Nguyễn Thị Yến Nhi
Giới thiệu về bản thân
phải gi
phải gi ạ
phải gi ạ
phải chịu!
Ta có thể tìm ƯCLN của \(90\) và \(225\) bằng thuật toán Euclid như sau:
- Chia \(225\) cho \(90\):\(225 = 2 \times 90 + 45\)
- Chia \(90\) cho số dư \(45\) từ phép chia trước:\(90 = 2 \times 45 + 0\)Số dư khác \(0\) cuối cùng nhận được trong quá trình này là \(45\). Do đó, ƯCLN(\(90 , 225\)) = \(45\).
Vậy, độ dài lớn nhất của cạnh hình vuông có thể chia là \(45\) cm.
Sông Thái Bình là một trong những con sông lớn ở miền Bắc Việt Nam, gắn liền với lịch sử và văn hóa của vùng đồng bằng sông Hồng. Dù tên sông trùng với tên tỉnh Thái Bình, sông không chảy qua tỉnh này mà chỉ lướt qua hai xã thuộc huyện Thái Thụy. Bắt nguồn từ ngã ba Lác, nơi hợp lưu của sông Cầu và sông Thương, sông Thái Bình uốn lượn qua nhiều tỉnh thành, bồi đắp phù sa cho những cánh đồng màu mỡ. Sông không chỉ là tuyến đường thủy quan trọng mà còn là nguồn cung cấp nước tưới tiêu, sinh hoạt cho người dân. Hai bên bờ sông là những làng quê trù phú, những cánh đồng xanh ngát, tạo nên bức tranh làng quê thanh bình, yên ả. Dòng chảy của sông Thái Bình tuy không lớn, nhưng lại mang trong mình giá trị lịch sử, văn hóa sâu sắc, là một phần không thể thiếu của vùng đất châu thổ sông Hồng.
không^^
Quê hương hai tiếng thân thương
Gửi vào trong mỗi con đường ta đi
Bao nhiêu kỷ niệm diệu kỳ
Tuổi thơ tôi đã trespass líu lo
Cánh diều bay lượn trên bờ
Bóng ai thấp thoáng mộng mơ con đò
Dòng sông chở nặng phù sa
Về nuôi ruộng lúa bao la thơm mùi
Khói lam chiều quyện trên đồi
Ấm lòng con cháu xa xôi trở về
Quê hương vẫn mãi tràn trề
Tình yêu tha thiết bốn bề vang xa.
Bài thơ "Tiếng gà trưa" của nhà thơ Xuân Quỳnh đã để lại trong em nhiều cảm nhận sâu sắc về tình bà cháu. Từ tiếng gà trưa nghe được trên bước đường hành quân "Dừng chân bên xóm nhỏ/ Tiếng gà ai nhảy ổ/ Cục... cục tác cục ta" đã khơi dậy dòng cảm xúc trong lòng người cháu. Nghe tiếng kêu thân thuộc ấy, lòng cháu lại thổn thức, bồi hồi, nhớ về kỉ niệm tuổi thơ tươi đẹp bên bà. Cháu nhớ tới những hình ảnh thân thuộc, bình dị ở làng quê Việt Nam "Ổ rơm hồng những trứng/ Này con gà mái mơ...". Cháu nhớ tới người bà tần tảo, chắt chiu từng quả trứng "Cho con gà mái ấp". Cháu còn nhớ những tháng ngày sống trong tình yêu thương của bà. Bà cần mẫn chăm sóc đàn gà nhỏ để cháu được mặc bộ quần áo mới "Khi gió mùa đông tới/ Bà lo đàn gà toi/ Mong trời đừng sương muối/ Để cuối năm bán gà". Cảm nhận được tình thương bao la, thắm thiết mà bà dành cho cháu, cháu vẫn luôn vững lòng chiến đấu nơi chiến trường khói lửa. Tình yêu cháu dành cho bà như hòa cùng tình yêu quê hương đất nước, là động lực để cháu tiến bước về phía trước "Vì lòng yêu Tổ quốc/ Vì xóm làng thân thuộc/ Bà ơi, cũng vì bà/ Vì tiếng gà cục tác". Qua đó, bài thơ đã khơi gợi trong ta những tình cảm thiêng liêng trong cuộc đời mỗi người - tình cảm gia đình, tình yêu quê hương, đất nước.
"Bầy chim chìa vôi" là một truyện ngắn đầy xúc động của nhà văn Nguyễn Quang Thiều, khắc họa tình cảm anh em sâu nặng và vẻ đẹp tâm hồn trong sáng của những đứa trẻ vùng sông nước. Trong tác phẩm này, nhân vật Mon đã để lại trong lòng người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc bởi sự hồn nhiên, tình yêu thương và lòng dũng cảm của mình.
Mon là một cậu bé nhỏ tuổi, em trai của Mên. Ngay từ đầu tác phẩm, Mon hiện lên với vẻ ngoài bé nhỏ, yếu ớt nhưng ẩn chứa một trái tim giàu tình yêu thương. Khi nghe tiếng chìa vôi kêu cứu trong đêm mưa bão, Mon không hề sợ hãi mà lập tức lo lắng cho bầy chim non. Tình cảm của Mon dành cho chim chìa vôi không chỉ đơn thuần là sự tò mò của một đứa trẻ mà còn là sự đồng cảm, xót xa trước những sinh linh bé nhỏ đang gặp nguy hiểm. Chính sự lo lắng ấy đã thôi thúc Mon cùng anh trai Mên dầm mình trong mưa gió để cứu chim.
Đặc biệt, Mon thể hiện một tình cảm anh em vô cùng gắn bó với Mên. Dù còn nhỏ và có phần nhút nhát, Mon luôn tin tưởng và dựa dẫm vào anh trai. Trong đêm tối mịt mùng, tiếng sấm sét và mưa gió vần vũ, Mon nắm chặt tay Mên, mong muốn có anh ở bên để vượt qua nỗi sợ hãi. Điều này cho thấy Mon là một cậu bé yếu đuối nhưng lại rất tình cảm, luôn đặt niềm tin vào người anh của mình. Sự ngây thơ, hồn nhiên của Mon còn được thể hiện qua những câu hỏi, những suy nghĩ trẻ thơ về bầy chim và dòng sông.
Tuy nhiên, điều khiến Mon trở nên đặc biệt chính là lòng dũng cảm tiềm ẩn. Dù sợ hãi bóng đêm và cơn bão, Mon vẫn kiên quyết theo anh ra bãi sông để chứng kiến cảnh bầy chim chìa vôi bay lên. Khoảnh khắc bầy chim cất cánh giữa rạng đông chính là phần thưởng xứng đáng cho sự kiên trì và tấm lòng nhân ái của hai anh em. Hình ảnh Mon lặng lẽ đứng cạnh Mên, ngắm nhìn bầy chim bay lên, không nói một lời nhưng ánh mắt lấp lánh niềm vui và sự thanh thản, cho thấy em đã trưởng thành hơn rất nhiều sau chuyến đi đầy thử thách.
Qua nhân vật Mon, nhà văn Nguyễn Quang Thiều đã gửi gắm thông điệp về vẻ đẹp tâm hồn của trẻ thơ: hồn nhiên, trong sáng, giàu tình yêu thương và dũng cảm. Mon không chỉ là một cậu bé bé nhỏ mà còn là biểu tượng cho những giá trị nhân văn cao đẹp, khơi gợi trong lòng người đọc sự trân trọng những điều bình dị, nhỏ bé trong cuộc sống và tình cảm gia đình thiêng liêng. Chính nhờ những đặc điểm ấy, nhân vật Mon đã khiến em vô cùng yêu quý và ấn tượng, ngay từ lần đọc truyện đầu tiên.
| Cấu trúc | Chức năng |
|---|---|
Thành tế bào | Bảo vệ tế bào, quy định hình dạng (thường là peptidoglycan). |
Màng sinh chất | Trao đổi chất với môi trường, thực hiện hô hấp ở vi khuẩn hiếu khí. |
Tế bào chất | Chứa các bào quan, enzym và nơi diễn ra các phản ứng hóa học. |
Ribosome | Tổng hợp protein (loại 70S, nhỏ hơn ribosome của tế bào nhân thực). |
Vùng nhân (nucleoid) | Chứa phân tử ADN dạng vòng, không có màng nhân bao bọc. |
Plasmid | ADN vòng nhỏ, ngoài nhiễm sắc thể chính, mang gen kháng thuốc, di truyền bổ sung. |
Lông (flagella) | Giúp di chuyển (không phải vi khuẩn nào cũng có). |
Pili (lông nhung) | Giúp bám vào bề mặt hoặc truyền vật liệu di truyền giữa các vi khuẩn. |
Bao nhầy (nếu có) | Giúp vi khuẩn bám dính và bảo vệ khỏi hệ miễn dịch hoặc khô hạn. |
TÍN NGƯỠNG – TÔN GIÁO Ở ĐẠI VIỆT (TK XVI–XVIII)
│
┌────────────────────────────┼────────────────────────────┐
│ │ │
★ Tín ngưỡng dân gian ★ Phật giáo ★ Nho giáo
│ │ │
• Phổ biến trong nhân dân • Suy yếu dần • Vẫn giữ vai trò tư tưởng
• Thờ thành hoàng, tổ tiên • Không còn vị thế • Là nền tảng của giáo dục,
• Tín ngưỡng thờ Mẫu độc tôn như thời Lý-Trần thi cử, quản lý nhà nước
• Bói toán, lên đồng... • Chủ yếu trong dân gian • Được chúa Trịnh & Nguyễn
trọng dụng
│ │ │
└────────────────────┬──────────────┬────────────────────┘
│ │
★ Đạo giáo ★ Thiên Chúa giáo
│ │
• Có mặt từ trước • Du nhập từ phương Tây
• Phát triển trong (TK XVII)
dân gian • Truyền bá bởi giáo sĩ phương Tây
• Bị cấm đoán, bắt bớ → phát triển ngầm
• Góp phần hình thành chữ **Quốc ngữ**