Nguyễn Thảo My

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Thảo My
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)
  1. Quần thể A (Loại bỏ kiểu hình trội - A−cap A minus𝐴−):+Môi trường loại bỏ cả kiểu gene AA và Aa .
    • Chỉ các cá thể đồng hợp lặn ( aa) được sống sót và sinh sản.
    • Kết quả: Tần số kiểu gene trội ( A) giảm rất nhanh, allele trội ( A) có thể bị loại bỏ khỏi quần thể nhanh chóng chỉ sau vài thế hệ.
  2. Quần thể B (Loại bỏ kiểu hình lặn - aa ):
    • Môi trường chỉ loại bỏ kiểu gene aa
    • Các cá thể dị hợp ( Aa) vẫn tồn tại và mang allele lặn ( a) trong bộ gene.
    • Kết quả: Quá trình loại bỏ allele lặn ( a) diễn ra chậm hơn nhiều vì nó ẩn trong các cá thể dị hợp Aacap A a𝐴𝑎, không bị chọn lọc tác động trực tiếp. 
Do đó, chọn lọc chống lại kiểu hình trội (quần thể A) có hiệu quả loại bỏ allele nhanh hơn so với chọn lọc chống lại kiểu hình lặn (quần thể B).

Sự sống trên Trái Đất hình thành qua tiến hóa hóa học → tiến hóa tiền sinh học → tiến hóa sinh học, từ vật chất vô cơ đến sinh vật phức tạp.

Sự sống trên Trái Đất hình thành qua tiến hóa hóa học → tiến hóa tiền sinh học → tiến hóa sinh học, từ vật chất vô cơ đến sinh vật phức tạp.

Câu 1.
-Đoạn trích sử dụng các phương thức biểu đạt chính: biểu cảm (bộc lộ niềm xót thương sâu sắc), tự sự (kể về những số phận, kiếp người khác nhau), kết hợp với miêu tả (khắc họa cảnh ngộ, âm thanh, hình ảnh thê lương).

Câu 2.
-Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích:

+Người lính ra trận, chết nơi chiến địa.

+Người đi lính, làm quan xa nhà, chịu cảnh gian nan.

+Người phụ nữ lỡ làng, buôn nguyệt bán hoa.

+Người đàn bà chịu nhiều phiền não, chết trong cô độc.

+Kẻ hành khất, sống lang thang, chết vùi nơi đường sá.

Câu 3.
Các từ láy “lập lòe”, “văng vẳng” gợi ra những hình ảnh và âm thanh mờ ảo, đứt quãng, ma mị. Chúng làm nổi bật không khí âm u, thê lương của cõi âm, đồng thời diễn tả nỗi oan khuất, đau đớn kéo dài, ám ảnh, qua đó thể hiện sâu sắc niềm xót thương của tác giả đối với những linh hồn bất hạnh.

Câu 4.

-Chủ đề: Cảm thương, chiêu gọi và an ủi những kiếp người đau khổ, bất hạnh trong xã hội cũ.

-Cảm hứng chủ đạo: Cảm hứng nhân đạo, xót thương sâu sắc trước nỗi đau của con người, bất kể họ là ai, sống ở địa vị nào.
Câu 5
Cảm hứng nhân đạo trong đoạn trích cho thấy truyền thống nhân ái sâu sắc của dân tộc Việt Nam. Từ bao đời nay, ông cha ta luôn biết yêu thương, cảm thông và chia sẻ với những số phận bất hạnh trong cuộc sống. Tình thương ấy không phân biệt giàu nghèo, địa vị hay thân phận. Đó chính là giá trị tinh thần bền vững, làm nên vẻ đẹp tâm hồn của con người Việt Nam. Truyền thống ấy vẫn cần được gìn giữ và phát huy trong cuộc sống hôm nay.

Câu 1.
- Văn bản thuộc thể loại kí sự (bút kí).


Câu 2.
Văn bản ghi chép về trải nghiệm thực tế của tác giả – một nhà báo vào vai người kéo xe để viết bài – trong lần đầu tiên kéo xe thuê trên phố Hà Nội, từ Đồn Thủy lên Yên Phụ. Qua đó, tác giả tái hiện lại sự vất vả, đau đớn về thể xác và sự tủi nhục về tinh thần của người phu kéo xe trong xã hội thực dân nửa phong kiến.


Câu 3.

-Xác định và phân tích tác dụng của những biện pháp tu từ được sử dụng trong câu:

"Ruột thì như vặn từ dưới rốn đưa lên, cổ thì nóng như cái ống gang, đưa hơi lửa ra không kịp."

-Biện pháp tu từ:

+ So sánh: “ruột như vặn từ dưới rốn đưa lên”, “cổ như cái ống gang”.

+ Ẩn dụ: “đưa hơi lửa ra không kịp” ám chỉ sự nóng rát, ngột ngạt khi phải gắng sức quá mức.

-Tác dụng:

+Nhấn mạnh cảm giác đau đớn, kiệt sức đến cùng cực của người kéo xe.

+ Gợi tả cụ thể và sinh động sự vật vã về thể chất, khiến người đọc cảm nhận được nỗi thống khổ tận cùng của những thân phận lao động dưới đáy xã hội.

+ Góp phần phơi bày sự tàn nhẫn của xã hội thực dân khi đẩy con người vào cảnh sống khốn cùng, phi nhân đạo.


Câu 4. Chi tiết nào trong văn bản gây ấn tượng nhất với anh/chị? Vì sao?

Trả lời:
Chi tiết gây ấn tượng nhất là:

"Rồi tôi thấy tôi không phải là người nữa, chỉ là một cái... nồi sốt de."

Vì :+Hình ảnh "nồi sốt de" (nồi hơi) là một ẩn dụ rất độc đáo và mạnh mẽ, cho thấy cơ thể tác giả như đang bốc hơi, bị nén chặt đến cực độ, không còn cảm giác của một con người bình thường.

+Câu văn bộc lộ sự tan biến nhân tính, sự vật hóa con người – một thân phận bị bóc lột đến cùng cực.Tác giả đã không chỉ kể chuyện mà còn chạm đến cảm xúc và lương tri của người đọc bằng hình ảnh đầy ám ảnh này.


Câu 5.

Qua văn bản, tác giả thể hiện tình cảm, tư tưởng

-Tình cảm:

+Tác giả bày tỏ niềm thương cảm sâu sắc đối với những người lao động nghèo khổ, đặc biệt là người phu kéo xe, bị vắt kiệt sức lực, sống đời bèo bọt, tủi nhục.

+Đồng thời, thể hiện sự trân trọng, cảm thông đối với họ – những con người bị xã hội lãng quên.

-Tư tưởng:

+Lên án xã hội thực dân nửa phong kiến đã đẩy người dân vào con đường cùng cực.

+Phê phán sự vô cảm, lạnh lùng của tầng lớp trên, coi thường và áp bức người lao động.

+Thức tỉnh lương tri người đọc, đặc biệt là tầng lớp trí thức, để cảm thông và hành động vì công lý, nhân đạo.

Câu 1.
Luận đề của văn bản là: Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp


Câu 2.
Một câu văn thể hiện rõ tính khẳng định là:
-"Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diểu về vẻ đẹp của chính nó."


Câu 3.
Nhan đề của văn bản là “Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp”, có mối quan hệ chặt chẽ với nội dung. Nội dung văn bản triển khai, phân tích và làm nổi bật vẻ đẹp đa dạng và sâu sắc được thể hiện trong truyện ngắn: từ vẻ đẹp thiên nhiên hoang sơ, đến vẻ đẹp trong sự thức tỉnh lương tâm con người, và sự hài hòa giữa con người với tự nhiên. Như vậy, nhan đề đã khái quát và định hướng toàn bộ nội dung bài viết, giúp người đọc tập trung vào giá trị thẩm mĩ và nhân văn của tác phẩm


Câu 4.
-Trong câu sau: "Sự đa dạng của các loài muông thú: chim xanh, gà rừng, khỉ, sự hùng vĩ của núi non, hang động, sự tĩnh lặng của rừng xanh, sự quấn quít của ba con khỉ đối lập với tiếng súng săn dữ dội, tiếng kêu buồn thảm của khỉ đực, tiếng rú kinh hoàng của khỉ con đã đánh thức ông."

Biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn trên có các tác dụng sau:

+Làm nổi bật sự phong phú, đa dạng và sinh động của thiên nhiên rừng núi, từ loài vật đến cảnh sắc (chim xanh, gà rừng, khỉ, núi non, hang động…).

+Tạo nên sự đối lập gay gắt giữa vẻ đẹp yên bình của thiên nhiên với sự dữ dội, tàn nhẫn của hành động săn bắn (tiếng súng, tiếng rú, tiếng kêu thảm thiết)

+Góp phần nhấn mạnh sự thức tỉnh, hối hận và chuyển biến trong tâm lý nhân vật ông Diểu, khi nhận ra mình đã phá vỡ sự yên bình của thiên nhiên. Tăng hiệu quả biểu cảm và tạo ấn tượng mạnh với người đọc về giá trị thiêng liêng của sự sống trong tự nhiên


Câu 5.

-Mục đích:
+Người viết nhằm phân tích và làm nổi bật vẻ đẹp nghệ thuật và nhân văn trong truyện ngắn Muối của rừng, giúp người đọc cảm nhận sâu sắc hơn về thông điệp mà nhà văn Nguyễn Huy Thiệp gửi gắm: sự trân trọng thiên nhiên, đề cao lương tâm và sự hướng thiện trong con người

-Quan điểm:
Người viết thể hiện rõ quan điểm ủng hộ sự thức tỉnh lương tri, sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên, phê phán hành động hủy hoại thiên nhiên, đồng thời đánh giá cao thông điệp tích cực, nhân văn của tác phẩm

-Tình cảm:
Người viết bày tỏ sự trân trọng, đồng cảm và xúc động trước quá trình thay đổi tâm lý của nhân vật ông Diểu từ khao khát chinh phục đến sự ăn năn, từ dằn vặt đến hành động hướng thiện. Đó là tình cảm yêu thiên nhiên, yêu sự sống và niềm tin vào cái đẹp, cái thiện trong con người.

Câu 1.
Luận đề của văn bản là: Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp


Câu 2.
Một câu văn thể hiện rõ tính khẳng định là:
-"Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diểu về vẻ đẹp của chính nó."


Câu 3.
Nhan đề của văn bản là “Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp”, có mối quan hệ chặt chẽ với nội dung. Nội dung văn bản triển khai, phân tích và làm nổi bật vẻ đẹp đa dạng và sâu sắc được thể hiện trong truyện ngắn: từ vẻ đẹp thiên nhiên hoang sơ, đến vẻ đẹp trong sự thức tỉnh lương tâm con người, và sự hài hòa giữa con người với tự nhiên. Như vậy, nhan đề đã khái quát và định hướng toàn bộ nội dung bài viết, giúp người đọc tập trung vào giá trị thẩm mĩ và nhân văn của tác phẩm


Câu 4.
-Trong câu sau: "Sự đa dạng của các loài muông thú: chim xanh, gà rừng, khỉ, sự hùng vĩ của núi non, hang động, sự tĩnh lặng của rừng xanh, sự quấn quít của ba con khỉ đối lập với tiếng súng săn dữ dội, tiếng kêu buồn thảm của khỉ đực, tiếng rú kinh hoàng của khỉ con đã đánh thức ông."

Biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn trên có các tác dụng sau:

+Làm nổi bật sự phong phú, đa dạng và sinh động của thiên nhiên rừng núi, từ loài vật đến cảnh sắc (chim xanh, gà rừng, khỉ, núi non, hang động…).

+Tạo nên sự đối lập gay gắt giữa vẻ đẹp yên bình của thiên nhiên với sự dữ dội, tàn nhẫn của hành động săn bắn (tiếng súng, tiếng rú, tiếng kêu thảm thiết)

+Góp phần nhấn mạnh sự thức tỉnh, hối hận và chuyển biến trong tâm lý nhân vật ông Diểu, khi nhận ra mình đã phá vỡ sự yên bình của thiên nhiên. Tăng hiệu quả biểu cảm và tạo ấn tượng mạnh với người đọc về giá trị thiêng liêng của sự sống trong tự nhiên


Câu 5.

-Mục đích:
+Người viết nhằm phân tích và làm nổi bật vẻ đẹp nghệ thuật và nhân văn trong truyện ngắn Muối của rừng, giúp người đọc cảm nhận sâu sắc hơn về thông điệp mà nhà văn Nguyễn Huy Thiệp gửi gắm: sự trân trọng thiên nhiên, đề cao lương tâm và sự hướng thiện trong con người

-Quan điểm:
Người viết thể hiện rõ quan điểm ủng hộ sự thức tỉnh lương tri, sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên, phê phán hành động hủy hoại thiên nhiên, đồng thời đánh giá cao thông điệp tích cực, nhân văn của tác phẩm

-Tình cảm:
Người viết bày tỏ sự trân trọng, đồng cảm và xúc động trước quá trình thay đổi tâm lý của nhân vật ông Diểu từ khao khát chinh phục đến sự ăn năn, từ dằn vặt đến hành động hướng thiện. Đó là tình cảm yêu thiên nhiên, yêu sự sống và niềm tin vào cái đẹp, cái thiện trong con người.