Mạc Cẩm Tú
Giới thiệu về bản thân
- Tiến hóa hóa học:
- Trong điều kiện khí quyển nguyên thủy (chủ yếu gồm CH4CH4, NH3NH3, hơi nước, H2H2), dưới tác động của các nguồn năng lượng tự nhiên như tia tử ngoại, sấm sét, và hoạt động núi lửa, các chất vô cơ đã tổng hợp nên các chất hữu cơ đơn giản như axit amin, nucleotit.
- Các chất hữu cơ đơn giản này tiếp tục ngưng tụ, tạo thành các đại phân tử hữu cơ phức tạp như protein, axit nucleic.
- Tiến hóa tiền sinh học:
- Các đại phân tử hữu cơ phức tạp tập hợp lại trong các giọt nhỏ (giọt Coaxecva hoặc vi cầu protein), có khả năng trao đổi chất sơ khai và sinh trưởng.
- Sự xuất hiện của các axit nucleic (đặc biệt là RNA) đóng vai trò là vật chất di truyền và xúc tác, cho phép thông tin di truyền được sao chép và duy trì. Đây là bước ngoặt quan trọng dẫn đến sự hình thành tế bào sống đầu tiên.
- Tiến hóa sinh học:
- Hình thành các tế bào nhân sơ đầu tiên với đầy đủ các thành phần cơ bản: màng, tế bào chất, vật chất di truyền.
- Qua hàng tỉ năm tiến hóa, các tế bào nhân sơ phát triển thành các dạng sống đa dạng khác, bao gồm tế bào nhân thực, các loài sinh vật đa bào và toàn bộ thế giới sinh vật ngày nay.
- Mỗi môi trường sống có những đặc điểm và điều kiện khác nhau (khí hậu, nguồn thức ăn, kẻ thù, v.v.).
-Chọn lọc tự nhiên tác động dựa trên các biến dị di truyền có sẵn trong quần thể, chỉ giữ lại những cá thể có kiểu hình thích nghi tốt nhất.
-Sự thích nghi chỉ mang tính chất tương đối, có lợi ở môi trường này nhưng có thể vô hại hoặc có hại ở môi trường khác.
-Thường xảy ra ở các loài động vật có khả năng di cư hoặc phân tán mạnh. Sự cách li địa lí (sông, núi, đại dương) ngăn cản sự giao phối giữa các quần thể, dẫn đến tích lũy các đột biến và chọn lọc tự nhiên theo các hướng khác nhau, tạo thành loài mới.
-Thường gặp ở thực vật và một số động vật ít di chuyển. Các cá thể trong cùng một khu vực địa lí nhưng sống ở các ổ sinh thái khác nhau (ăn các loại thức ăn khác nhau, sinh sản vào các mùa khác nhau, v.v.) dần dần hình thành các đặc điểm khác biệt dẫn đến cách li sinh sản và hình thành loài mới.
- Ngoài ra, ở thực vật, con đường lai xa và đa bội hóa cũng là một cơ chế hình thành loài mới nhanh chóng.M
-Điều này làm cho tần số alen lặn giảm mạnh ngay lập tức qua các thế hệ.
- Quần thể A, môi trường loại bỏ kiểu hình trội,Các cá thể dị hợp tử vẫn có thể truyền alen lặn cho thế hệ sau, do đó alen lặn vẫn tồn tại trong quần thể, làm cho quá trình chọn lọc diễn ra chậm hơn và không triệt để bằng quần thể B
Câu 1.
Đoạn trích sử dụng phương thức biểu đạt chính là biểu cảm, kết hợp với tự sự , miêu tả và nghị luận trữ tình
Câu 2.
Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích:
Người lính bị bắt đi lính, chết nơi chiến trận.
Những nạn nhân chiến tranh chết oan uổng.
Người phụ nữ lỡ làng, buôn nguyệt bán hoa.
Người đàn bà chịu nhiều đau khổ, chết trong cô độc.
Người hành khất, sống nhờ người đời, chết vùi nơi đường sá.
Câu 3.
Từ láy “lập lòe” gợi ánh lửa lúc tỏ lúc mờ, tạo cảm giác rờn rợn, hoang lạnh của thế giới âm linh.
Từ láy “văng vẳng” gợi âm thanh xa xôi, day dứt, như tiếng kêu oan không dứt.
→ Hai từ láy làm tăng giá trị biểu cảm, khắc sâu nỗi đau thương, thê lương của những linh hồn bất hạnh.
Câu 4.
Chủ đề: Thương xót, cảm thông sâu sắc cho những kiếp người bất hạnh, chết oan khuất trong xã hội cũ.
Cảm hứng chủ đạo: Cảm hứng nhân đạo, chan chứa lòng từ bi, thương người của Nguyễn Du.
Câu 5.
Từ cảm hứng nhân đạo của đoạn trích, có thể thấy truyền thống dân tộc ta luôn đề cao tình thương và lòng nhân ái. Người Việt biết xót xa cho nỗi đau của đồng loại, dù sống hay đã khuất. Chính tinh thần “thương người như thể thương thân” đã tạo nên sức mạnh đạo đức bền vững của dân tộc. Ngày nay, truyền thống ấy vẫn cần được gìn giữ và lan tỏa bằng những hành động sẻ chia thiết thực trong cuộc sống.
[Sửa]
Câu 1:
- Ngôi kể : thứ ba (toàn tri)
Câu 2:
-Điểm nhìn : Của Thứ
-Điểm nhìn này có tác dụng làm câu chuyện trở nên chân thực,hấp dẫn
+)Giúp người đọc thấu hiểu sâu sắc tâm trạng, nỗi đau, sự dằn vặt và ý thức về thân phận sống mòn của Thứ.Làm nổi bật hiện thực xã hội nghèo đói, bế tắc, nơi con người bị cuộc mưu sinh vắt kiệt cả thể xác lẫn tâm hồn.
+)Đồng thời, qua cái nhìn của Thứ, Nam Cao bộc lộ niềm cảm thương và tiếng nói nhân đạo sâu sắc đối với những kiếp người nghèo khổ
Câu 3:
Nước mắt của Thứ ứa ra vì:
-Y xúc động và đau xót nhận ra nỗi cơ cực, đói khổ của cả gia đình, mẹ già, vợ tảo tần, các em thơ dại đều thiếu ăn.Y thấy mình bất lực, tội lỗi khi phải ngồi ăn một mình trong khi mọi người khác nhịn đói.Y càng ý thức rõ hơn sự bế tắc, mòn mỏi của cuộc sống một kiếp sống lam lũ, không lối thoát, khiến con người phải chịu đựng mà không thể thay đổi.
- Nước mắt ấy là biểu hiện của sự thương yêu, của lòng nhân hậu và nỗi tuyệt vọng.
Câu 4:
-Qua nhân vật Thứ, Nam Cao phản ánh thực trạng xã hội tam tối nơi người trí thức nghèo bị vùi dập trong cuộc sống túng quẫn, tù túng, mất dần lý tưởng và khát vọng sống. Bi kịch con người
Câu 1:
- thể loại :phóng sự
Câu 2: -Đoạn trích ghi chép về sự việc nhân vật “tôi” kéo một “cuốc từ Đồn Thuỷ lên Yên Phụ” và những cảm nghĩ của “tôi” trong và sau khi kéo xe. Câu 3: Biện pháp: liệt kê, so sánh. + Tác dụng biện pháp liệt kê: liệt kê một loạt cảm giác cho thấy mức độ kiệt quệ, tuyệt vọng đến cùng cực, đồng thời gợi cảm giác nóng bức, tù túng, ngột ngạt trong cả thân xác lẫn tinh thần người kéo xe. + Tác dụng biện pháp so sánh: . “Ruột thì như vặn từ dưới rốn đưa lên”: hình ảnh so sánh cảm giác đau thắt ruột gan được cụ thể hóa thành động tác bị “vặn” từ bụng dưới lên trên, cho thấy nỗi thống khổ từ bên trong cơ thể – đau không chỉ ở bên ngoài cơ bắp, mà còn ở tận nội tạng. . “Cổ thì nóng như cái ống gang”: cái nóng rát trong cổ họng được liên tưởng đến chiếc “ống gang” – một vật thể bằng kim loại có tính hấp nhiệt cao – gợi cảm giác bỏng rát, nghẹt thở, như thể không thể tống được hơi nóng ra ngoài. Câu 4: -Câu nói ở cuối đoạn trích của nhân vật “tôi”: “Người làm cu-li xe kéo, người chết non! Câu nói ấy cho thấy sự vất vả, nhọc nhằn của người làm nghề kéo xe. Họ không chỉ phải trải qua những nỗi đau đớn về thể xác mà còn cảm thấy tủi nhục do bị ức hiếp, coi thường. Những sự đoạ đày về cả thể xác và tinh thần ấy có thể khiến họ “chết non”. Câu nói ấy gián tiếp phản ánh thân
Hwj
Câu 1:
Văn bản "Cái đẹp trong truyện ngắn 'Muối của rừng' của Nguyễn Huy Thiệp" có tính thuyết phục cao nhờ vào việc sử dụng các luận điểm, lí lẽ và bằng chứng cụ thể, rõ ràng để phân tích, đánh giá tác phẩm. Tác giả đã làm nổi bật vẻ đẹp của thiên nhiên và mối quan hệ giữa con người với tự nhiên thông qua các chi tiết nghệ thuật đặc sắc như hình ảnh hoa tử huyền, rừng kết muối, và sự thay đổi tâm lí của nhân vật ông Diểu.
Câu 1:
Văn bản "Cái đẹp trong truyện ngắn 'Muối của rừng' của Nguyễn Huy Thiệp" có tính thuyết phục cao nhờ vào việc sử dụng các luận điểm, lí lẽ và bằng chứng cụ thể, rõ ràng để phân tích, đánh giá tác phẩm. Tác giả đã làm nổi bật vẻ đẹp của thiên nhiên và mối quan hệ giữa con người với tự nhiên thông qua các chi tiết nghệ thuật đặc sắc như hình ảnh hoa tử huyền, rừng kết muối, và sự thay đổi tâm lí của nhân vật ông Diểu.