Phạm Thị Khánh Huyền
Giới thiệu về bản thân
Câu 1.
Văn bản Hoa rừng của Dương Thị Xuân Quý đã khắc hoạ thành công vẻ đẹp thầm lặng mà cao quý của người nữ giao liên trong kháng chiến. Nhân vật Phước hiện lên trước hết qua những hành động giản dị nhưng giàu ý nghĩa: xuyên rừng trong mưa bom bão đạn, dẫn đường cho bộ đội, mang ba lô giúp đồng đội bị đau chân, âm thầm chịu đựng mệt mỏi mà không một lời than vãn. Ban đầu, sự cứng rắn của Phước khiến một số chiến sĩ hiểu lầm cô là người lạnh lùng, thiếu cảm thông. Nhưng khi sự thật được hé lộ, vẻ đẹp thực sự của Phước mới được nhận ra: một con người dũng cảm, giàu trách nhiệm, khiêm nhường và đầy vị tha. Đặc biệt, chi tiết Phước hái hoa rừng để chuẩn bị cho lễ kết nạp đoàn viên đã làm nổi bật tâm hồn trong sáng, giàu lí tưởng của cô. Qua đó, văn bản không chỉ ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ trong chiến tranh mà còn gửi gắm thông điệp sâu sắc: đằng sau sự im lặng là những hi sinh lớn lao mà ta cần học cách thấu hiểu và trân trọng.
Câu 2.
Bài thơ Mùa cỏ nở hoa đã chạm đến trái tim người đọc khi khắc hoạ vẻ đẹp thiêng liêng, bền bỉ của tình mẫu tử – một thứ tình cảm âm thầm nhưng vô hạn. Thế nhưng, đáng buồn thay, trong đời sống hiện nay, không ít người lại sống vô tâm, thờ ơ, thậm chí coi nhẹ công lao sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ.
Cha mẹ là những người hi sinh cả cuộc đời để nuôi nấng, che chở và yêu thương con cái vô điều kiện. Tình yêu ấy không cần báo đáp, không đòi hỏi nhận lại, giống như cỏ dại ven đường, lặng lẽ nở hoa qua năm tháng. Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, nhiều người mải mê với công việc, danh vọng, hưởng thụ cá nhân mà quên mất việc quan tâm, chăm sóc cha mẹ. Có người coi sự hi sinh của cha mẹ là điều hiển nhiên, có người chỉ nhớ đến cha mẹ khi cần dựa dẫm, thậm chí có những hành vi bất hiếu, vô lễ, làm tổn thương đấng sinh thành. Nguyên nhân của thực trạng này xuất phát từ lối sống thực dụng, sự thiếu giáo dục về đạo đức gia đình và ảnh hưởng tiêu cực của nhịp sống gấp gáp.
Sự vô tâm với cha mẹ không chỉ làm đau lòng những người đã hi sinh cả đời vì con mà còn khiến chính con người đánh mất giá trị đạo đức cốt lõi. Một người không biết trân trọng cha mẹ thì khó có thể sống nhân ái, trách nhiệm với xã hội. Vì vậy, mỗi người cần học cách yêu thương và thể hiện lòng hiếu thảo từ những việc nhỏ nhất: một lời hỏi han, một bữa cơm sum họp, sự quan tâm chân thành khi cha mẹ già yếu. Trân trọng cha mẹ không chỉ là đạo lí truyền thống của dân tộc mà còn là thước đo nhân cách của mỗi con người.
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản Hoa rừng là tự sự (kết hợp với miêu tả và biểu cảm).
Câu 2.
Nhân vật Phước hái hoa để chuẩn bị cho lễ kết nạp đoàn viên mới tổ chức vào tối hôm đó.
Câu 3.
Nhân vật Phước được khắc hoạ với nhiều phẩm chất đáng quý: dũng cảm, kiên cường, giàu tinh thần trách nhiệm, giàu đức hi sinh, đồng thời khiêm nhường, nhân hậu và giàu lòng vị tha.
Câu 4.
Văn bản sử dụng ngôi kể thứ ba.
Tác dụng: giúp người kể bao quát toàn bộ câu chuyện, miêu tả khách quan hành động, suy nghĩ của nhiều nhân vật, từ đó làm nổi bật vẻ đẹp thầm lặng của nhân vật Phước.
Câu 5.
Từ văn bản, em rút ra bài học rằng khi nhìn nhận và đánh giá người khác, ta cần tránh vội vàng, phiến diện. Mỗi con người đều có những hi sinh thầm lặng và hoàn cảnh riêng mà ta chưa hiểu hết. Chỉ khi biết lắng nghe, quan sát và đặt mình vào vị trí của người khác, ta mới có thể đánh giá đúng đắn. Sự cảm thông và tôn trọng sẽ giúp con người gần nhau hơn và tránh những hối tiếc không đáng có.
Bài thơ "Mẹ" của Viễn Phương là một nốt nhạc trầm buồn nhưng đầy chất chứa tình yêu thương, để lại trong lòng người đọc những xúc động nghẹn ngào về tình mẫu tử thiêng liêng. Mở đầu bài thơ, tác giả gợi lại kỷ niệm tuổi thơ gắn liền với lời ru của mẹ và hình ảnh hoa sen thanh cao. Hình tượng hoa sen xuyên suốt tác phẩm không chỉ là một loài hoa mà còn là biểu tượng ẩn dụ cho cuộc đời người mẹ: bình dị, thầm lặng nhưng luôn tỏa ngát hương thơm. Sự hy sinh của mẹ được khắc họa thật ám ảnh qua câu thơ "Giọt máu hòa theo dòng lệ / Hương đời mẹ ướp cho con". Mẹ đã nén lại những đắng cay, nhọc nhằn của cuộc đời nghèo khó để dành tất cả những gì tốt đẹp nhất, thơm tho nhất cho sự trưởng thành của con. Nỗi xúc động càng tăng lên khi ta bắt gặp sự đối lập tương phản giữa sự thành đạt của người con qua "đóa hoa thơm", "chân trời gió lộng" và sự già yếu, đơn chiếc của người mẹ qua "lắt lay chiếc bóng", "nắng quải chiều hôm". Quy luật nghiệt ngã của thời gian khiến con người không khỏi xót xa: sen tàn rồi lại nở, nhưng mẹ ra đi là mãi mãi. Tuy nhiên, cái kết của bài thơ đã nâng tầm hình ảnh người mẹ lên vẻ đẹp vĩnh hằng: "Mẹ thành ngôi sao lên trời". Mẹ không mất đi, mẹ hóa thành ánh sao luôn dõi theo, soi sáng và bảo vệ con trên mọi dẻo đường đời. Qua những vần thơ giàu cảm xúc và hình ảnh chọn lọc, Viễn Phương đã giúp chúng ta thấu hiểu hơn về sự hy sinh vô bờ bến của mẹ, từ đó nhắc nhở mỗi người cần biết trân trọng và hiếu kính khi mẹ còn ở bên.
Nếu gặp lại một người bạn như anh gầy, em sẽ cư xử chân thành, tự nhiên và bình đẳng như những người bạn cũ, không vì địa vị hay chức tước mà thay đổi thái độ. Tình bạn cần sự tôn trọng và chân thật, không nên khúm núm hay xu nịnh. Cách ứng xử của anh béo gợi cho em bài học rằng phải biết coi trọng tình bạn, sống thẳng thắn, không để địa vị làm ảnh hưởng đến cách đối xử với người khác
Gợi tả sự thay đổi đột ngột trong thái độ, tâm trạng của anh gầy khi biết anh béo là người có địa vị cao. Nó làm nổi bật vẻ khúm núm, sợ sệt, tự ti, đến mức không chỉ con người mà cả đồ vật xung quanh cũng như “co rúm”, “nhăn nhó”. Ý nghĩa của chi tiết: Là một biện pháp nhân hoá, khiến cảnh vật như mang tâm trạng của con người. Nhấn mạnh sự hèn yếu, xu nịnh của anh gầy trước quyền thế. Qua đó, tác giả phê phán thói trọng chức quyền, coi thường tình bạn chân thành trong xã hội.
Đoạn trích "Đi lấy mật" được trích trong tiểu thuyết "Đất rừng phương Nam" của nhà văn Đoàn Giỏi. Thông qua câu chuyện ba cha con vào rừng đi lấy mật, tác giả đã làm nổi bật hình tượng nhân vật An với nhiều phẩm chất trong sáng, tốt đẹp.
Trước hết, An là một cậu bé yêu thiên nhiên và có những quan sát vô cùng tinh tế. Dưới con mắt của An, rừng núi U Minh hiện lên với vẻ hoang sơ, kì vĩ song cũng rất thơ mộng, trữ tình. Trên đường đi lấy mật, cậu luôn chăm chú, để ý khung cảnh xung quanh. Bằng cách sử dụng ngôi kể thứ nhất, bức tranh thiên nhiên rừng U Minh được thu vào đôi mắt hồn nhiên của An. Các đoạn văn miêu tả như những thước phim quay chậm vô cùng sống động, sắc nét. An đưa mắt quan sát ở trên cao với hình ảnh bầu trời "Ánh sáng trong vắt, hơi gợn một chút óng ánh trên những đầu hoa tràm rung rung, khiến ta nhìn cái gì cũng có cảm giác như nó là bao qua một lớp thủy tinh.". Cậu tiếp tục cảm nhận thiên nhiên bằng khứu giác, xúc giác, thị giác: "ăn xong, bấy giờ bóng nắng mới bắt đầu lên. Gió cũng bắt đầu thổi rao rao theo với khối mặt trời tròn đang tuôn ánh sáng vàng rực xuống mặt đất. Một làn hơi đất nhè nhẹ tỏa lên, phủ mờ những bụi cây cúc áo, rồi nhè nhẹ tan dần theo hơi ấm mặt trời.",... Màu sắc, đặc điểm của sự vật, hiện tượng được miêu tả chi tiết cho thấy sự nhạy cảm trong tâm hồn của nhân vật An.
Tiếp đến, An rất ham học hỏi, tìm hiểu mọi thứ xung quanh. Lần đầu tiên, An được theo tía nuôi vào rừng lấy mật. Trên quãng đường đi, An luôn nhớ lại những lời má nuôi kể về cách gác kèo ong như thế nào. Thậm chí, An đã có những so sánh giữa việc học trong sách với thực tiễn bên ngoài. Cậu nhận ra việc học trong sách giáo khoa chỉ có những khái niệm chung chung về loài ong, không giống như cách má nuôi bảo. Qua đoạn trích An nhớ lại những lời má nuôi kể, ta có thể thấy cậu đặt ra rất nhiều những câu hỏi thể hiện sự tò mò và mong muốn tìm hiểu thế giới xung quanh. Cuối cùng, cậu đã đúc kết ra được sự khác biệt trong cách "thuần hóa" ong rừng của người dân vùng U Minh so với những cách nuôi ong trên thế giới: "Không có nơi nào, xứ nào có kiểu tổ ong hình nhánh kèo như vùng U Minh này cả.".
Có thể thấy, nhà văn Đoàn Giỏi đã xây dựng thành công nhân vật An thông qua lời nói, hành động cụ thể kết hợp với ngôi kể thứ nhất. Qua nhân vật An, tác giả đã thể hiện tình yêu thiên nhiên, con người sâu sắc và ngợi ca tâm hồn trong sáng của trẻ thơ.
Bài thơ Khi mùa mưa đến thể hiện cảm hứng tha thiết, yêu thương và gắn bó sâu nặng với quê hương của nhà thơ. Mùa mưa hiện lên không chỉ là hiện tượng thiên nhiên mà còn gợi bao kỉ niệm, làm “lòng trẻ lại”, khơi dậy những cảm xúc trong trẻo, yên ả. Trong mưa có “hạt vui với hạt buồn”, có sự hòa quyện giữa quá khứ và hiện tại, giữa con người với đất trời. Đặc biệt, hình ảnh “ta hoá phù sa mỗi bến chờ” cho thấy khát vọng sống nhân hậu, được dâng hiến và bồi đắp cho quê hương như phù sa âm thầm làm màu mỡ bãi bờ. Qua đó, ta cảm nhận được một tâm hồn giàu yêu thương, trân trọng thiên nhiên và luôn hướng về những giá trị tốt đẹp của cuộc sống.
Câu thơ "Ta hoá phù sa mỗi bến chờ" thể hiện ý nghĩa cao đẹp về sự cống hiến và hi sinh âm thầm nhưng bền bỉ, giống như phù sa luôn nuôi dưỡng và làm giàu cho đất.