Hoàng Ngọc Hưng
Giới thiệu về bản thân
câu 1
Nhân vật Dung trong đoạn trích "Hai lần chết" của Thạch Lam là hiện thân cho bi kịch của người phụ nữ trong xã hội cũ, bị coi như một món hàng và bị tước đoạt quyền sống. Ngay từ đầu, số phận của Dung đã đầy cay đắng khi bị chính mẹ đẻ "bán" vào nhà giàu để lấy mấy trăm đồng bạc. Sống ở nhà chồng, Dung rơi vào cảnh "địa ngục trần gian": phải làm lụng cực nhọc "đầu tắt mặt tối", bị mẹ chồng đay nghiến, em chồng ghê gớm và người chồng nhu nhược, vô tâm. Nỗi đau khổ lớn nhất của Dung không chỉ là sự vắt kiệt sức lao động mà là sự cô độc tuyệt đối. Khi tìm đến sự che chở từ gia đình đẻ, nàng chỉ nhận lại sự hờ hững và những lời mắng nhiếc từ mẹ ruột. Sự bế tắc đẩy Dung đến bước đường cùng, nàng chọn cái chết như một sự "thoát nợ". Tuy nhiên, ngay cả khi được cứu sống, sự lạnh lùng và tàn nhẫn của mẹ chồng vẫn không hề thay đổi, khiến cái chết về mặt tâm hồn của Dung càng trở nên bi thảm hơn. Qua nhân vật Dung, Thạch Lam đã thể hiện niềm thương cảm sâu sắc trước thân phận nhỏ bé, đồng thời phê phán hủ tục và sự băng hoại đạo đức trong gia đình truyền thống.
câu 2
xã hội hiện đại, bình đẳng giới không còn là một khẩu hiệu xa vời mà đã trở thành mục tiêu sống còn để xây dựng một cộng đồng văn minh. Nó không chỉ đơn thuần là việc bảo vệ quyền lợi cho phái nữ, mà là cuộc cách mạng nhằm giải phóng tiềm năng của mọi cá nhân, không phân biệt giới tính. Bình đẳng giới là khi mọi người, dù là nam hay nữ, đều có quyền tiếp cận giáo dục, cơ hội nghề nghiệp và quyền tự quyết định cuộc đời mình. Một xã hội thực sự công bằng là nơi giới tính không còn là rào cản ngăn ai đó trở thành một phi hành gia, một kỹ sư hay một người nội trợ chuyên nghiệp. Khi chúng ta phá bỏ được những định kiến lỗi thời, chúng ta đang mở ra cánh cửa để những tài năng được tỏa sáng đúng chỗ. Thực tế, bình đẳng giới mang lại lợi ích cho tất cả mọi người. Đối với phụ nữ, đó là sự tự chủ và tôn nghiêm. Đối với nam giới, đó là sự giải thoát khỏi áp lực nặng nề của hình mẫu "trụ cột" duy nhất, cho phép họ được thể hiện cảm xúc và sẻ chia trách nhiệm gia đình. Khi cả hai phái cùng đứng trên một mặt bằng chung, sự thấu hiểu và gắn kết sẽ thay thế cho những mâu thuẫn và áp đặt. Tuy nhiên, con đường đi đến bình đẳng thực chất vẫn gặp nhiều trở ngại. Đó là sự chênh lệch về thu nhập, là những quy chuẩn ngầm định về "việc đàn ông" hay "chuyện đàn bà". Để thay đổi, chúng ta cần bắt đầu từ những hành động nhỏ nhất: giáo dục trẻ em về sự tôn trọng từ trong gia đình, khuyến khích phụ nữ làm chủ công nghệ và tạo ra những chính sách công bằng tại nơi làm việc. Tóm lại, bình đẳng giới chính là sự công bằng. Khi mỗi cá nhân được tạo điều kiện tốt nhất để phát triển theo năng lực thay vì giới tính, xã hội sẽ đạt được sự cân bằng và thịnh vượng. Hãy để giới tính chỉ là một đặc điểm tự nhiên, chứ không phải là một giới hạn cho những giấc mơ.
Câu 1. Xác định luận đề của văn bản. Luận đề: Ý nghĩa nghệ thuật và giá trị tư tưởng sâu sắc của chi tiết "cái bóng" trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ). Câu 2. Theo người viết, truyện "Chuyện người con gái Nam Xương" hấp dẫn bởi tình huống truyện độc đáo . Theo văn bản, tình huống độc đáo đó là: Sau bao nhiêu năm chinh chiến ngoài biên ải, người chồng (Trương Sinh) may mắn thoát chết trở về, mong được ôm ấp con nhưng đứa con lại không nhận cha. Nó khẳng định có một người đàn ông khác đêm nào cũng đến, mẹ đi cũng đi, mẹ ngồi cũng ngồi nhưng không bao giờ bế nó. Tình huống này đẩy sự ghen tuông của người chồng lên đỉnh điểm, dẫn đến cái chết oan khuất của người vợ. Câu 3. Mục đích của việc người viết nhắc đến tình huống truyện ở phần mở đầu văn bản . Mục đích là: Tóm tắt cốt truyện: Giúp người đọc nắm bắt được bối cảnh và diễn biến chính của câu chuyện. Dẫn dắt vào vấn đề: Tạo tiền đề để khẳng định sức hấp dẫn của tác phẩm không nằm ở đề tài cũ mà nằm ở cách xây dựng tình huống độc đáo xoay quanh "cái bóng". Tạo sự chú ý: Khơi gợi sự tò mò của người đọc về nguyên nhân và hệ quả của thói ghen tuông mù quáng. Câu 4. Chỉ ra chi tiết khách quan, chủ quan trong đoạn (2) và nhận xét mối quan hệ là . Chi tiết khách quan: Những lời kể về trò chơi "soi bóng trên tường" ngày xưa (không có tivi, trẻ con quây quần bên đèn dầu, dùng bàn tay tạo hình thù...). Chi tiết chủ quan: Những suy đoán, cảm nhận của tác giả về tâm trạng Vũ Nương: "Có lẽ vì muốn con luôn cảm thấy người cha vẫn có mặt ở nhà, và để tự an ủi mình... nên người vợ đã chỉ vào cái bóng của mình mà nói với con rằng đó là cha của Đản". Nhận xét mối quan hệ: Cách trình bày khách quan (sự thật về trò chơi dân gian) làm nền tảng vững chắc, tạo sự tin cậy cho những nhận định chủ quan (phân tích tâm lý nhân vật). Sự kết hợp này giúp bài phê bình vừa có tính thực tế, vừa có chiều sâu cảm xúc và sức thuyết phục cao. Câu 5. Vì sao người viết lại cho rằng chi tiết cái bóng là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc là . Theo văn bản, chi tiết cái bóng đặc sắc vì: Về mặt cốt truyện: Nó là "cái cớ" khéo léo để thắt nút và mở nút câu chuyện một cách tự nhiên, bất ngờ. Về mặt ý nghĩa nhân văn: Nó thể hiện tấm lòng yêu chồng, thương con tha thiết nhưng cũng đầy bi kịch của Vũ Nương (dùng bóng làm cha để an ủi con và chính mình). Về mặt tư tưởng: Nó là hiện thực hóa của thói ghen tuông mù quáng – một "căn bệnh truyền đời" của nhân loại. Cái bóng tuy vô hình nhưng lại có sức công phá khủng khiếp, làm tan nát một gia đình. Về tính triết lý: Nó buộc người đọc phải suy ngẫm về những sai lầm do chính con người gây ra và những hậu quả không thể khắc phục được.
Câu 1. dấu hiệu giúp em nhận biết được thể thơ của văn bản trên là. Dấu hiệu nhận biết: Văn bản được viết bằng thể thơ song thất lục bát. Dấu hiệu cụ thể: Cấu trúc cơ bản: Một cặp song thất (hai câu bảy chữ) tiếp theo là một cặp lục bát (một câu sáu chữ và một câu tám chữ), tạo thành một khổ thơ cơ bản. Ví dụ: Cặp song thất: Tình nguyện vọng chứa chan non nước / Bạn tri âm man mác giời mây (7 chữ – 7 chữ) Cặp lục bát: Nở gan một cuộc cười say / Đường xa coi nhẹ gánh đầy như không (6 chữ – 8 chữ) Lưu ý: Đoạn đầu 4 câu theo thể thất ngôn tứ tuyệt mang tính chất dẫn nhập, còn lại phần lớn bài thơ theo thể song thất lục bát. Câu 2. Phương thức biểu đạt chính của văn bản này là Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm. Lý giải: Văn bản chủ yếu tập trung vào việc bộc lộ trực tiếp những tâm trạng (sầu, vui vẻ, đau lòng, nực cười) và cảm xúc (niềm tự hào, chí lớn, sự thất bại, nỗi cô đơn) của nhân vật trữ tình trước cảnh xuân và cuộc đời. Câu 3. không gian và thời gian trong văn bản là. Không gian: Có sự dịch chuyển từ không gian rộng lớn, phóng khoáng sang không gian chật hẹp, đơn lẻ: Ban đầu: Phong cảnh chiều xuân (tự nhiên), non nước, giời mây, non sông (khí thế, lý tưởng). Về sau: Giang sơn bảng lảng, sông nước (gắn với sự chia ly, lưu lạc), thuyền một lá (cô độc, nhỏ bé). Thời gian: Có sự đan xen giữa quá khứ và hiện tại để bộc lộ sự nuối tiếc: Quá khứ (Mười lăm năm trước): Thời kỳ xuân xanh, đầy tình nguyện vọng và chí lớn (gắn với việc làm báo Hữu Thanh, An Nam tạp chí). Hiện tại (thời điểm sáng tác): Thời điểm xuân sầu, phân ly, mất thuyền, nghĩ lại mối duyên (gắn với sự thất bại, tạp chí đóng cửa). Câu 4. Qua văn bản, nhân vật trữ tình gửi gắm những tâm trạng, cảm xúc là Nhân vật trữ tình (Tản Đà) gửi gắm những tâm trạng và cảm xúc phức tạp, đan xen: Nỗi buồn, u sầu: Buồn vì cảnh xuân tươi đẹp nhưng lòng lại mang nặng nỗi xuân sầu (Xuân sầu chi để bận riêng ai!). Khí phách, lý tưởng lớn lao: Tự hào về chí nam nhi tang bồng (Phận nam nhi tang bồng là chí), quyết đem bút sắt mà mài lòng son để cứu nước, tô lại bản đồ rách nát. Đau đớn, thất vọng, bất lực: Cảm thấy sức thua giời, đau lòng son sắt khi chí lớn không thành, phải xếp ngọn bút, giã đàn văn (việc làm báo bị đình chỉ). Cô đơn, nuối tiếc: Cảm giác cô độc (Thuyền một lá buông liều sông nước), vắng tri âm khi sự nghiệp tan vỡ. Tâm trạng triết lí, hóm hỉnh (tự trào): Coi cuộc đời là trần luỵ đa mang, sự nghiệp văn chương là duyên nợ hay món nợ phải trả, thể hiện sự chấp nhận, ngậm ngùi, nhưng vẫn giữ khí chất thanh cao. Câu 5. tác dụng của phép đối trong văn bản là. Phép đối được sử dụng dày đặc, là một đặc trưng của thể song thất lục bát, có tác dụng: Tạo nhịp điệu, âm hưởng cân xứng: Giúp lời thơ trở nên hài hòa, đăng đối, giàu tính nhạc và dễ nhớ. Khắc họa rõ ràng lý tưởng và bi kịch: Đối lập quá khứ - hiện tại: Mười lăm năm trước xuân xanh đối Thiên nhiên ai hoạ bức tranh xuân sầu suy ra Nhấn mạnh sự thay đổi, chuyển từ thời oanh liệt sang thời thất bại, cô đơn. Đối lập hành động/ý chí: Tri Tri cất tiếng (việc cũ) đối Hữu Thanh gọi đàn (việc cũ); Dư đồ rách đối nước non tô lại; Đồng bào xa đối trai gái kêu lên suy ra .Thể hiện chí hướng lớn, hành động tích cực vì dân vì nước. Đối lập trạng thái: Giang sơn bảng lảng đối tu mi thẹn thùng (cảnh vật và con người); Xếp ngọn bút đối Giã đàn văn suy ra Diễn tả sự đau đớn, dứt khoát từ bỏ sự nghiệp văn chương. Đối lập triết lí: Trần hoàn trả trả đối vay vay suy ra Khẳng định quan niệm nhẹ nhàng, triết lý về công nợ, được mất ở đời.
Câu 1. dấu hiệu giúp em nhận biết được thể thơ của văn bản trên là. Dấu hiệu nhận biết: Văn bản được viết bằng thể thơ song thất lục bát. Dấu hiệu cụ thể: Cấu trúc cơ bản: Một cặp song thất (hai câu bảy chữ) tiếp theo là một cặp lục bát (một câu sáu chữ và một câu tám chữ), tạo thành một khổ thơ cơ bản. Ví dụ: Cặp song thất: Tình nguyện vọng chứa chan non nước / Bạn tri âm man mác giời mây (7 chữ – 7 chữ) Cặp lục bát: Nở gan một cuộc cười say / Đường xa coi nhẹ gánh đầy như không (6 chữ – 8 chữ) Lưu ý: Đoạn đầu 4 câu theo thể thất ngôn tứ tuyệt mang tính chất dẫn nhập, còn lại phần lớn bài thơ theo thể song thất lục bát. Câu 2. Phương thức biểu đạt chính của văn bản này là Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm. Lý giải: Văn bản chủ yếu tập trung vào việc bộc lộ trực tiếp những tâm trạng (sầu, vui vẻ, đau lòng, nực cười) và cảm xúc (niềm tự hào, chí lớn, sự thất bại, nỗi cô đơn) của nhân vật trữ tình trước cảnh xuân và cuộc đời. Câu 3. không gian và thời gian trong văn bản là. Không gian: Có sự dịch chuyển từ không gian rộng lớn, phóng khoáng sang không gian chật hẹp, đơn lẻ: Ban đầu: Phong cảnh chiều xuân (tự nhiên), non nước, giời mây, non sông (khí thế, lý tưởng). Về sau: Giang sơn bảng lảng, sông nước (gắn với sự chia ly, lưu lạc), thuyền một lá (cô độc, nhỏ bé). Thời gian: Có sự đan xen giữa quá khứ và hiện tại để bộc lộ sự nuối tiếc: Quá khứ (Mười lăm năm trước): Thời kỳ xuân xanh, đầy tình nguyện vọng và chí lớn (gắn với việc làm báo Hữu Thanh, An Nam tạp chí). Hiện tại (thời điểm sáng tác): Thời điểm xuân sầu, phân ly, mất thuyền, nghĩ lại mối duyên (gắn với sự thất bại, tạp chí đóng cửa). Câu 4. Qua văn bản, nhân vật trữ tình gửi gắm những tâm trạng, cảm xúc là Nhân vật trữ tình (Tản Đà) gửi gắm những tâm trạng và cảm xúc phức tạp, đan xen: Nỗi buồn, u sầu: Buồn vì cảnh xuân tươi đẹp nhưng lòng lại mang nặng nỗi xuân sầu (Xuân sầu chi để bận riêng ai!). Khí phách, lý tưởng lớn lao: Tự hào về chí nam nhi tang bồng (Phận nam nhi tang bồng là chí), quyết đem bút sắt mà mài lòng son để cứu nước, tô lại bản đồ rách nát. Đau đớn, thất vọng, bất lực: Cảm thấy sức thua giời, đau lòng son sắt khi chí lớn không thành, phải xếp ngọn bút, giã đàn văn (việc làm báo bị đình chỉ). Cô đơn, nuối tiếc: Cảm giác cô độc (Thuyền một lá buông liều sông nước), vắng tri âm khi sự nghiệp tan vỡ. Tâm trạng triết lí, hóm hỉnh (tự trào): Coi cuộc đời là trần luỵ đa mang, sự nghiệp văn chương là duyên nợ hay món nợ phải trả, thể hiện sự chấp nhận, ngậm ngùi, nhưng vẫn giữ khí chất thanh cao. Câu 5. tác dụng của phép đối trong văn bản là. Phép đối được sử dụng dày đặc, là một đặc trưng của thể song thất lục bát, có tác dụng: Tạo nhịp điệu, âm hưởng cân xứng: Giúp lời thơ trở nên hài hòa, đăng đối, giàu tính nhạc và dễ nhớ. Khắc họa rõ ràng lý tưởng và bi kịch: Đối lập quá khứ - hiện tại: Mười lăm năm trước xuân xanh đối Thiên nhiên ai hoạ bức tranh xuân sầu suy ra Nhấn mạnh sự thay đổi, chuyển từ thời oanh liệt sang thời thất bại, cô đơn. Đối lập hành động/ý chí: Tri Tri cất tiếng (việc cũ) đối Hữu Thanh gọi đàn (việc cũ); Dư đồ rách đối nước non tô lại; Đồng bào xa đối trai gái kêu lên suy ra .Thể hiện chí hướng lớn, hành động tích cực vì dân vì nước. Đối lập trạng thái: Giang sơn bảng lảng đối tu mi thẹn thùng (cảnh vật và con người); Xếp ngọn bút đối Giã đàn văn suy ra Diễn tả sự đau đớn, dứt khoát từ bỏ sự nghiệp văn chương. Đối lập triết lí: Trần hoàn trả trả đối vay vay suy ra Khẳng định quan niệm nhẹ nhàng, triết lý về công nợ, được mất ở đời.
Câu 1. dấu hiệu giúp em nhận biết được thể thơ của văn bản trên là. Dấu hiệu nhận biết: Văn bản được viết bằng thể thơ song thất lục bát. Dấu hiệu cụ thể: Cấu trúc cơ bản: Một cặp song thất (hai câu bảy chữ) tiếp theo là một cặp lục bát (một câu sáu chữ và một câu tám chữ), tạo thành một khổ thơ cơ bản. Ví dụ: Cặp song thất: Tình nguyện vọng chứa chan non nước / Bạn tri âm man mác giời mây (7 chữ – 7 chữ) Cặp lục bát: Nở gan một cuộc cười say / Đường xa coi nhẹ gánh đầy như không (6 chữ – 8 chữ) Lưu ý: Đoạn đầu 4 câu theo thể thất ngôn tứ tuyệt mang tính chất dẫn nhập, còn lại phần lớn bài thơ theo thể song thất lục bát. Câu 2. Phương thức biểu đạt chính của văn bản này là Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm. Lý giải: Văn bản chủ yếu tập trung vào việc bộc lộ trực tiếp những tâm trạng (sầu, vui vẻ, đau lòng, nực cười) và cảm xúc (niềm tự hào, chí lớn, sự thất bại, nỗi cô đơn) của nhân vật trữ tình trước cảnh xuân và cuộc đời. Câu 3. không gian và thời gian trong văn bản là. Không gian: Có sự dịch chuyển từ không gian rộng lớn, phóng khoáng sang không gian chật hẹp, đơn lẻ: Ban đầu: Phong cảnh chiều xuân (tự nhiên), non nước, giời mây, non sông (khí thế, lý tưởng). Về sau: Giang sơn bảng lảng, sông nước (gắn với sự chia ly, lưu lạc), thuyền một lá (cô độc, nhỏ bé). Thời gian: Có sự đan xen giữa quá khứ và hiện tại để bộc lộ sự nuối tiếc: Quá khứ (Mười lăm năm trước): Thời kỳ xuân xanh, đầy tình nguyện vọng và chí lớn (gắn với việc làm báo Hữu Thanh, An Nam tạp chí). Hiện tại (thời điểm sáng tác): Thời điểm xuân sầu, phân ly, mất thuyền, nghĩ lại mối duyên (gắn với sự thất bại, tạp chí đóng cửa). Câu 4. Qua văn bản, nhân vật trữ tình gửi gắm những tâm trạng, cảm xúc là Nhân vật trữ tình (Tản Đà) gửi gắm những tâm trạng và cảm xúc phức tạp, đan xen: Nỗi buồn, u sầu: Buồn vì cảnh xuân tươi đẹp nhưng lòng lại mang nặng nỗi xuân sầu (Xuân sầu chi để bận riêng ai!). Khí phách, lý tưởng lớn lao: Tự hào về chí nam nhi tang bồng (Phận nam nhi tang bồng là chí), quyết đem bút sắt mà mài lòng son để cứu nước, tô lại bản đồ rách nát. Đau đớn, thất vọng, bất lực: Cảm thấy sức thua giời, đau lòng son sắt khi chí lớn không thành, phải xếp ngọn bút, giã đàn văn (việc làm báo bị đình chỉ). Cô đơn, nuối tiếc: Cảm giác cô độc (Thuyền một lá buông liều sông nước), vắng tri âm khi sự nghiệp tan vỡ. Tâm trạng triết lí, hóm hỉnh (tự trào): Coi cuộc đời là trần luỵ đa mang, sự nghiệp văn chương là duyên nợ hay món nợ phải trả, thể hiện sự chấp nhận, ngậm ngùi, nhưng vẫn giữ khí chất thanh cao. Câu 5. tác dụng của phép đối trong văn bản là. Phép đối được sử dụng dày đặc, là một đặc trưng của thể song thất lục bát, có tác dụng: Tạo nhịp điệu, âm hưởng cân xứng: Giúp lời thơ trở nên hài hòa, đăng đối, giàu tính nhạc và dễ nhớ. Khắc họa rõ ràng lý tưởng và bi kịch: Đối lập quá khứ - hiện tại: Mười lăm năm trước xuân xanh đối Thiên nhiên ai hoạ bức tranh xuân sầu suy ra Nhấn mạnh sự thay đổi, chuyển từ thời oanh liệt sang thời thất bại, cô đơn. Đối lập hành động/ý chí: Tri Tri cất tiếng (việc cũ) đối Hữu Thanh gọi đàn (việc cũ); Dư đồ rách đối nước non tô lại; Đồng bào xa đối trai gái kêu lên suy ra .Thể hiện chí hướng lớn, hành động tích cực vì dân vì nước. Đối lập trạng thái: Giang sơn bảng lảng đối tu mi thẹn thùng (cảnh vật và con người); Xếp ngọn bút đối Giã đàn văn suy ra Diễn tả sự đau đớn, dứt khoát từ bỏ sự nghiệp văn chương. Đối lập triết lí: Trần hoàn trả trả đối vay vay suy ra Khẳng định quan niệm nhẹ nhàng, triết lý về công nợ, được mất ở đời.