Nguyễn Thị Yến Nhi
Giới thiệu về bản thân
1. Tên Di sản Văn hóa Vật thể
- Quần thể Di tích Cố đô Huế
2. Địa bàn
- Tỉnh Thừa Thiên Huế, miền Trung Việt Nam. Nằm dọc hai bên bờ sông Hương, bao gồm nhiều công trình kiến trúc và khu vực lân cận.
3. Thời gian hình thành/Niên đại
- Hình thành từ đầu thế kỷ XIX (1802) đến giữa thế kỷ XX (1945).
- Là kinh đô của triều Nguyễn, đánh dấu một giai đoạn quan trọng trong lịch sử Việt Nam.
4. Những đặc điểm tiêu biểu
- Kiến trúc độc đáo:
- Kiến trúc mang đậm phong cách cổ điển Á Đông, hòa quyện giữa các yếu tố văn hóa Việt Nam và Trung Quốc.
- Cấu trúc phức tạp với các tòa thành, cung điện, lăng tẩm, chùa chiền.
- Các công trình nổi bật:
- Kinh thành, Hoàng thành, Tử cấm thành: Trung tâm của triều đình.
- Lăng các vua Nguyễn: Các lăng tẩm như Lăng Minh Mạng, Lăng Khải Định, mang cấu trúc riêng biệt và nghệ thuật kiến trúc độc đáo.
5. Giá trị của di sản
- Ý nghĩa lịch sử:
- Là biểu tượng của quyền lực và văn hóa của triều Nguyễn, thể hiện sự phát triển của một vương triều lớn trong lịch sử Việt Nam.
- Giá trị văn hóa:
- Thể hiện bản sắc văn hóa Việt Nam với nhiều phong tục, tập quán và lễ hội diễn ra tại đây.
- Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới vào năm 1993.
- Giá trị kiến trúc:
- Là minh chứng cho tài năng và nghệ thuật của các kiến trúc sư thời kỳ phong kiến.
- Hệ thống di tích được bảo tồn và phát huy giá trị không chỉ là di sản của Việt Nam mà còn là tài sản văn hóa nhân loại.
Kết luận
Quần thể Di tích Cố đô Huế không chỉ là một điểm đến hấp dẫn với du khách mà còn là nơi lưu giữ những giá trị lịch sử, văn hóa quan trọng của dân tộc. Di sản này cần được bảo tồn và phát huy, giúp thế hệ tương lai hiểu hơn về lịch sử văn hóa của đất nước.
Tổng của hai số là 1,250 tỷ:
a
+
b
=
1
,
250
tỷ
a+b=1,250 tỷ
(Lưu ý: 1 tỷ = 1,000,000,000)
Tỉ số của hai số là
2
3
3
2
:
a
b
=
2
3
b
a
=
3
2
Từ tỉ số ở phương trình (2), ta có thể biểu diễn
a
a theo
b
b:
a
=
2
3
b
a=
3
2
b
Bây giờ, thay biểu thức của
a
a vào phương trình (1):
2
3
b
+
b
=
1
,
250
tỷ
3
2
b+b=1,250 tỷ
Cộng các hạng tử chứa
b
b:
(
2
3
+
1
)
b
=
1
,
250
tỷ
(
3
2
+1)b=1,250 tỷ
(
2
3
+
3
3
)
b
=
1
,
250
tỷ
(
3
2
+
3
3
)b=1,250 tỷ
5
3
b
=
1
,
250
tỷ
3
5
b=1,250 tỷ
Để tìm
b
b, ta nhân cả hai vế với
3
5
5
3
:
b
=
1
,
250
tỷ
×
3
5
b=1,250 tỷ×
5
3
b
=
1
,
250
×
3
5
tỷ
b=
5
1,250×3
tỷ
b
=
250
×
3
tỷ
b=250×3 tỷ
b
=
750
tỷ
b=750 tỷ
Bây giờ, ta tìm
a
a bằng cách thay giá trị của
b
b vào biểu thức
a
=
2
3
b
a=
3
2
b:
a
=
2
3
×
750
tỷ
a=
3
2
×750 tỷ
a
=
2
×
750
3
tỷ
a=
3
2×750
tỷ
a
=
2
×
250
tỷ
a=2×250 tỷ
a
=
500
tỷ
a=500 tỷ
Vậy, hai số cần tìm là 500 tỷ và 750 tỷ.
Nếu viết đầy đủ ra số thập phân:
Số thứ nhất là 500 tỷ = 500,000,000,000.
Số thứ hai là 750 tỷ = 750,000,000,000.
1. Phương pháp Thế:
Phương pháp này dựa trên việc biểu diễn một ẩn theo ẩn còn lại từ một phương trình, sau đó thế biểu thức đó vào phương trình còn lại để tìm ra giá trị của một ẩn.
Các bước thực hiện:
Chọn một trong hai phương trình và biểu diễn một ẩn theo ẩn còn lại. Ví dụ, từ phương trình
a
x
+
b
y
=
c
ax+by=c, ta có thể biểu diễn
x
x theo
y
y là
x
=
c
−
b
y
a
x=
a
c−by
(nếu
a
≠
0
a
=0), hoặc biểu diễn
y
y theo
x
x là
y
=
c
−
a
x
b
y=
b
c−ax
(nếu
b
≠
0
b
=0).
Thế biểu thức vừa tìm được vào phương trình còn lại.
Giải phương trình một ẩn vừa nhận được để tìm giá trị của ẩn đó.
Thế giá trị của ẩn vừa tìm được trở lại biểu thức ở bước 1 để tìm giá trị của ẩn còn lại.
Kiểm tra lại nghiệm bằng cách thay vào cả hai phương trình ban đầu.
Ví dụ: Giải hệ phương trình:
{
2
x
+
y
=
5
(
1
)
x
−
y
=
1
(
2
)
{
2x+y=5(1)
x−y=1(2)
Từ phương trình (2), ta biểu diễn
x
x theo
y
y:
x
=
1
+
y
x=1+y.
Thế
x
=
1
+
y
x=1+y vào phương trình (1):
2
(
1
+
y
)
+
y
=
5
2(1+y)+y=5
2
+
2
y
+
y
=
5
2+2y+y=5
3
y
=
3
3y=3
y
=
1
y=1
Thế
y
=
1
y=1 vào biểu thức
x
=
1
+
y
x=1+y:
x
=
1
+
1
x=1+1
x
=
2
x=2
Vậy nghiệm của hệ phương trình là
(
x
,
y
)
=
(
2
,
1
)
(x,y)=(2,1).
2. Phương pháp Cộng Đại Số (hay Phương pháp Cộng, Trừ):
Phương pháp này dựa trên việc nhân hai vế của một hoặc cả hai phương trình với các số thích hợp sao cho hai phương trình cộng (hoặc trừ) với nhau thì một ẩn bị triệt tiêu.
Các bước thực hiện:
Nhân hai vế của mỗi phương trình với một số thích hợp (nếu cần) để hai hệ số của một ẩn nào đó trong hai phương trình trở thành đối nhau (ví dụ: 2 và -2) hoặc bằng nhau (ví dụ: 3 và 3).
Cộng (nếu hệ số đối nhau) hoặc trừ (nếu hệ số bằng nhau) hai phương trình vừa nhận được để triệt tiêu một ẩn.
Giải phương trình một ẩn vừa nhận được để tìm giá trị của ẩn đó.
Thế giá trị của ẩn vừa tìm được vào một trong hai phương trình ban đầu để tìm giá trị của ẩn còn lại.
Kiểm tra lại nghiệm.
Ví dụ: Giải hệ phương trình:
{
2
x
+
y
=
5
(
1
)
x
−
y
=
1
(
2
)
{
2x+y=5(1)
x−y=1(2)
Ta thấy hệ số của
y
y trong phương trình (1) là 1 và trong phương trình (2) là -1. Chúng là hai số đối nhau. Do đó, ta cộng hai phương trình lại với nhau:
(
2
x
+
y
)
+
(
x
−
y
)
=
5
+
1
(2x+y)+(x−y)=5+1
3
x
=
6
3x=6
x
=
2
x=2
Thế
x
=
2
x=2 vào phương trình (1) (hoặc (2)):
2
(
2
)
+
y
=
5
2(2)+y=5
4
+
y
=
5
4+y=5
y
=
1
y=1
Vậy nghiệm của hệ phương trình là
(
x
,
y
)
=
(
2
,
1
)
(x,y)=(2,1).
3. Phương pháp Đồ thị:
Phương pháp này dùng để minh họa nghiệm của hệ phương trình.
Các bước thực hiện:
Vẽ đồ thị của từng phương trình trên cùng một mặt phẳng tọa độ. Mỗi phương trình bậc nhất hai ẩn sẽ biểu diễn một đường thẳng.
Tìm giao điểm của hai đường thẳng đó.
Tọa độ của giao điểm chính là nghiệm của hệ phương trình.
Lưu ý: Phương pháp này hữu ích để hình dung nhưng có thể không cho kết quả chính xác nếu giao điểm không nằm ở các tọa độ nguyên hoặc tròn.
Trường hợp đặc biệt:
Vô nghiệm: Hai đường thẳng song song và không trùng nhau.
Vô số nghiệm: Hai đường thẳng trùng nhau.
Cuộc đời mỗi người là một hành trình dài với biết bao kỷ niệm, nhưng có những kỷ niệm neo đậu lại trong tim, mang một ý nghĩa đặc biệt, trở thành hành trang quý giá theo ta đi suốt cuộc đời. Với tôi, kỷ niệm đáng nhớ nhất, in đậm dấu ấn trong trái tim, chính là những ngày tháng gắn bó cùng người bạn thân thuở ấu thơ, một tình bạn trong sáng, hồn nhiên và đầy ắp những bài học ý nghĩa.
Tôi và Minh, bạn thân của tôi, quen nhau từ thuở còn bé tí, khi hai gia đình còn sống cùng một khu phố. Từ những ngày đầu tiên chập chững biết đi, chúng tôi đã có nhau, cùng nhau chia sẻ mọi niềm vui, nỗi buồn. Kỷ niệm mà tôi luôn khắc ghi nhất là vào một mùa hè của những năm học tiểu học. Năm đó, tôi và Minh cùng nhau tham gia một chuyến dã ngoại của trường đến một khu rừng thông xanh mướt.
Ngày hôm ấy, thời tiết thật đẹp, nắng vàng rực rỡ trải dài trên những tán lá thông reo vui trong gió. Sau những giờ phút tham gia các trò chơi tập thể đầy hào hứng, chúng tôi bắt đầu hoạt động cắm trại. Minh, với sự nhanh nhẹn và tinh thần trách nhiệm, đã xung phong giúp thầy cô chuẩn bị mọi thứ. Còn tôi, vì mải mê chạy nhảy, khám phá xung quanh, đã vô tình làm đổ một bình nước lọc lớn. Nước tràn ra khắp nơi, làm ướt hết những đồ đạc mà các bạn khác đã chuẩn bị.
Lúc đó, tôi cảm thấy vô cùng xấu hổ và sợ hãi. Tôi sợ thầy cô và các bạn sẽ trách mắng, sợ mình đã làm hỏng cả một buổi dã ngoại. Nước mắt tôi bắt đầu tuôn rơi. Đúng lúc ấy, Minh đã chạy đến bên tôi. Thay vì trách móc hay tỏ ra khó chịu, cậu ấy chỉ nhẹ nhàng lau nước mắt cho tôi và nói: "Không sao đâu, cậu đừng khóc nữa. Chúng ta cùng nhau dọn dẹp lại là được mà. Dù sao thì ai cũng có lúc mắc sai lầm thôi."
Nghe lời Minh, tôi cảm thấy như có một luồng sức mạnh tràn đầy trong lòng. Chúng tôi cùng nhau lau dọn, cùng nhau gom lại những đồ đạc bị ướt, và sự giúp đỡ nhiệt tình của Minh đã khiến tôi quên đi nỗi sợ hãi ban đầu. Cùng với sự thông cảm của thầy cô và bạn bè, chúng tôi đã nhanh chóng khắc phục sự cố và tiếp tục buổi dã ngoại một cách vui vẻ.
Buổi dã ngoại hôm đó đã kết thúc trong tiếng cười nói rộn rã, nhưng trong tôi, hình ảnh Minh với nụ cười hiền hậu, đôi mắt ấm áp và hành động nghĩa hiệp vẫn còn nguyên vẹn. Kỷ niệm ấy không chỉ dạy cho tôi bài học về sự biết tha thứ, sẻ chia mà còn giúp tôi nhận ra giá trị thực sự của tình bạn. Tình bạn không chỉ là cùng nhau vui chơi, mà còn là cùng nhau vượt qua khó khăn, là sự động viên, an ủi khi ta vấp ngã.
Nhiều năm trôi qua, Minh và tôi giờ đã trưởng thành, có những con đường riêng. Nhưng mỗi khi nhớ về tuổi thơ, tôi lại mỉm cười khi nghĩ về ngày hôm ấy, về người bạn đã ở bên tôi, không phán xét, không trách móc, chỉ đơn giản là một cái nắm tay ấm áp và lời động viên chân thành. Kỷ niệm ấy đã trở thành một phần không thể thiếu trong ký ức của tôi, nhắc nhở tôi về ý nghĩa sâu sắc của tình bạn chân chính và thôi thúc tôi sống tốt đẹp hơn mỗi ngày.
x2−4+x(x−2)=x2−4+x2−2x
x2−4+x2−2x=2x2−2x−4
2x2−2x−4=2(x2−x−2)
x2−x−2=x2−2x+x−2
x2−2x+x−2=x(x−2)+1(x−2)=(x+1)(x−2)
2(x2−x−2)=2(x+1)(x−2)
Vậy, đa thức \(x^{2} - 4 + x \left(\right. x - 2 \left.\right)\) được phân tích thành nhân tử là \(2 \left(\right. x + 1 \left.\right) \left(\right. x - 2 \left.\right)\).
- Chủ đề: “Hòa bình và vai trò của giới trẻ trong xây dựng xã hội công bằng”
- Ý chính có thể bao gồm:
- Định nghĩa hòa bình theo cả hai khía cạnh ngoài xung đột và bên trong tâm hồn.
- Vai trò của thanh niên trong thúc đẩy đối thoại, tôn trọng khác biệt và phòng ngừa xung đột.
- Những hành động cụ thể hàng ngày để góp phần vào hòa bình: học tập, tình nguyện, tham gia hoạt động cộng đồng, đấu tranh vì công lý và quyền con người.
- Ví dụ về các sáng kiến thanh niên ở Việt Nam và trên thế giới để giữ gìn hòa bình và đoàn kết dân tộc.
- Kết luận nhấn mạnh hòa bình là trách nhiệm chung và hành trình bắt đầu từ mỗi người.
ồ hai
tìm 3 chữ số tận cùng của số 2^9^2003
Để tìm 3 chữ số tận cùng của số \(2^{9^{2003}}\), chúng ta cần tính \(2^{9^{2003}} m o d \textrm{ } \textrm{ } 1000\). Điều này tương đương với việc tìm số dư của \(2^{9^{2003}}\) khi chia cho 1000.
Ta có \(1000 = 2^{3} \cdot 5^{3} = 8 \cdot 125\). Vì \(2^{9^{2003}}\) chia hết cho 8 (do \(9^{2003} \geq 3\)), chúng ta có thể viết \(2^{9^{2003}} = 8 k\) với \(k\) là một số nguyên.
Tiếp theo, chúng ta cần tìm \(2^{9^{2003}} m o d \textrm{ } \textrm{ } 125\). Ta có \(\phi \left(\right. 125 \left.\right) = 125 \cdot \left(\right. 1 - \frac{1}{5} \left.\right) = 125 \cdot \frac{4}{5} = 100\). Theo định lý Euler, \(2^{100} \equiv 1 \left(\right. m o d 125 \left.\right)\).
Do đó, chúng ta cần tìm \(9^{2003} m o d \textrm{ } \textrm{ } 100\). Ta có \(100 = 4 \cdot 25\).
\(9 \equiv 1 \left(\right. m o d 4 \left.\right)\), nên \(9^{2003} \equiv 1^{2003} \equiv 1 \left(\right. m o d 4 \left.\right)\).
\(\phi \left(\right. 25 \left.\right) = 25 \cdot \left(\right. 1 - \frac{1}{5} \left.\right) = 20\). Vậy \(9^{20} \equiv 1 \left(\right. m o d 25 \left.\right)\).
\(2003 = 20 \cdot 100 + 3\), nên \(9^{2003} = \left(\right. 9^{20} \left.\right)^{100} \cdot 9^{3} \equiv 1^{100} \cdot 9^{3} \equiv 9^{3} \left(\right. m o d 25 \left.\right)\).
\(9^{3} = 729\). \(729 = 25 \cdot 29 + 4\), nên \(9^{3} \equiv 4 \left(\right. m o d 25 \left.\right)\).
Vậy, \(9^{2003} \equiv 1 \left(\right. m o d 4 \left.\right)\) và \(9^{2003} \equiv 4 \left(\right. m o d 25 \left.\right)\).
Chúng ta cần tìm một số \(x\) sao cho \(x \equiv 1 \left(\right. m o d 4 \left.\right)\) và \(x \equiv 4 \left(\right. m o d 25 \left.\right)\).
\(x = 4 + 25 k \equiv 1 \left(\right. m o d 4 \left.\right)\).
\(4 + 25 k \equiv 1 \left(\right. m o d 4 \left.\right)\)
\(25 k \equiv - 3 \left(\right. m o d 4 \left.\right)\)
\(k \equiv - 3 \equiv 1 \left(\right. m o d 4 \left.\right)\). Vậy \(k = 1\).
\(x = 4 + 25 \left(\right. 1 \left.\right) = 29\).
Vậy, \(9^{2003} \equiv 29 \left(\right. m o d 100 \left.\right)\).
Do đó, \(9^{2003} = 100 m + 29\) với \(m\) là một số nguyên.
Vậy, \(2^{9^{2003}} = 2^{100 m + 29} = \left(\right. 2^{100} \left.\right)^{m} \cdot 2^{29} \equiv 1^{m} \cdot 2^{29} \equiv 2^{29} \left(\right. m o d 125 \left.\right)\).
\(2^{29} = 2^{9} \cdot 2^{20} = 512 \cdot \left(\right. 2^{10} \left.\right)^{2} = 512 \cdot \left(\right. 1024 \left.\right)^{2} \equiv 512 \cdot \left(\right. 24 \left.\right)^{2} \equiv 512 \cdot 576 \equiv 512 \cdot 76 \equiv 38912 \left(\right. m o d 125 \left.\right)\).
\(38912 = 125 \cdot 311 + 37\), nên \(2^{29} \equiv 37 \left(\right. m o d 125 \left.\right)\).
Chúng ta cần tìm một số \(y\) sao cho \(y \equiv 0 \left(\right. m o d 8 \left.\right)\) và \(y \equiv 37 \left(\right. m o d 125 \left.\right)\).
\(y = 37 + 125 n \equiv 0 \left(\right. m o d 8 \left.\right)\)
\(37 + 125 n \equiv 0 \left(\right. m o d 8 \left.\right)\)
\(5 + 5 n \equiv 0 \left(\right. m o d 8 \left.\right)\)
\(5 n \equiv - 5 \left(\right. m o d 8 \left.\right)\)
\(n \equiv - 1 \equiv 7 \left(\right. m o d 8 \left.\right)\). Vậy \(n = 7\).
\(y = 37 + 125 \left(\right. 7 \left.\right) = 37 + 875 = 912\).
Vậy, \(2^{9^{2003}} \equiv 912 \left(\right. m o d 1000 \left.\right)\).
Ba chữ số tận cùng của \(2^{9^{2003}}\) là 912.
Trong trái tim em, có một người luôn tỏa sáng như vầng dương ấm áp, đó chính là bà ngoại. Bà không chỉ là người sinh ra mẹ em, mà còn là người đã dành cả tuổi thơ để yêu thương, chăm sóc và dạy dỗ em nên người. Mỗi lần nghĩ về bà, em lại thấy lòng mình dâng lên một niềm xúc động khó tả. Bà có dáng người nhỏ nhắn, mái tóc bạc phơ tựa mây khói và nụ cười hiền hậu luôn nở trên môi. Giọng nói của bà ấm áp như dòng suối mát, mỗi lời bà nói đều chứa đựng sự quan tâm, sẻ chia và những bài học quý giá về cuộc sống. Em nhớ mãi những buổi chiều hè ngồi bên bà, lắng nghe bà kể về những câu chuyện cổ tích ngày xưa, hay những lần bà tỉ mỉ dạy em từng nét chữ, từng phép tính. Chính bà đã gieo vào lòng em tình yêu thương, sự kiên nhẫn và nghị lực để vượt qua mọi khó khăn. Bà ngoại ơi, dù đi đâu hay làm gì, em sẽ mãi luôn yêu quý và kính trọng bà.
số tiền mua vở là : 7 x 8=56 ( đồng )
số tiền mua bút là : 10x12000=120000 ( đồng )
tổng số tiền của bút và vở là : 56+120000 = 120056 ( đồng )
cô bán hàng phải trả lan số tiền là : 120056-500=119556 ( đồng )
LƯU Ý:Lan đưa cho bác bán hàng 500đ.
Tổng số tiền cần thanh toán là 120,056đ.
Vì số tiền Lan đưa (500đ) ít hơn tổng số tiền cần thanh toán (120,056đ), nên Lan chưa đủ tiền trả và bác bán hàng sẽ không có tiền để trả lại cho Lan.