Phạm Thị Phương Anh
Giới thiệu về bản thân
a. Đảm bảo đúng hình thức bài văn.
b. Xác định đúng yêu cầu của đề bài: bài văn phân tích một tác phẩm truyện mà em đã được đọc.
c. Triển khai nội dung:
- Mở bài: Giới thiệu ngắn gọn về tác phẩm (nhan đề, tác giả); nêu ý kiến khái quát về tác phẩm.
- Thân bài:
+ Nêu nội dung chính của tác phẩm.
+ Nêu chủ đề của tác phẩm.
+ Chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm.
- Kết bài: Khẳng định ý nghĩa, giá trị của tác phẩm.
d. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề, có cách diễn đạt mới mẻ.

a) Tứ giác \(A E D F\) có \(\hat{E A F} = \hat{A E D} = \hat{A F D} = 90^{\circ}\) nên là hình chữ nhật.
\(\Delta A B C\) vuông cân tại \(A\) có \(A M\) là trung tuyến nên \(A M\) cũng là đường phân giác \(\hat{E A F}\).
Hình chữ nhật \(A E D F\) có đường chéo \(A D\) là tia phân giác \(\hat{E A F}\) nên là hình vuông.
b) \(\Delta A E F\) vuông tại \(A\) có \(A E = A F\) nên vuông cân tại \(A\)
Suy ra \(\hat{F_{1}} = 45^{\circ} = \hat{C}\) mà \(\hat{F_{1}} , \hat{C}\) đồng vị nên \(E F\) // $BC.$
c) Gọi \(O\) là giao của \(A D\) với \(E F\) suy ra \(O E = O D = O F = O A\)
\(\Delta E N F\) vuông tại \(N\) có \(N O\) là đường trung tuyến nên \(N O = E O = F O\)
\(\Delta A N D\) có \(N O\) là đường trung tuyến mà \(N O = \frac{A D}{2}\) suy ra \(\Delta A N D\) vuông tại $N.$

a) Tứ giác \(A D M E\) có \(\hat{D A E} = \hat{D} = \hat{E} = 90^{\circ}\) nên \(A D M E\) là hình chữ nhật.
b) Vì \(D M ⊥ A B\) và \(A C ⊥ A B\) nên \(D M\) // \(A C\) suy ra \(\hat{C} = \hat{B M D}\) (so le trong).
Xét \(\Delta D M B\) và \(\Delta E C M\) có:
\(\hat{D} = \hat{E} = 90^{\circ}\)
\(B M = C M\) (giả thiết)
\(\hat{D M B} = \hat{C}\) (so le trong)
Vậy \(\Delta D M B = \Delta E C M\) (cạnh huyền - góc nhọn)
Suy ra \(M E = B D\) (hai cạnh tương ứng) mà \(M E = A D\) nên \(A D = B D\).
Tứ giác \(A M B I\) có hai đường chéo \(A B , M I\) cắt nhau tại \(D\) là trung điểm của mỗi đường nên là hình bình hành.
Mà \(M I ⊥ A B\) suy ra \(A M B I\) là hình thoi.
c) Để \(A M B I\) là hình vuông thì \(A M ⊥ B M\) hay \(A M\) vừa là đường trung tuyến vừa là đường cao nên \(\Delta A B C\) vuông cân tại $A.$
d) Giả sử \(A M\) cắt \(P Q\) tại \(F\) và \(P Q\) cắt \(A H\) tại \(O\).
Khi đó \(\Delta O A Q\) có \(O A = O Q\) nên \(\&\text{nbsp}; \Delta O A Q\) cân tại \(O\) suy ra \(\hat{Q_{1}} = \hat{O A Q}\)
\(\Delta A M C\) cân tại \(M\) suy ra \(\hat{A_{1}} = \hat{C}\)
Do đó, \(\hat{A_{1}} + \hat{Q_{1}} = \hat{C} + \hat{O A Q} = 90^{\circ}\)
Suy ra \(\Delta F A Q\) vuông tại \(F\) hay \(A M ⊥ P Q .\)
a) Tứ giác \(A B C D\) có hai đường chéo \(A C , B D\) cắt nhau tại trung điểm \(N\) của mỗi đường nên là hình bình hành.
b) Ta có \(A P ⊥ B C\); \(A Q\) // \(B C\) suy ra \(A P ⊥ A Q\).
Tứ giác \(A P C Q\) có ba góc vuông nên là hình chữ nhật.
Khi đó hai đường chéo \(A C , P Q\) cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường, mà \(N A = N C\) nên \(N\) là trung điểm của \(P Q\).
Suy ra \(P , N , Q\) thẳng hàng.
c) Để tứ giác \(A B C D\) là hình vuông thì ta cần \(A B ⊥ B C , A B = B C\) hay \(\Delta A B C\) vuông cân tại $B.$

a) Ta có \(A D = B C\) suy ra \(\frac{A D}{2} = \frac{B C}{2}\) nên \(M C = N D\) và \(M C\) // \(N D\)
Do đó, \(M C D N\) là hình bình hành.
Lại có \(C D = A B = \frac{A D}{2} = N D\) nên \(M C D N\) là hình thoi
b) \(B M\) // \(A D\) suy ra \(A B M D\) là hình thang.
Mà \(\hat{A D C} = 120^{\circ}\) mà \(D M\) là phân giác \(\hat{A D C}\) nên \(\hat{A D M} = 60^{\circ} = \hat{B A D}\).
Vậy \(A B M D\) là hình thang cân.
c) \(\Delta K A D\) có \(\hat{K A D} = \hat{K D A}\) nên là tam giác cân.
Xét \(\Delta M B K\) và \(\Delta M C D\) có:
\(M B = M C\) (giả thiết)
\(\hat{M_{1}} = \hat{M_{2}}\) (đối đỉnh)
\(\hat{B_{1}} = \hat{C}\) (so le trong)
Vậy \(\Delta M B K = \Delta M C D\) (g.c.g) suy ra \(M K = M D\) (hai cạnh tương ứng).
Khi đó \(A M\) là đường trung tuyến và \(B K = C D\) (hai cạnh tương ứng)
Mà \(C D = A B\) suy ra \(A B = B K\) hay \(D B\) là đường trung tuyến.
Khi đó, \(\Delta K A D\) có ba đường trung tuyến \(A M , B D , K N\) đồng quy.
a) Ta có \(\hat{O_{1}} + \hat{O_{3}} = 90^{\circ}\) và \(\hat{O_{2}} + \hat{O_{3}} = 90^{\circ}\) suy ra \(\hat{O_{1}} = \hat{O_{2}}\).
Mặt khác \(\hat{A_{1}} = \hat{B_{1}} = 45^{\circ}\).
Xét \(\Delta A O P\) và \(\Delta B O R\) có
\(O A = O B\) ( giả thiết)
\(\hat{A_{1}} = \hat{B_{1}} = 4 5^{\circ}\)
\(\hat{O_{1}} = \hat{O_{2}}\) (chứng minh trên)
Suy ra \(\Delta A O P = \Delta B O R\) (g.c.g)
b) Từ \(\Delta A O P = \Delta B O R\) suy ra \(O P = O R\) (hai cạnh tương ứng)
Chứng minh tương tự cho \(\Delta O B R = \Delta O C Q\) và \(\Delta O C Q = \Delta O D S\)
Suy ra \(O R = O Q\) và \(O Q = O S\).
Khi đó \(O P = O R = O S = O Q .\)
c) Tứ giác \(P R Q S\) là hình thoi vì có bốn cạnh bằng nhau.
Mà \(\Delta O P R\) có \(O P = O R\) và \(\hat{P O R} = 90^{\circ}\) nên \(\Delta O P R\) là tam giác vuông cân tại \(O\)
Suy ra \(\hat{P_{1}} = 45^{\circ}\).
Tương tự \(\hat{P_{2}} = 45^{\circ}\) nên \(\hat{R P S} = \hat{P_{1}} + \hat{P_{2}} = 90^{\circ}\).
Hình thoi \(P R Q S\) có \(\hat{R P S} = 90^{\circ}\) nên nó là hình vuông.
Trong số những hoạt động kỷ niệm ngày thành lập trường, chuyến tham quan về nguồn đến Khu Di tích Lịch sử Địa đạo Củ Chi là hành trình để lại trong tôi nhiều cảm xúc sâu sắc và những bài học vô giá nhất. Địa đạo Củ Chi, nơi được mệnh danh là "Đất Thép Thành Đồng," không chỉ là một địa danh lịch sử mà còn là minh chứng hùng hồn cho ý chí và trí tuệ Việt Nam.
Sáng hôm ấy, không khí trên xe buýt vô cùng náo nức. Tuy nhiên, khi chiếc xe dần tiến sâu vào vùng đất Củ Chi, sự ồn ào nhanh chóng lắng xuống, nhường chỗ cho cảm giác trang nghiêm, tĩnh lặng. Dưới những tán cây xanh rợp bóng, khu di tích hiện ra uy nghi, mang theo hơi thở của một thời kỳ kháng chiến gian khổ nhưng đầy anh dũng.
Hành trình khám phá của chúng tôi bắt đầu bằng việc quan sát những mô hình tái hiện cuộc sống và chiến đấu của quân dân ta. Tôi kinh ngạc trước sự sáng tạo không ngừng nghỉ của ông cha: từ chiếc bẫy chông tre thô sơ nhưng hiệu quả, đến chiếc Bếp Hoàng Cầm tài tình có thể nấu ăn mà giấu được khói. Mỗi hiện vật đều là một câu chuyện, một lời nhắc nhở về sự khốc liệt của chiến tranh và tinh thần tự lực tự cường.
Khoảnh khắc khiến tôi khắc ghi sâu đậm nhất chính là trải nghiệm chui hầm địa đạo. Dù chỉ là một đoạn ngắn được mở rộng để khách tham quan có thể đi lại dễ dàng hơn, không gian vẫn tối tăm, chật hẹp và ngột ngạt. Phải khom lưng, bước từng bước nặng nhọc trong lòng đất sâu, tôi chỉ đi vỏn vẹn vài chục mét đã thấy khó thở và mệt mỏi. Lúc ấy, tôi không ngừng tự hỏi, làm sao các cô chú chiến sĩ của chúng ta có thể sống, sinh hoạt, làm việc, thậm chí là mở các lớp học và tổ chức đám cưới, trong điều kiện khắc nghiệt ấy suốt nhiều năm ròng?
Sự đối lập giữa cuộc sống yên bình, đủ đầy của chúng tôi hôm nay và sự hy sinh, gian khổ của thế hệ đi trước đã tạo nên một cú sốc cảm xúc mạnh mẽ. Khi bước ra khỏi lòng đất, ánh sáng mặt trời dường như trở nên ấm áp và quý giá hơn bao giờ hết.
Chuyến đi này không chỉ giúp chúng tôi bổ sung kiến thức lịch sử một cách trực quan, sinh động mà còn là bài học thực tế về lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và ý chí sắt đá. Mỗi tấc đất, mỗi dấu tích tại Địa đạo Củ Chi đều truyền cho chúng tôi một nguồn năng lượng mạnh mẽ: Hãy trân trọng hiện tại và cố gắng hết mình để xây dựng tương lai, xứng đáng với những gì cha ông đã đánh đổi.
Kết thúc chuyến đi, chúng tôi mang theo không chỉ những bức ảnh kỷ niệm mà còn là những bài học sâu sắc in đậm trong tâm trí. Đây chính là chuyến đi về nguồn ý nghĩa nhất, là ngọn lửa thắp sáng tinh thần trách nhiệm của tuổi trẻ chúng tôi, và chắc chắn sẽ là kỉ niệm không thể quên trong những năm tháng học trò.
Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú luật Đường.
Câu 2. Những hình ảnh thiên nhiên được nhắc đến trong bốn dòng thơ đầu: hoè lục đùn đùn; thạch lựu phun thức đỏ; hồng liên trì tiễn mùi hương.
(HS cũng có thể diễn đạt: hoa hoè sum suê, thạch lựu nở hoa đỏ chói; hoa sen đến mùa nở rộ;…)
Câu 3.
– Biện pháp đảo ngữ: từ “lao xao”, “dắng dỏi” được đảo lên đầu các dòng thơ “Lao xao chợ cá làng ngư phủ,/ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.”.
– Tác dụng:
+ Tạo nhạc điệu, gợi sự sôi nổi của đời sống.
+ Nhấn mạnh âm thanh sống động trong đời sống lao động của con người.
+ Làm nổi bật bức tranh mùa hè không chỉ có màu sắc, hương vị mà còn có âm thanh chân thực của con người và thiên nhiên.
Câu 4. Trong hai dòng thơ cuối, tác giả đã bộc lộ tình cảm, cảm xúc:
– Niềm mong ước thái bình: hình ảnh “Ngu cầm” gợi thời Nghiêu – Thuấn, nhân dân sống yên vui, hạnh phúc.
– Tình yêu thương nhân dân: ước muốn “dân giàu đủ khắp đòi phương” cho thấy tác giả lo cho đời sống muôn dân, không nghĩ riêng cho bản thân.
– Khát vọng nhân văn: Nguyễn Trãi gửi gắm tư tưởng “lấy dân làm gốc”, mong mỏi hạnh phúc chung cho xã hội.
=> Hai dòng thơ bộc lộ tình yêu dân, thương dân và khát vọng về một xã hội thái bình, nhân dân ấm no, hạnh phúc.
Câu 5.
– Chủ đề của bài thơ: Ca ngợi vẻ đẹp rực rỡ, sinh động của thiên nhiên ngày hè và thể hiện tấm lòng yêu đời, yêu dân, lo cho dân của Nguyễn Trãi.
– Căn cứ để xác định chủ đề:
+ Nhan đề của văn bản: “Cảnh ngày hè”.
+ Các từ ngữ miêu tả khung cảnh thiên nhiên; bộc lộ tình cảm, cảm xúc của tác giả.
+ Nội dung chính của các phần.
(HS cần nêu được 02 căn cứ phù hợp, thuyết phục)
Câu 6.
– Hình thức:
+ Mô hình đoạn văn phù hợp, đảm bảo không mắc lỗi diễn đạt, chính tả.
+ Dung lượng: ngắn gọn, từ 5 đến 7 dòng.
– Nội dung: Rút ra bài học trong việc giữ gìn tinh thần lạc quan, biết tận hưởng những điều bình dị quanh mình.
+ Biết trân trọng những điều giản dị trong đời sống: cảnh vật, âm thanh, sắc màu quanh ta.
+ Giữ cho mình tinh thần lạc quan, tìm thấy niềm vui ngay trong cuộc sống thường ngày, kể cả trong học tập, lao động.
+ Sống chan hoà với thiên nhiên, biết bảo vệ và làm giàu đẹp môi trường sống.