Nguyễn Thị Yến Nhi
Giới thiệu về bản thân
Cua có 10 chiếc chân, bao gồm 2 càng và 8 chân đi. Tuy nhiên, khi di chuyển, cua thường chỉ sử dụng 5 chân ở một bên cơ thể.
Bắc Bộ (miền Bắc) 🧭
- Cây trước nhà/thôn xóm: đa, đề, si (bóng mát, gắn đình chùa, giếng làng).
- Vườn nhà truyền thống: cau, trầu, chuối, bưởi, cam/quýt, hồng, na.
- Hàng rào/viền: duối, râm bụt.
- Hoa theo mùa đô thị: sấu, xà cừ, sưa, hoa sữa; Hà Nội mùa cúc họa mi tháng 11 gắn nếp sống đô thị cổ kính hoayeuthuong.
Bắc Trung Bộ - Duyên hải Trung Bộ 🌬️
- Cây chịu gió cát, nắng: phi lao (chắn gió, cát ven biển), bàng biển.
- Khu dân cư cổ/truyền thống: dừa, cau, bưởi, thanh trà; tre/trúc làm hàng rào.
- Miền đồi núi: keo, bạch đàn (trồng kinh tế), quế, hồi (đặc sản từng vùng).
Tây Nguyên ⛰️
- Không gian phố núi: thông (Đà Lạt), phượng tím, mimosa; vườn rau - hoa ôn đới.
- Vườn nương: cà phê, hồ tiêu, bơ, sầu riêng, điều (điều kiện cao nguyên bazan).
- Cây rừng bản địa: sao, dầu, bằng lăng (cảnh quan - sinh thái).
Nam Trung Bộ - Nam Bộ (miền Tây) 🌴
- Vườn nhà sông nước: dừa, chuối, xoài, mận, bưởi, sa kê; bờ ao mương có dừa nước.
- Hàng rào - lối đi: dâm bụt, trâm ổi, bông giấy; giàn bầu bí, mướp, khổ qua.
- Cây ăn trái đặc trưng: sầu riêng, chôm chôm, măng cụt (vùng nước ngọt).
- Kiến trúc sân vườn miền Tây thường đan xen cây ăn trái, mặt nước, nhà chòi - cầu khỉ, thể hiện triết lý sống hòa hợp sông nước meingarten.
Đô thị nhiều vùng (phổ biến toàn quốc) 🏙️
- Cây bóng mát - đường phố: sao đen, hoàng nam, lộc vừng (bóng mát, hoa đẹp) bachhoaxanh.
- Trước cửa nhà dễ trồng: bông giấy, đồng tiền, cúc, mười giờ... hợp khí hậu nhiệt đới Việt Nam sgl.
Gợi ý chọn cây theo công năng ✅
- Chắn gió - chống xói mòn ven biển: phi lao, bàng biển.
- Lấy bóng mát trước sân: đa, si (nơi rộng); lộc vừng, bằng lăng (đô thị).
- Vườn ăn trái theo miền: Bắc (bưởi, hồng, na), Tây Nguyên/Nam Bộ (xoài, bơ, sầu riêng, chôm chôm), Nam Bộ nước lợ (dừa nước).
- Trang trí dễ chăm: bông giấy, dâm bụt, trâm ổi.
đường thẳng đứng nhe
Mùa thu về rất khẽ
Lá vàng rơi đầy sân
Gió se lạnh mơn man
Hương cốm thoảng đâu đây.
Trời trong xanh vời vợi
Chim di trú bay qua
Lòng bỗng thấy thiết tha
Nhớ về miền quê cũ.
Nắng vàng như mật rót
Trải dài trên phố quen
Thời gian như dừng trên
Khoảnh khắc này dịu lại.
Giới thiệu chung:
- "Tiếng thu" (Lưu Trọng Lư): Bài thơ được sáng tác trong thời kỳ Thơ mới (1930-1945), in trong tập thơ "Tiếng thu" (1939). Tác phẩm mang đậm phong cách lãng mạn, thể hiện một mùa thu giàu sức gợi, với những âm thanh tinh tế và tâm trạng bâng khuâng, mơ hồ của chủ thể trữ tình.
- "Thu vịnh" (Nguyễn Khuyến): Bài thơ thuộc dòng thơ cổ điển, nằm trong chùm ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến (Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm). Bài thơ khắc họa một bức tranh mùa thu thanh cao, tĩnh lặng, qua đó gửi gắm tâm trạng cô đơn, u ẩn của nhà thơ trước cảnh đất nước thời bấy giờ.
Điểm tương đồng:
Cả hai bài thơ đều viết về mùa thu và thể hiện những rung động tinh tế của chủ thể trữ tình trước cảnh sắc mùa thu.
- Chủ đề về mùa thu: Đều khắc họa vẻ đẹp và không khí đặc trưng của mùa thu, một mùa gợi nhiều cảm xúc trong thi ca.
- Chủ thể trữ tình mang tâm trạng: Cả hai bài thơ đều thể hiện tâm trạng, cảm xúc của con người khi đối diện với mùa thu. Dù có sự khác biệt về sắc thái, cả hai đều cho thấy sự nhạy cảm, tinh tế trong tâm hồn thi nhân.
- Khắc họa mùa thu qua các giác quan: "Tiếng thu" chủ yếu dùng âm thanh ("tiếng thổn thức", "lá thu kêu xào xạc"), còn "Thu vịnh" tập trung vào thị giác ("ao thu lạnh lẽo", "lá vàng khẽ đưa vèo") và thính giác gián tiếp qua âm thanh của thiên nhiên ("chợt nghe văng vẳng", "tiếng dế kêu rì rào"). Cả hai cách tiếp cận này đều góp phần tạo nên bức tranh mùa thu sống động, đa chiều.
Điểm khác biệt:
Phương diện | "Tiếng thu" (Lưu Trọng Lư) | "Thu vịnh" (Nguyễn Khuyến) |
|---|---|---|
Phong cách nghệ thuật | Lãng mạn, hiện đại, giàu sức tưởng tượng và cảm xúc mơ hồ. Tác giả sử dụng hình ảnh giàu tính biểu tượng, gợi liên tưởng mạnh mẽ đến tâm trạng con người. | Cổ điển, trang nhã, hàm súc, đậm chất Đường thi. Tác giả sử dụng bút pháp tả thực kết hợp với tâm tình, khắc họa cảnh sắc thiên nhiên qua lăng kính của một nhà nho tài hoa, uyên bác. |
Cách cảm nhận & gợi tả | Mùa thu được cảm nhận qua âm thanh tinh tế, gợi cảm: "tiếng thổn thức dưới trăng mờ", "lá thu kêu xào xạc". Mùa thu còn gắn liền với nỗi lòng "người cô phụ" và hình ảnh "con nai vàng ngơ ngác". Bức tranh thu có nét hư ảo, gợi cảm xúc mong manh, bâng khuâng. | Mùa thu được cảm nhận qua cảnh sắc thanh cao, tĩnh lặng, đặc trưng của làng quê Bắc Bộ: "ao thu lạnh lẽo nước trong veo", "chiếc thuyền bé tẻo teo", "ngõ trúc quanh co khách vắng teo", "lá vàng khẽ đưa vèo". Bức tranh thu có nét thực, yên bình nhưng cũng phảng phất nỗi buồn u tịch. |
Tâm trạng chủ thể trữ tình | Tâm trạng bâng khuâng, mơ hồ, có chút cô đơn, day dứt. Nỗi buồn man mác, nhạy cảm trước sự chuyển mình của thiên nhiên và cả những nỗi niềm riêng tư (nỗi lòng của người chinh phụ). Có sự hòa quyện giữa cảnh và tình, giữa cái tôi và cảnh vật. | Nỗi cô đơn, trầm mặc, u ẩn của một nhà nho tài cao nhưng gặp thời thế không thuận lợi. Bài thơ thể hiện sự tĩnh lặng trong tâm hồn nhưng ẩn chứa một nỗi niềm "thầm kín" trước thời cuộc. Nỗi buồn mang tính triết lý, suy tư về cuộc đời và thế sự. |
Ngôn ngữ và hình ảnh | Ngôn ngữ giàu chất thơ, gợi cảm, có tính biểu tượng cao: "trăng mờ", "kẻ chinh phu", "người cô phụ", "con nai vàng ngơ ngác", "lá vàng khô". Câu hỏi tu từ được sử dụng để dẫn dắt cảm xúc. | Ngôn ngữ giản dị, trong sáng, giàu hình ảnh thực tế, quen thuộc của làng quê Bắc Bộ: "ao thu", "lá vàng", "chợ", "bến đò". Sử dụng các điển tích, điển cố trong thơ Đường. |
Kết luận:
Cả "Tiếng thu" và "Thu vịnh" đều là những áng thơ thu tuyệt đẹp, thể hiện tài năng và tâm hồn của hai nhà thơ ở hai giai đoạn văn học khác nhau. "Tiếng thu" mang đến một mùa thu lãng mạn, đầy âm thanh và cảm xúc mơ hồ của con người hiện đại, trong khi "Thu vịnh" khắc họa một mùa thu cổ điển, tĩnh lặng, thanh cao, gửi gắm nỗi niềm u ẩn của một bậc tài danh. Sự so sánh này giúp chúng ta thấy được sự đa dạng trong cách cảm nhận và biểu đạt vẻ đẹp của mùa thu trong thi ca Việt Nam.
T=1×2024+2×2023+3×2022+1×2024
\(T = 2024 + 4046 + 6066 + 2024\)
\(T = 14160\)
- Xét trường hợp có biến bằng 0:
Nếu \(a = 0\) hoặc \(b = 0\) hoặc \(c = 0\), thì \(a b c = 0\).
Số 0 chia hết cho mọi số nguyên khác 0, do đó \(a b c\) chia hết cho 210. - Xét trường hợp \(a , b , c\) đều khác 0:
Phương trình đã cho là \(a^{6} + b^{6} = c^{6}\).
Theo Định lý cuối cùng của Fermat, không tồn tại các số nguyên dương \(x , y , z\) sao cho \(x^{n} + y^{n} = z^{n}\) với \(n > 2\).
Áp dụng với \(n = 6\), ta có phương trình \(a^{6} + b^{6} = c^{6}\) không có nghiệm nguyên dương.
Vì \(a , b , c\) khác 0, ta có thể xét \(\mid a \mid , \mid b \mid , \mid c \mid\) là các số nguyên dương. Do đó, phương trình \(\mid a \mid^{6} + \mid b \mid^{6} = \mid c \mid^{6}\) không có nghiệm nguyên dương.
Điều này có nghĩa là không có số nguyên \(a , b , c\) nào khác 0 mà thỏa mãn \(a^{6} + b^{6} = c^{6}\).
Kết luận:
Từ hai trường hợp trên, mọi nghiệm nguyên \(\left(\right. a , b , c \left.\right)\) của phương trình \(a^{6} + b^{6} = c^{6}\) đều phải có ít nhất một biến bằng 0. Do đó, \(a b c = 0\).
Vì \(0\) chia hết cho \(210\), nên \(a b c\) luôn chia hết cho 210.
- AMNB là hình bình hành:
- Theo giả thiết: MN || AB, BN || AC.
- M thuộc AC nên AM // BN.
- Tứ giác AMNB có MN || AB và AM // BN nên là hình bình hành.
- \(\triangle E N F\) cân:
- Vì AMNB là hình bình hành, AD là đường cao \(\triangle A B C\) cân \(\textrm{ }\textrm{ } \Longrightarrow \textrm{ }\textrm{ }\) AD là trục đối xứng.
- Với E, F trên AD, MN || AB, BN || AC, suy ra NE = NF.
- Do NE = NF, \(\triangle E N F\) cân tại N.
- \(\angle E N S = \angle N F S\) và SI \(\bot\) BM:
- S là giao điểm đường trung trực NE, NF \(\textrm{ }\textrm{ } \Longrightarrow \textrm{ }\textrm{ }\) SE = SN và SF = SN. Suy ra SE = SN = SF.
- Xét \(\triangle E N S\) và \(\triangle F N S\), có SN chung, SE = SF, NE = NF (từ câu 2).
- Vậy \(\triangle E N S \cong \triangle F N S\) (c.c.c) \(\textrm{ }\textrm{ } \Longrightarrow \textrm{ }\textrm{ } \angle E N S = \angle N F S\).
- Chứng minh SB = SM:
- Do AD là trục đối xứng và S nằm trên AD, BN || AC, MN || AB, ta có SB = SN và SM = SN (cần chứng minh chi tiết dựa trên tính đối xứng).
- Suy ra SB = SM.
- Xét \(\triangle S B M\): có SB = SM và I là trung điểm BM (do AMNB là hình bình hành).
- \(\triangle S B M\) cân tại S, có SI là trung tuyến ứng với đáy BM \(\textrm{ }\textrm{ } \Longrightarrow \textrm{ }\textrm{ }\) SI là đường cao.
- Vậy SI \(\bot\) BM.
n2+n−1=1
\(n^{2} + n - 2 = 0\)
\(\left(\right. n - 1 \left.\right) \left(\right. n + 2 \left.\right) = 0\)
Từ đây ta có hai nghiệm:
- \(n = 1\)
- \(n = - 2\)
Xét \(n = 1\):
\(p = \left(\right. 5 \left(\right. 1 \left.\right) - 2 \left.\right) \times \left(\right. 1^{2} + 1 - 1 \left.\right) = \left(\right. 5 - 2 \left.\right) \times \left(\right. 1 + 1 - 1 \left.\right) = 3 \times 1 = 3\)
Vì 3 là số nguyên tố, \(n = 1\) thỏa mãn.
Xét \(n = - 2\):
\(p = \left(\right. 5 \left(\right. - 2 \left.\right) - 2 \left.\right) \times \left(\right. \left(\right. - 2 \left.\right)^{2} + \left(\right. - 2 \left.\right) - 1 \left.\right) = \left(\right. - 10 - 2 \left.\right) \times \left(\right. 4 - 2 - 1 \left.\right) = - 12 \times 1 = - 12\)
Vì \(- 12\) không phải là số nguyên tố, \(n = - 2\) không thỏa mãn.
Vậy, giá trị duy nhất của \(n\) để \(p\) là số nguyên tố là \(n = 1\).
2x+4:16=1
16=24
2x+4:24=1
2x+4−4=1
2x=1
x=0