Nguyễn Lê Quỳnh Như
Giới thiệu về bản thân
Văn học thế kỉ XVIII là văn học của những tiếng nói cảm thương, cảm thông cho số phận bất hạnh của người phụ nữ. Ngoài kiệt tác "Truyện Kiều" của Nguyễn Du ta cũng không thể không nhắc đến tác phẩm "Chinh phụ ngâm" của Đặng Trần Côn. Nhờ nghệ thuật ngôn từ tinh tế và nội dung đặc sắc tác phẩm đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng người đọc bởi nỗi đau của người phụ nữ khi chồng phải ra chiến trận.
Đoạn trích thường được đọc là phần miêu tả tâm trạng người chinh phụ trong những tháng ngày xa chồng, chờ đợi mòn mỏi giữa không gian tĩnh lặng. Đoạn trích nằm ở phần giữa của tác phẩm, khi người chinh phụ trong những ngày tháng xa cách chồng chờ đợi mòn mỏi giữa không gian tĩnh lặng.
Ngay từ những câu mở đầu, hình ảnh người chinh phụ hiện lên lẻ loi, buồn tủi trong không gian tĩnh mịch: "Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,/Ngồi rèm thưa đủ thác đòi phen./Ngoài rèm thước mách chẳng tin,/Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?" Những đọng từ "dạo" , "gieo từng bước" gợi bước chân chậm rãi, vô hồn , nặng trĩu tâm tư. "Thước mách chẳng tin" tượng trưng cho hi vọng mong manh về tin chiến trận , còn ngọn "đèn" - vật vô tri - lại trở thành bạn tâm tình của người cô phụ. Bút pháp tả cảnh ngụ tình được vận dụng tinh tế: cảnh vật tĩnh lặng phản chiếu tâm trạng cô đơn, trông ngóng của con người.
Không gian khuya khoắt càng làm nổi bật sự trống trải trong lòng người chờ đợi: "Gà eo óc gáy sương năm trống,/Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên." Tiếng gà gáy khắc khoải báo canh, bóng hòe rủ buồn như cùng chia sẻ tâm sự với người chinh phụ. Thời gian và không gian như bị kéo dài vô tận, gợi sự mòn mỏi, cô độc. Cảnh vật không chỉ tả thực mà còn tượng trưng cho tâm hồn người phụ nữ cô quạnh giữa đem dài vô tận.
Đoạn trích thể hiện nghệ thuật bậc thầy của hai tác giả . Về thể thơ song thất lục bát được sử dung điêu luyện ,nhịp điệu uyển chuyển, du dương, thích hợp để diên tả buồn thương. Ngôn ngữ thơ trang trang nhã, tinh tế, kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố cổ điển và trữ tình dận tộc. Bút pháp ước lệ - tượng trưng và tả cảnh ngụ tình khiến cảnh vạt như có linh hồn, đồng cảm với nỗi lòng nhân vật. Ngoài ra, bản dịch Nôm còn có giá trị nghệ thuật cao : lời thơ mềm mại, trong sáng, giàu nhạc điệu và đậm chất Việt , làm cho tác phẩm vừa thấm đẫm cảm xúc vừa gần gũi với người đọc.
"Chinh phụ ngâm" không chỉ là khúc ngâm sầu thương của người phụ nữ trong chiến tranh mà còn là tiếng nói nhân đạo sâu sắc, đề cao tình yêu và khát vọng hạnh phúc đôi lứa. Với nội dung cảm động và nghệ thuật tinh tế, đoạn trích đã trở thành những áng thơ trữ tình đặc sắc nhất của văn học Việt Nam trung đại.
-Thông điệp : Con người không thể cưỡng lại quy luật vô thường của thời gian và cuộc đời; sống cần biết trân trọng hiện tại, giữ gìn những giá trị đang có.
-Lí giải Từ Thức từ bỏ chốn tiên để trở về trần vì nỗi nhớ quê hương, nhưng khi quay về thì mọi thứ đã thay đổi, không thể tìm lại được điều xưa cũ
Sự lựa chọn của Từ Thức ở cuối đoạn trích phản ánh tâm trạng và sự khát khao tự do của nhân vật. Khi Từ Thức mặc áo cừu và đội nón lá, anh không chỉ thay đổi trang phục mà còn chuyển mình từ một người đàn ông bình thường sang một người hành hiệp tự do, thoát khỏi những ràng buộc của cuộc sống thường nhật.
Việc anh "không biết đi đâu mất" biểu hiện cho sự tìm kiếm bản thân , sự phiêu lưu và khám phá những điều mới mẻ. Điều này có thể thấy là một biểu tượng cho khát vọng sống chân thật và theo đuổi những điều mình đam mê, không bị ràng buộc bởi thực tại hay những quy chuẩn xã hội. Từ Thức chọn cách rời bỏ thế giới quen thuộc để hướng tới những điều chưa biết, thể hiện tâm hồn lãng mạn và tinh thần phóng khoáng của anh.
Lựa chọn này cũng có thể gợi ý rằng Từ Thức đang tìm kiếm một ý nghĩa sâu sắc hơn trong cuộc sống, vượt ra ngoài những giá trị vật chất và danh vọng. Việc anh "không biết đi đâu" có thể là một cách thể hiện rằng hành trình quan trọng hơn đích đến, và trong cuộc sống, hành trình khám phá bản thân và thế giới xung quanh là một phần không thể thiếu.