Bùi Ngọc Hà Thư

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Bùi Ngọc Hà Thư
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)
Câu 1. Phân tích nội dung bài thơ "Đề đền Sầm Nghi Đống" (Khoảng 150 chữ) Bài thơ "Đề đền Sầm Nghi Đống" là một tiếng cười ngạo nghễ, thể hiện bản lĩnh phi thường của Hồ Xuân Hương trước các giá trị phong kiến và kẻ thù xâm lược. Ngay từ cái nhìn "ghé mắt trông ngang", nữ sĩ đã bộc lộ thái độ coi thường, thiếu tôn trọng đối với ngôi đền thờ vị tướng bại trận. Từ láy "cheo leo" không chỉ tả thực vị trí ngôi đền mà còn ám chỉ sự thảm hại, không vững chãi của danh tiếng Sầm Nghi Đống. Đặc biệt, hai câu cuối là một lời thách thức đầy kiêu hãnh: "Ví đây đổi phận làm trai được/ Thì sự anh hùng há bấy nhiêu?". Tác giả khẳng định nếu mình là nam giới, sự nghiệp anh hùng sẽ vẻ vang hơn nhiều so với kẻ bại trận nhục nhã. Qua đó, bài thơ không chỉ thể hiện tinh thần tự hào dân tộc, lòng căm thù giặc sâu sắc mà còn là tiếng nói đòi bình đẳng giới, khẳng định tài năng và vị thế của người phụ nữ trong xã hội cũ. Câu 2. Suy nghĩ về trách nhiệm của mỗi người trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước (Khoảng 400 chữ) Từ thái độ đầy tự tôn dân tộc của Hồ Xuân Hương trong bài thơ "Đề đền Sầm Nghi Đống", ta thấy rằng lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm với quốc gia luôn là mạch ngầm tuôn chảy trong mỗi con người Việt Nam. Trong bối cảnh hiện nay, trách nhiệm xây dựng và bảo vệ đất nước không chỉ là nghĩa vụ thiêng liêng mà còn là sứ mệnh của mọi thế hệ. Trách nhiệm trước hết bắt đầu từ những hành động nhỏ nhất trong đời sống thường ngày. Đối với thế hệ trẻ, đó là tinh thần nỗ lực học tập, rèn luyện đức tài để trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao, đưa đất nước sánh vai với các cường quốc năm châu. Xây dựng đất nước hôm nay chính là xây dựng một nền kinh tế vững mạnh, một xã hội văn minh và giàu bản sắc văn hóa. Chúng ta cần có ý thức bảo tồn những giá trị truyền thống, đồng thời tiếp thu tinh hoa nhân loại để làm giàu cho nội lực quốc gia. Bên cạnh xây dựng, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc cũng quan trọng không kém. Bảo vệ đất nước không chỉ là cầm súng nơi biên thùy, mà còn là đấu tranh chống lại những thông tin sai lệch, bảo vệ chủ quyền trên không gian mạng và giữ gìn an ninh trật tự xã hội. Mỗi người dân cần nâng cao cảnh giác, nuôi dưỡng lòng tự hào dân tộc và sẵn sàng cống hiến khi Tổ quốc cần. Giống như cái nhìn sắc sảo và đầy bản lĩnh của Hồ Xuân Hương trước kẻ thù, chúng ta cần sự tỉnh táo và quyết tâm để bảo vệ những thành quả mà cha ông đã gây dựng. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận cá nhân sống thờ ơ, thiếu trách nhiệm, thậm chí có hành vi đi ngược lại lợi ích quốc gia. Đó là những hiện tượng đáng phê phán. Lòng yêu nước thực sự phải được cụ thể hóa bằng hành động, bằng sự tử tế và ý thức thượng tôn pháp luật. Tóm lại, xây dựng và bảo vệ đất nước là hai nhiệm vụ chiến lược song hành. Mỗi cá nhân, dù ở vị trí nào, cũng cần nhận thức rõ vai trò của mình để đóng góp sức mình vào sự trường tồn của dân tộc. Đất nước chỉ có thể mạnh khi mỗi người dân đều mang trong mình một trái tim hồng và ý chí vươn lên bền bỉ.
Câu 1. Thể thơ:
Bài thơ được viết theo thể Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật (bốn câu, mỗi câu bảy chữ).
Câu 2. Trợ từ và từ tượng hình:
  • Trợ từ: "Kìa", "há".
  • Từ tượng hình: "Cheo leo".
Câu 3. Thái độ của nữ sĩ:
  • Các từ ngữ miêu tả thái độ: "Ghé mắt trông ngang", "kìa", "đổi phận", "há bấy nhiêu".
  • Nhận xét: Đó là thái độ ngạo nghễ, giễu cợt và coi thường. Thay vì cung kính trước một ngôi đền, Hồ Xuân Hương chỉ "ghé mắt trông ngang" (cái nhìn thiếu tôn trọng). Bà không gọi bằng danh xưng tôn kính mà gọi trực diện là "Thái thú", đồng thời khẳng định nếu mình là nam giới thì sự nghiệp anh hùng sẽ vẻ vang hơn nhiều so với kẻ bại trận như Sầm Nghi Đống.
Câu 4. Biện pháp tu từ và tác dụng:
  • Biện pháp tu từ: Sử dụng từ ngữ giàu sức gợi (ghé mắt trông ngang) và từ láy tượng hình (cheo leo).
  • Tác dụng:
    • "Ghé mắt trông ngang": Thể hiện sự xem thường, không thèm nhìn thẳng, phủ nhận sự uy nghiêm của ngôi đền.
    • "Cheo leo": Gợi tư thế không vững chãi, trơ trọi, hàm ý chế giễu sự thất bại nhục nhã của một vị tướng giặc giờ chỉ còn là một ngôi miếu nhỏ vô danh, không nhận được sự kính trọng của người đời.
    • Tổng thể: Làm nổi bật bản lĩnh tự tin, sự ngang tàng của "Bà chúa thơ Nôm" trước những giá trị phong kiến hủ bại và kẻ thù xâm lược.
Câu 5. Thông điệp của tác giả:
Qua bài thơ, Hồ Xuân Hương gửi gắm những thông điệp sâu sắc:
  • Khát vọng bình đẳng giới: Thể hiện ý thức mạnh mẽ về tài năng và bản lĩnh của người phụ nữ, dám thách thức và so tài với nam giới trong xã hội trọng nam khinh nữ.
  • Lòng tự hào dân tộc: Gián tiếp ca ngợi chiến thắng vĩ đại của dân tộc (đại phá quân Thanh), đồng thời mỉa mai, hạ nhục kẻ bại trận xâm lược.
  • Sự phê phán xã hội: Đả kích những thần tượng giả tạo và những giá trị đạo đức cứng nhắc của xã hội phong kiến đương thời.

Mỗi con người sinh ra đều mang một sứ mệnh riêng. Chúng ta được lựa chọn mục tiêu, lựa chọn lí tưởng sống, lựa chọn cách rèn luyện trí tuệ, nhân phẩm cho bản thân mình. Nhưng hơn tất cả, chúng ta cần phải rèn luyện cho mình một tinh thần trách nhiệm và nhận thức đúng đắn, tránh xa thói vô trách nhiệm.

Trước hết, chúng ta cần hiểu thế nào là tinh thần trách nhiệm và thói vô trách nhiệm. Tinh thần trách nhiệm chính là ý thức, hành vi luôn làm tốt và trọn vẹn công việc, nhiệm vụ được giao, có lý tưởng, mục đích sống, cố gắng vươn lên trong cuộc sống. Còn thói vô trách nhiệm trái ngược trách nhiệm, đó là việc không có ý thức hoàn thành đúng công việc được giao cũng như vươn lên trên mà buông bỏ, phó mặc cho hoàn cảnh, chỉ chạy theo sở thích cá nhân của mình.

Dấu hiệu để nhận biết người có tinh thần trách nhiệm và người vô trách nhiệm cũng hoàn toàn khác nhau. Người có trách nhiệm là người luôn hoàn thành đúng hạn và làm tốt công việc được giao; không phải để người khác đốc thúc, nhắc nhở mình; biết nhìn vào thực tế, biết chấp nhận những lỗi lầm của bản thân và có ý thức sửa chữa, khắc phục những lỗi lầm đó. Ngược lại, người vô trách nhiệm thường không quan tâm, mặc kệ những công việc mà bản thân mình được giao, không hoàn thành đúng hạn công việc hoặc chất lượng công việc không được tốt; không dám nhìn nhận thực tế vào những lỗi lầm của mình.

Sống với tinh thần trách nhiệm giúp con người ta trưởng thành hơn, biết sắp xếp công việc hợp lí, biết vươn lên trong cuộc sống; được người khác tín nhiệm, tin tưởng từ đó con đường đi đến thành công trở nên dễ dàng hơn. Còn thói vô trách nhiệm mang đến cho người ta nhiều tác hại, nó làm ta mất lòng tin ở mọi người, khó thành công trong công việc và cuộc sống…

Chúng ta không được lựa chọn nơi mình sinh ra nhưng được tự do lựa chọn cuộc sống và định hướng cá nhân. Chính vì vậy, chúng ta hãy trở thành một công dân tốt để người khác học tập theo. Khi chúng ta rèn luyện được đức tính “trách nhiệm”, ta sẽ rèn luyện được nhiều đức tính quý báu khác.

Là một chủ nhân tương lai của đất nước, chúng ta cần có trách nhiệm với chính bản thân mình cũng như có trách nhiệm xây dựng một đất nước giàu đẹp văn minh. Để làm được điều đó, ngay từ bây giờ, mỗi chúng ta hãy cố gắn

Trần Tế Xương (1870–1907) là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX, nổi tiếng với giọng trào phúng, châm biếm sâu sắc nhưng vẫn giàu giá trị nhân văn. Ông quan sát tinh tế những hiện tượng xã hội, đặc biệt là khoa cử và học vấn, để qua đó gửi gắm bài học về tri thức và nhân cách. Bài thơ Giễu người thi đỗ phơi bày hiện tượng những người đỗ đạt nhưng hạn chế về năng lực thực chất, nhấn mạnh sự hão huyền và tự phụ đi kèm với danh hiệu hão.

Bài thơ mở đầu bằng hình ảnh sinh động: “Một đàn thằng hỏng đứng mà trông”. Câu thơ vừa ngắn gọn, súc tích, vừa đầy giễu cợt, phơi bày sự yếu kém của những người thi đỗ. Tác giả dùng từ “thằng hỏng” để nhấn mạnh trình độ hạn chế, khiến người đọc nhận thấy sự vô lý trong việc phong danh hiệu cho những người này. Tiếp đó, hình ảnh “Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt / Dưới sân ông cử… ngỏng đầu rồng” được xây dựng bằng cách so sánh hài hước và cường điệu. Những tiến sĩ giấy tưởng rằng quyền lực, địa vị của mình là thực chất, nhưng trong mắt tác giả, tất cả chỉ là hình thức, hão huyền và lố bịch. Ngôn ngữ hài hước, hình ảnh cụ thể, sinh động tạo nên giọng điệu trào phúng, khiến người đọc vừa bật cười vừa nhận ra thông điệp sâu sắc.

Về nghệ thuật, bài thơ được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt, ngắn gọn nhưng cô đúc, nhịp điệu cân đối, tạo ấn tượng mạnh. Thủ pháp trào phúng được sử dụng tinh tế: cường điệu, phóng đại làm nổi bật sự tự phụ; hình ảnh ẩn dụ hài hước nhấn mạnh hư danh; giọng điệu mỉa mai kết hợp với hình ảnh sinh động khiến bài thơ vừa gây cười vừa gợi suy ngẫm. Đây là minh chứng cho khả năng quan sát tinh tế và sự nhạy bén trong phê phán xã hội của Trần Tế Xương.

Về nội dung tư tưởng, bài thơ phê phán thói chạy theo danh lợi hão, coi trọng hình thức hơn năng lực thực chất. Trần Tế Xương nhấn mạnh giá trị của tri thức thực chất: học để rèn luyện năng lực, áp dụng vào thực tế, chứ không chỉ để nhận danh hiệu hão. Việc học tập nghiêm túc, trau dồi kiến thức thực tế giúp mỗi người phát triển toàn diện, đồng thời tránh tự phụ, hão huyền. Hình ảnh hài hước, châm biếm không chỉ để gây cười mà còn cảnh tỉnh người đọc về việc đánh giá đúng năng lực bản thân và vai trò thực chất của tri thức.

Thông điệp của bài thơ vẫn còn nguyên giá trị đối với thế hệ ngày nay. Trong xã hội hiện đại, việc học chỉ để lấy bằng cấp hay danh hiệu mà thiếu năng lực thực chất vẫn tồn tại ở một số nơi. Bài thơ nhắc nhở mỗi người cần khiêm tốn, học tập nghiêm túc, rèn luyện năng lực thực sự và đánh giá đúng giá trị của bản thân. Trần Tế Xương bằng ngòi bút trào phúng đã tạo ra một tác phẩm vừa gây cười vừa sâu sắc, giúp người đọc suy ngẫm về giá trị thực sự của học vấn, năng lực và nhân cách.

Để thể hiện lòng yêu nước, em đã luôn chăm chỉ học tập, rèn luyện đạo đức để trở thành công dân có ích, đồng thời tích cực bảo vệ môi trường qua việc không vứt rác bừa bãi và giữ gìn cảnh quan sạch đẹp. Sắp tới, em sẽ tích cực tham gia các hoạt động tình nguyện, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, và học hỏi tri thức mới để xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh hơn, góp phần xứng đáng vào sự phát triển chung của quê hương, đất nước mình. 

Bài thơ Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu gửi gắm thông điệp sâu sắc về lòng yêu nước nồng nàn, sự căm thù giặc sâu sắc và nỗi xót thương vô hạn đối với nhân dân Việt Nam đang lầm than dưới ách xâm lược của thực dân Pháp; đồng thời là lời tố cáo tội ác của kẻ thù và kêu gọi trách nhiệm của triều đình phong kiến trước cảnh nước mất nhà tan, thể hiện qua bức tranh chạy giặc bi thảm và lời than vãn đầy ai oá

Bài thơ Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu gửi gắm thông điệp sâu sắc về lòng yêu nước nồng nàn, sự căm thù giặc sâu sắc và nỗi xót thương vô hạn đối với nhân dân Việt Nam đang lầm than dưới ách xâm lược của thực dân Pháp; đồng thời là lời tố cáo tội ác của kẻ thù và kêu gọi trách nhiệm của triều đình phong kiến trước cảnh nước mất nhà tan, thể hiện qua bức tranh chạy giặc bi thảm và lời than vãn đầy ai oá

Cùng là thơ trào phúng, nếu Trần Tú Xương góc cạnh, sâu cay bao nhiêu thì Nguyễn Khuyến lại nhẹ nhàng, kín đáo bấy nhiêu. Giáo sư Dương Quảng Hàm từng nhận xét chất trào phúng trong thơ Nguyễn Khuyến chính là lời của bậc đại nhân quân tử dùng để khuyên răn người đời. Đặc điểm đó của bút pháp trào phúng trong thơ Nguyễn Khuyến được khắc họa rõ nét qua tác phẩm thơ Tiến sĩ giấy.

Nhà thơ Nguyễn Khuyến đã sáng tác Tiến sĩ giấy theo thể thơ thất ngôn bát cú - một thể thơ đường luật vô cùng quen thuộc với các cây bút thời trung đại. Bài thơ đi theo cấu tứ đề thực luận kết rất chỉn chu, mẫu mực, với các thi pháp văn học trung đại tinh tế đã làm bật lên nét sang trọng trong thơ ông.

Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai,

Cũng gọi ông nghè có kém ai.”

Ngay hai câu đề, điệp từ “cũng” đã đươcn xuất hiện liên tiếp bốn lần. Từ “cũng” gợi lên cảm giác khá khiên cưỡng với sự vật xuất hiện phía sau nó. Khiến những cờ, biển, cân đai trở nên kém phần oai nghiêm, trang trọng. Theo đó, tác giả liệt lê ra các phục sức xuất hiện trên người của một vị tiến sĩ - người có chức quan đỗ cao nhất trong một kì thi lớn, đứng đầu bảng vàng. Đó là những món đồ sang quý, biểu tượng cho người có vị thế, được nhiều người kính trọng. Biết bao sĩ tử tham gia vào con đường thi cử đều ao ước được mặc lên người những phujmc sức đó. Tuy nhiên, khi các phục sức cao quý ấy được liệt kê bằng điệp từ cũng mang vẻ khoe khoang, thì bỗng nhiên lại mang đậm tính mỉa mai. Đến cả danh xưng “ông nghè” oai phong cũng không nằm ngoài số phận đấy. Đặc biệt khi nó được đi cùng với cụm từ “có kém ai”. Cụm từ ấy khiến cho chức vị ông nghè trở nên giải dối, học đòi, không có vẻ trang nhã của người có học thức. Nhưng vì sao tác giả lại mập mờ về thái độ với vị tiến sĩ này như vậy? Điều đó được nêu rõ ở hai câu thực tiếp theo.

“Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,

Nét son điểm rõ mặt văn khôi.”

Ở đây, nhà thơ đã khẳng định sự tinh tế của bản thân khi sử dụng nghệ thuật đối một cách nhuần nhuyễn, tự nhiên. Mảnh giấy đối với thân giáp bảng, nét son đối với mặt văn khôi. Thông thường, phép đối trong thơ trung đại rất tôn sùng sự đăng đối, ngang hàng với nhau, nhưng trong hai câu thơ này, sự đăng đối có phần khiên cưỡng. Giáp bảng là bảng rồng công bố danh sách thi sinh đỗ bảng vàng. Thân giáp bảng là người đỗ đạt cao, được bao người trọng vọng, ấy thế mà lại đối với một mảnh giấy vụn. Khuôn mặt tuấn tú, uy nghiêm của một trạng nguyên thì lại đối với một nét bút mực chấm đỏ. Sự chênh lệch một trời một vực về tính chất, giá trị của cả hai vế lúc này được hiển thị rõ ràng. Bởi thật ra, vị tiến sĩ này chính là một vị tiến sĩ làm từ giấy - món đồ chơi phổ biến trong dân gian. Sự đăng đối một cách kì lạ giữa các vế thơ đã được làm sáng tỏ. Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở tầng nghĩa đó, thì còn đâu là thơ Nguyễn Khuyến. Từ đầu đến cuối, chẳng có câu chữ nào nói rằng nhà thơ đang tả một món đồ chơi cả. Thật thật, giả giả chẳng biết đâu mà phán đoán. Đó cũng chính là ngụ ý của nhà thơ. Một món đồ chơi tiến sĩ chỉ cần mẩu giấy vụn, chấm một nét mực là đã có thể tạo thành. Quá đơn giản và dễ dàng. Cách để tạo ra một tiến sĩ thật cũng thế. Chỉ cần quan chấm thi ậm ừ một nét bút, thế là đã có một tiến sĩ ra lò. Thật ở cái chức danh, cái áo quan, cái mão đội trên đầu, nhưng giả ở cái nội tình bên trong, ở cái trí tuệ ở trong người. Hình dáng vị tiến sĩ thật và tiến sĩ giấy lồng ghép vào nhau, tuy hai mà một, tuy thật mà giả. Sự trào phúng thâm thúy qua câu từ đó, chính là thủ pháp đặc trưng của nhà thơ Nguyễn Khuyến.

“Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ,

Cái giá khoa danh ấy mới hời.”

Đến với hai câu thơ luận, lần này, từ việc miêu tả khách quan chung chung để dẫn dắt người đọc. Thì lần này, nhà thơ đã chuyển sang nhận xét chủ quan. Vẫn là hình ảnh tấm xiêm áo, thân giáp bảng ở câu thực, lần này đã được nhận xét chi tiết thêm. Các tính từ “nhẹ”, “hời” khiến bộ phục sức của tiến sĩ càng thêm kém trang trọng. Xiêm áo đó nhẹ bởi vì nó là mẩu giấy vụn, nhưng cũng có lẽ bởi bên trọng nó rỗng tuếch, chẳng có chút phẩm đức, trí tuệ nào cả. Chiếc áo trạng nguyên quá rộng với một kẻ ngu dốt. Còn danh trạng nguyên thì lại quá hời. Từ hời được dùng cho một phi vụ buôn bán mà chỉ phải bỏ ra một chút vốn, đã đem lại được nhiều lợi ích. Ắt hẳn cái danh trạng nguyên và những thứ có được sau khi đỗ đạt còn nhiều hơn số tiền bỏ ra mua chức trạng nguyên. Phía sau sự chế giễu vẻ rỗng tuếch, hữu danh vô thực của ông tiến sĩ giấy kia, là sự giễu nhại những vị tiến sĩ đầu óc trống trơn, bụng chẳng được mấy trang kinh thư, chỉ dựa vào ít tiền của để vinh danh bảng vàng. Nhưng cùng với đó, là sự ngậm ngùi, chua xót cho chính thân phận mình. Bởi nhà thơ Nguyễn Khuyến cũng là một tiến sĩ. Ông cay đắng thay cho phận mình, bởi giờ đây cái danh tiến sĩ đâu còn danh giá như xưa. Trong mắt thế nhân, nó chỉ là một món đồ chơi tầm thường có thể mua được bằng tiền mà thôi.

Nỗi niềm ấy, khiến nhà thơ lại càng thêm gay gắt, càng thêm chán ghét những tiến sĩ giấy ngoài kia. Lấy hai câu thơ luận làm đòn bẩy, Nguyễn Khuyến đi đến câu thơ kết mang nhiều suy tư và ngụ ý:

“Ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh choẹ,

Tưởng rằng đồ thật hoá đồ chơi.”

“Ghế chéo, lọng xanh” là vị trí ngồi của một vị tiến sĩ - vị trí oai nghiêm bao học trò ngưỡng mộ. Nhưng dáng ngồi bảnh chọe của vị tiến sĩ rởm đã phá tan hoàn toàn bầu không khí đó. Tiến sĩ vốn là đại diện cho những người đứng đầu xã hội về học vấn, ấy thế mà lại bị miêu tả với dáng vẻ thô thiển, kệch cỡm của những kẻ mãng phu. Sự trào phúng ấy đã giáng một đòn chí mạng vào những kẻ học đòi kia. Vốn đã chẳng có trí tuệ, chẳng có học thức, nay đến vẻ ngoài cũng kệch cỡm, không bắt chước nổi cho ra dáng một vị tiến sĩ. Thế thì những kẻ đó có gì nhỉ? Chẳng có gì cả. Ở câu thơ cuối, nhà thơ sử dụng động từ “tưởng” để vạch trần sự giả dối của những tiến sĩ trên kia. Tưởng là đồ thật, hóa đồ chơi. Thì ra từ đầu bài thơ đến đây, tác giả vẫn còn ngờ ngợ về sự thực chất của các tiến sĩ. Nhưng giờ đây ông đã chắc chắn rằng, đó chỉ là đồ chơi mà thôi. Câu khẳng định ấy đã vạch trần tấm màn che cuối cùng, khiến các tiến sĩ rởm không còn chỗ ẩn náu nữa.

Mượn hình ảnh tiến sĩ giấy - một món đồ chơi dân gian, nhà thơ Nguyễn Khuyến dùng giọng điệu mỉa mai, trào phúng của mình để phê phán, vạch trần bộ mặt thật của các vị tiến sĩ đương thời. Đó là những kẻ bù nhìn, chỉ có vẻ ngoài kệch cỡm cố bắt chước, ra vẻ. Nhưng vì chẳng có nội hàm, cái đầu lại rỗng tuếch nên tự biến mình thành trò hề, thành món đồ chơi cho những kẻ cầm quyền. Những tiến sĩ đó là đại diện cho nền học vấn của nước nhà, đại diện cho cả một triều đình phong kiến. Sự giả tạo, rỗng tuếch của họ chính là đại biểu cho một triều đại mục rỗng ở bên trong. Đó cũng chính là một trong các lí do khiến Nguyễn Khuyến lựa chọn rời bỏ triều đình để ẩn cư.

Đồng ý với ý kiến cho rằng tiếng cười cũng có sức mạnh của một thứ vũ khí chống lại cái chưa hay, chưa đẹp.

Tiếng cười trong văn học trào phúng, đặc biệt là thơ trào phúng, không chỉ mang tính giải trí mà còn là công cụ sắc bén để phê phán, châm biếm những thói hư tật xấu, những hiện tượng tiêu cực trong xã hội.

Sức mạnh của nó nằm ở việc vạch trần bản chất của cái xấu, khiến chúng trở nên lố bịch, đáng cười, từ đó làm giảm đi sự nguy hại và ảnh hưởng của chúng.

Thông qua tiếng cười, người đọc/nghe được thức tỉnh về nhận thức, hướng tới những giá trị chân, thiện, mỹ, góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn.

Đồng ý với ý kiến cho rằng tiếng cười cũng có sức mạnh của một thứ vũ khí chống lại cái chưa hay, chưa đẹp.

Tiếng cười trong văn học trào phúng, đặc biệt là thơ trào phúng, không chỉ mang tính giải trí mà còn là công cụ sắc bén để phê phán, châm biếm những thói hư tật xấu, những hiện tượng tiêu cực trong xã hội.

Sức mạnh của nó nằm ở việc vạch trần bản chất của cái xấu, khiến chúng trở nên lố bịch, đáng cười, từ đó làm giảm đi sự nguy hại và ảnh hưởng của chúng.

Thông qua tiếng cười, người đọc/nghe được thức tỉnh về nhận thức, hướng tới những giá trị chân, thiện, mỹ, góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn.