Nguyễn Thị Yến Nhi

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Thị Yến Nhi
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Phần 1: Nêu gương trung thần nghĩa sĩ để khích lệ ý chí lập công danh, xả thân vì nước


Từ ngàn đời nay, dân tộc ta luôn tự hào với những vị trung thần, nghĩa sĩ đã không tiếc thân mình bảo vệ giang sơn. Đó là Trần Hưng Đạo – vị Quốc công Tiết chế tài ba, từng ba lần đánh bại quân Nguyên xâm lược. Là Phạm Ngũ Lão, người trọn đời cầm gươm nơi sa trường, lấy việc lập công danh làm lẽ sống. Là Trần Quốc Toản tuy tuổi còn nhỏ nhưng đã biết “cắn nát quả cam”, dấy quân đánh giặc cứu nước. Những tấm gương ấy như ánh đuốc soi đường, khích lệ lòng yêu nước, ý chí lập công danh, bảo vệ non sông gấm vóc của bao thế hệ sau này.


Phần 2: Tố cáo tội ác của kẻ thù, bày tỏ nỗi căm thù giặc sâu sắc


Thế nhưng, thật đau lòng khi non sông lại tiếp tục chịu cảnh giày xéo bởi quân thù tàn ác. Chúng cướp bóc làng mạc, đốt phá ruộng đồng, giết hại dân lành không gớm tay. Bao mái nhà yên ấm hóa tro tàn, bao tiếng khóc ly tán vọng khắp chốn quê. Lòng người dân lửa hận ngút trời. Bản thân ta cũng như hàng vạn con dân Đại Việt, không thể khoanh tay nhìn giặc giày xéo quê hương. Mỗi dòng máu đổ xuống hôm nay là lời thề khắc cốt ghi tâm: "Thù này không trả, thề không làm người!"


Phần 3: Phân tích sai lầm của tướng sĩ và đưa ra lời khuyên răn, cảnh tỉnh


Nhìn lại trận tuyến, ta không khỏi chạnh lòng khi thấy một số tướng sĩ chưa thật sự tỉnh ngộ. Có người còn mê rượu chè, ham thú vui mà quên nỗi nước nhà nguy biến. Có người mải mốt vinh thân, chưa để tâm rèn quân, luyện binh. Những sai lầm đó khiến thế trận suy yếu, quân giặc thừa cơ lấn tới. Ta mong các tướng sĩ hãy nhớ: giặc ngoài còn đó, nếu còn chần chừ, ắt nước mất, nhà tan. Hãy thức tỉnh, nhìn vào những tấm gương xưa để mà răn mình, biết gạt bỏ tư lợi, cùng nhau góp sức giữ yên bờ cõi.


Phần 4: Nêu việc cần làm, khẳng định ý chí quyết thắng, kêu gọi toàn quân đồng lòng


Thời cơ tuy gian nan nhưng lòng dân còn đó, chí khí chưa nguôi. Chúng ta cần đoàn kết, rèn luyện quân binh, củng cố thế trận. Phải lấy chí trai làm trọng, lấy nỗi đau đất nước làm động lực. Mỗi người lính, mỗi tướng quân đều là một chiến sĩ trên tuyến đầu. Ta tin, với quyết tâm sắt đá, toàn quân đồng lòng, chúng ta nhất định sẽ quét sạch quân thù, giành lại từng tấc đất quê hương, để núi sông mãi mãi trường tồn dưới bầu trời tự do!

Câu 1. (0,5 điểm)
Văn bản trên được viết theo thể thơ tự do.


Câu 2. (0,5 điểm)
Ba chi tiết miêu tả khung cảnh thiên nhiên trong bài thơ:

  • “Cánh chim bay xuống chiều”
  • “Buổi chiều thu mướt xanh”
  • “Cánh cò trôi nhanh nhanh”

Câu 3. (1,0 điểm)

  • Từ láy: nhấp nhô
  • Tác dụng: Từ láy “nhấp nhô” gợi hình ảnh sóng lúa đung đưa nhẹ nhàng theo gió, làm nổi bật vẻ đẹp mềm mại, sống động và bình yên của cánh đồng vào buổi chiều.

Câu 4. (1,0 điểm)

  • Bài thơ viết về khung cảnh chiều đồng nội vào mùa thu.
  • Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ rất thơ mộng, yên bìnhtràn đầy sức sống với hình ảnh cánh đồng lúa, đàn trâu, cánh chim, bếp khói… thể hiện sự gắn bó giữa con người và thiên nhiên.

Câu 5. (1,5 điểm)

  • Biện pháp tu từ: Nhân hóa (“Gọi trăng thu xuống gần”)
  • Tác dụng: Biện pháp nhân hóa làm cho khung cảnh trở nên sống động, gần gũi hơn; đồng thời thể hiện tình cảm gắn bó, thân thiết giữa con người với thiên nhiên quê hương trong buổi chiều thu ấm áp.

Câu 6. (1,5 điểm)
Khi đọc bài thơ, em nhớ lại những chiều thu ở quê, em cùng bà ra đồng thả trâu, hít thở không khí mát lành, ngắm cánh cò bay và ngửi mùi thơm của lúa chín. Kỉ niệm ấy giúp em hiểu rằng thiên nhiên luôn gắn bó mật thiết với con người. Qua đó, em thấy được thông điệp tác giả muốn gửi gắm: hãy yêu quý và trân trọng vẻ đẹp bình dị của quê hương, vì đó là nơi nuôi dưỡng tâm hồn ta lớn lên từng ngày.

Bài thơ Chiều đồng nội mở ra trước mắt em một khung cảnh mùa thu thật yên bình và thơ mộng ở cuối ngày trên đồng ruộng quê hương. Những câu thơ như “Những giọt thu trong vèo / Rắc ngang qua đồng nội” đã khiến em cảm nhận rõ ràng cái không khí mát mẻ, ánh nắng dịu dàng và hơi sương thu nhẹ nhàng phủ lên khắp cánh đồng.

Em rất thích cách tác giả dùng hình ảnh: “Cánh chim bay xuống chiều / Nâng nắng lên kẻo mỏi” — hình ảnh ấy khiến em liên tưởng đến những loài chim về tổ khi chiều về, và nắng như được chim nâng niu để không bị mệt. Cách diễn đạt tuy đơn giản nhưng lại rất tinh tế và gần gũi.

Tiếp đó, khung cảnh được miêu tả rõ hơn: “Buổi chiều thu mướt xanh / Cỏ thơm cùng hoa dại / Cánh cò trôi nhanh nhanh / Đàn trâu về chậm rãi”. Những câu thơ ấy làm cho em cảm nhận được sự yên ả mà vẫn tràn đầy sức sống của đồng quê. Cỏ và hoa dại có mùi thơm, cò bay nhẹ, trâu về chậm… tất cả như hòa quyện vào nhau để tạo thành một bản nhạc dịu dàng của thiên nhiên.

Bài thơ không chỉ có thiên nhiên mà còn có dấu ấn con người quê hương: “Bếp nhà ai tỏa khói / Gọi trăng thu xuống gần”. Hình ảnh ấy thật ấm áp, vừa quen vừa lạ — khói bếp hiện lên như lời chào chiều muộn, và trăng thu được gọi gần hơn, khiến em cảm nhận được sự gắn bó giữa con người và thiên nhiên.

Khi đọc bài thơ, em nhớ lại những chiều cuối thu ở quê mình: ánh nắng vàng trải trên ruộng lúa, tiếng chim kêu vang trong không gian trong trẻo, và mùi hương thơm của lúa mới, của hoa dại… Đó là những kỉ niệm rất đẹp mà mỗi khi nhớ lại lòng em lại dịu lại. Qua đó, em hiểu hơn thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm: thiên nhiên là kho báu của chúng ta, mỗi khoảnh khắc đẹp đều quý giá, hãy để lòng mình lắng xuống và cảm nhận.

Em cảm thấy mình yêu hơn mảnh đất quê hương, yêu hơn những chiều yên bình và giản dị. Em muốn giữ những khoảnh khắc ấy trong tim và biết trân quý những điều tưởng chừng rất nhỏ — một làn gió thu, một tia nắng, một khóm hoa dại — vì chúng làm cho cuộc sống thêm ấm và đẹp.

  • Trường hợp 1: Nếu tuổi Oanh là 11.
    Ta có \(O = 11\).
    Phương trình trở thành: \(P + 1 1^{2} = 300\)
    \(P + 121 = 300\)
    \(P = 300 - 121 = 179\)
    Số 179 là số có 3 chữ số, không phải là số nguyên tố có 2 chữ số. Vậy trường hợp này không đúng.
  • Trường hợp 2: Nếu tuổi Oanh là 13.
    Ta có \(O = 13\).
    Phương trình trở thành: \(P + 1 3^{2} = 300\)
    \(P + 169 = 300\)
    \(P = 300 - 169 = 131\)
    Số 131 là số có 3 chữ số, không phải là số nguyên tố có 2 chữ số. Vậy trường hợp này không đúng.
  • Trường hợp 3: Nếu tuổi Oanh là 17.
    Ta có \(O = 17\).
    Phương trình trở thành: \(P + 1 7^{2} = 300\)
    \(P + 289 = 300\)
    \(P = 300 - 289 = 11\)
    Số 11 là số nguyên tố và có 2 chữ số. Vậy trường hợp này đúng.
  • Tuổi của Oanh là 17.
  • Tuổi của Phương là 11.
  1. Bình phương hai vế của phương trình trên:
    \(\left(\right. \sqrt{7} \left.\right)^{2} = \left(\left(\right. \frac{a}{b} \left.\right)\right)^{2}\)
    \(7 = \frac{a^{2}}{b^{2}}\)
    Nhân cả hai vế với \(b^{2}\):
    \(7 b^{2} = a^{2} \left(\right. * \left.\right)\)
    Từ phương trình \(\left(\right. * \left.\right)\), ta thấy \(a^{2}\) chia hết cho 7. Vì 7 là số nguyên tố, nên nếu \(a^{2}\) chia hết cho 7 thì \(a\) cũng phải chia hết cho 7.
    Do đó, ta có thể viết \(a\) dưới dạng \(a = 7 k\), với \(k\) là một số nguyên.
    Thay \(a = 7 k\) vào phương trình \(\left(\right. * \left.\right)\):
    \(7 b^{2} = \left(\right. 7 k \left.\right)^{2}\)
    \(7 b^{2} = 49 k^{2}\)
    Chia cả hai vế cho 7:
    \(b^{2} = 7 k^{2}\)
    Từ phương trình này, ta thấy \(b^{2}\) chia hết cho 7. Vì 7 là số nguyên tố, nên nếu \(b^{2}\) chia hết cho 7 thì \(b\) cũng phải chia hết cho 7.
    Như vậy, cả \(a\)\(b\) đều chia hết cho 7. Điều này có nghĩa là \(a\)\(b\) có ước chung là 7.
    Việc này mâu thuẫn với giả thiết ban đầu rằng phân số \(\frac{a}{b}\) là tối giản (tức là \(a\)\(b\) không có ước chung nào khác 1).
  2. Kết luận.
    Vì giả sử ban đầu dẫn đến mâu thuẫn, nên giả sử đó là sai.
    Do đó, \(\sqrt{7}\) không phải là số hữu tỉ.
    Vậy, \(\sqrt{7}\) là số vô tỉ.

110,000,000,000,000,000,000,000,000,000,000,000,000,000,000,000,000,000,000

  1. Cờ của các triều đại phong kiến sơ khai: Mặc dù không có hình ảnh cụ thể được ghi chép lại rõ ràng như thời cận đại, các triều đại từ thời kỳ Bắc thuộc đến các triều đại độc lập sơ khai (như nhà Ngô, nhà Đinh, nhà Tiền Lê, nhà Lý, nhà Trần) đều có thể đã sử dụng các biểu tượng hoặc cờ hiệu để thể hiện quyền lực hoàng gia. Tuy nhiên, chúng ta không có mô tả chi tiết về hình dáng và màu sắc.
  2. Cờ của triều đại nhà Lý (1009 - 1225): Tương tự như các triều đại trước, các triều đại nhà Lý có thể đã sử dụng cờ biểu trưng cho hoàng gia. Tuy nhiên, thông tin về loại cờ này còn rất hạn chế.
  3. Cờ của triều đại nhà Trần (1226 - 1400): Nhà Trần nổi tiếng với các trận đánh chống quân Nguyên Mông. Các tướng lĩnh và quân đội nhà Trần chắc chắn đã sử dụng cờ hiệu. Tương truyền, có thể đã sử dụng cờ có hình tượng con rồng hoặc các biểu tượng khác liên quan đến hoàng gia.
  4. Cờ của nhà Hồ (1400 - 1407): Nhà Hồ tồn tại trong một thời gian ngắn nhưng có nhiều cải cách. Có thể đã có những biểu tượng cờ hiệu riêng cho triều đại này, nhưng thông tin còn rất ít.
  5. Cờ của triều đại nhà Hậu Lê (1428 - 1788): Triều Hậu Lê tồn tại trong thời gian dài với nhiều biến động. Các vua Lê sơ và sau này là các vua Lê Trung Hưng có thể đã sử dụng các loại cờ hoàng gia khác nhau.
  6. Cờ của triều đại nhà Mạc (1527 - 1677): Nhà Mạc đã từng kiểm soát một phần lãnh thổ phía Bắc và có thời kỳ tồn tại song song với triều Lê - Trịnh. Họ chắc chắn đã có cờ hiệu riêng.
  7. Cờ của triều đại nhà Nguyễn (1802 - 1945): Dưới thời nhà Nguyễn, cờ hiệu hoàng gia được sử dụng. Đặc biệt, Hoàng Kỳ (cờ của Hoàng đế) và các biến thể của nó đã được sử dụng. Ví dụ, "Long Tinh Kỳ" (cờ có hình sao trên nền vàng) được nhắc đến như là quốc kỳ nguyên thủy của triều Nguyễn. Các mô tả cho thấy cờ nhà Nguyễn thường có nền vàng, đôi khi có hình rồng hoặc các biểu tượng hoàng gia khác.
  8. Cờ ngoại giao của Vương triều Đại Nam (khoảng 1858 - 1885): Trong giai đoạn này, Đại Nam (tên gọi quốc gia dưới thời nhà Nguyễn) đã sử dụng cờ ngoại giao có nền màu vàng viền màu đỏ
  9. Cờ của các thủ lĩnh phong trào khởi nghĩa: Trong suốt giai đoạn XVIII-XIX, Việt Nam chứng kiến nhiều phong trào khởi nghĩa nông dân và chống ngoại xâm. Các thủ lĩnh như Nguyễn Huệ (vua Quang Trung), Nguyễn Ánh (vua Gia Long), hay các nhà yêu nước khác chắc chắn đã sử dụng các cờ hiệu riêng cho quân đội và lực lượng của mình để nhận diện và hiệu triệu. Tuy nhiên, mô tả chi tiết về các loại cờ này thường không còn lưu giữ

Câu 1: Nạn đói năm 1945 bao nhiêu người tử vong?

A. Hơn 2000
B. Dưới 2000
C. 20000 nghìn
D. Ý kiến khác

Đáp án: D. Ý kiến khác

Giải thích: Theo các tài liệu lịch sử, số người chết trong nạn đói năm 1945 ước tính từ 400.000 đến 2 triệu người. Do đó, không đáp án nào trong các lựa chọn trên chính xác.

Câu 2: Kể tên một số cuộc kháng chiến từ giai đoạn XVIII-XX.

Một số cuộc kháng chiến tiêu biểu từ giai đoạn XVIII-XX bao gồm:

  1. Phong trào Tây Sơn (cuối thế kỷ XVIII)
  2. Kháng chiến chống Pháp (1858-1884)
  3. Phong trào Cần Vương (cuối thế kỷ XIX)
  4. Khởi nghĩa Yên Thế (cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX)
  5. Các phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX (ví dụ: Đông Du, Duy Tân)

Câu 3: Kể tên 1/3 số dân tộc tại Việt Nam.

Việt Nam 54 dân tộc, vậy 1/3 số dân tộc 18 dân tộc. Dưới đây 18 dân tộc (kể ngẫu nhiên):

  1. Kinh
  2. Tày
  3. Thái
  4. Mường
  5. Nùng
  6. H'Mông
  7. Dao
  8. Ê Đê
  9. Gia Rai
  10.  Ho
  11. Sán Chay
  12. Sán Dìu
  13. Hrê
  14. Mạ
  15. Ba Na
  16.  Đăng
  17. Khơ Me
  18. Chăm