Quàng Văn Dũng
Giới thiệu về bản thân
Ngày xưa, vào đời vua Hùng Vương thứ sáu, nhà vua muốn tìm người nối ngôi nên mở hội thi. Vua phán: “Ai làm được món ăn ngon, ý nghĩa nhất dâng lên tổ tiên vào dịp Tết thì sẽ được truyền ngôi.” Các lang khắp nơi đua nhau săn thú rừng, bắt cá sông, nấu những món sơn hào hải vị. Riêng lang Liêu – con trai thứ mười tám của vua – nghèo khó, không có gì quý để dâng. Một đêm, Liêu mơ thấy thần nhân hiện về bảo: “Trong trời đất, không gì quý bằng hạt gạo. Hãy lấy gạo nếp gói thành bánh hình vuông tượng trời đất, nhân đậu xanh thịt lợn, lá dong gói ngoài tượng trưng mẹ đất bao bọc.”
Tỉnh dậy, Liêu làm theo. Chàng vo gạo nếp trắng tinh, giã đậu xanh nhuyễn vàng, thái thịt lợn mỡ. Bánh vuông gói lá dong gọi là bánh chưng, tượng trời đất vuông vức, nhân xanh vàng đỏ trắng đủ ngũ hành. Chàng lại lấy gạo nếp nấu chín, giã nhuyễn, gói lá chuối thành đòn dài gọi là bánh dầy, tượng hình tròn của mặt trăng, mặt trời. Đêm giao thừa, Liêu dâng hai thứ bánh lên vua cha.
Vua nếm thử, thấy bánh chưng mềm dẻo, thơm lừng, nhân béo ngậy; bánh dầy dai ngọt, thanh tao. Vua hỏi ý nghĩa, Liêu thưa: “Bánh chưng vuông như đất, bánh giòng tròn như trời, lá xanh như mẹ đất nuôi dưỡng, gạo trắng như lòng hiếu thảo của con cái.” Vua cảm động, truyền ngôi cho Liêu.
Từ đó, mỗi dịp Tết đến, dân gian đều gói bánh chưng, bánh dầy dâng cúng tổ tiên, thể hiện lòng biết ơn trời đất, nhớ công ơn cha mẹ. Bánh chưng xanh, bánh dầy trắng trở thành biểu tượng của ngày Tết cổ truyền, nhắc nhở con cháu sống hiếu thảo, đoàn viên.
Ngày xưa, vào đời vua Hùng Vương thứ sáu, nhà vua muốn tìm người nối ngôi nên mở hội thi. Vua phán: “Ai làm được món ăn ngon, ý nghĩa nhất dâng lên tổ tiên vào dịp Tết thì sẽ được truyền ngôi.” Các lang khắp nơi đua nhau săn thú rừng, bắt cá sông, nấu những món sơn hào hải vị. Riêng lang Liêu – con trai thứ mười tám của vua – nghèo khó, không có gì quý để dâng. Một đêm, Liêu mơ thấy thần nhân hiện về bảo: “Trong trời đất, không gì quý bằng hạt gạo. Hãy lấy gạo nếp gói thành bánh hình vuông tượng trời đất, nhân đậu xanh thịt lợn, lá dong gói ngoài tượng trưng mẹ đất bao bọc.”
Tỉnh dậy, Liêu làm theo. Chàng vo gạo nếp trắng tinh, giã đậu xanh nhuyễn vàng, thái thịt lợn mỡ. Bánh vuông gói lá dong gọi là bánh chưng, tượng trời đất vuông vức, nhân xanh vàng đỏ trắng đủ ngũ hành. Chàng lại lấy gạo nếp nấu chín, giã nhuyễn, gói lá chuối thành đòn dài gọi là bánh dầy, tượng hình tròn của mặt trăng, mặt trời. Đêm giao thừa, Liêu dâng hai thứ bánh lên vua cha.
Vua nếm thử, thấy bánh chưng mềm dẻo, thơm lừng, nhân béo ngậy; bánh dầy dai ngọt, thanh tao. Vua hỏi ý nghĩa, Liêu thưa: “Bánh chưng vuông như đất, bánh giòng tròn như trời, lá xanh như mẹ đất nuôi dưỡng, gạo trắng như lòng hiếu thảo của con cái.” Vua cảm động, truyền ngôi cho Liêu.
Từ đó, mỗi dịp Tết đến, dân gian đều gói bánh chưng, bánh dầy dâng cúng tổ tiên, thể hiện lòng biết ơn trời đất, nhớ công ơn cha mẹ. Bánh chưng xanh, bánh dầy trắng trở thành biểu tượng của ngày Tết cổ truyền, nhắc nhở con cháu sống hiếu thảo, đoàn viên.