vì độc lập, tự do là một tượng đài bất tử trong lịch sử dân tộc. Họ đã hiến dâng tuổi thanh xuân, máu xương của mình để bảo vệ non sông gấm vóc, để chúng ta có được cuộc sống hòa bình, ấm no ngày hôm nay. Sự hi sinh ấy không chỉ là mất mát mà còn là nguồn sức mạnh, là động lực để chúng ta tiếp bước trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thế hệ trẻ chúng ta, những người được hưởng trọn vẹn thành quả cách mạng, cần phải ý thức sâu sắc về trách nhiệm của mình. Chúng ta cần ra sức học tập, rèn luyện, trau dồi đạo đức, lối sống, góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh. Đồng thời, chúng ta cần phải giữ gìn và phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đặc biệt là truyền thống yêu nước, bất khuất, kiên cường, để xứng đáng với sự hi sinh cao cả của các thế hệ cha anh.