Nguyễn Trần Nhật Linh
Giới thiệu về bản thân
Trong xã hội hiện đại, giới trẻ được xem là lực lượng năng động, sáng tạo và giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những bạn trẻ sống có lý tưởng, biết cố gắng vươn lên, vẫn còn tồn tại một bộ phận giới trẻ có lối sống vô trách nhiệm. Đây là vấn đề đáng lo ngại, cần được nhìn nhận và suy ngẫm một cách nghiêm túc.
Vô trách nhiệm là lối sống thể hiện ở thái độ thờ ơ, ỷ lại, thiếu tự giác, không làm tròn bổn phận của bản thân. Người sống vô trách nhiệm thường làm việc cẩu thả, không quan tâm đến hậu quả hành động của mình, dù việc đó có ảnh hưởng đến người khác. Khi mắc sai lầm, họ né tránh, không dám nhận lỗi, cũng không có ý thức sửa sai. Lối sống ấy dần trở thành thói quen xấu, làm mất đi giá trị của bản thân con người.
Lối sống vô trách nhiệm gây ra nhiều tác hại nghiêm trọng. Trước hết, đối với chính bản thân người trẻ, sự vô trách nhiệm khiến họ không nhận được sự tin tưởng và tôn trọng từ người khác. Một người thường xuyên trễ hẹn, không hoàn thành công việc được giao, đùn đẩy trách nhiệm sẽ khó có thể thành công trong học tập cũng như trong cuộc sống sau này. Về lâu dài, họ dễ trở nên thụ động, thiếu ý chí phấn đấu và đánh mất những cơ hội quý giá của tuổi trẻ. Không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân, lối sống vô trách nhiệm còn tác động tiêu cực đến những người xung quanh. Trong môi trường học tập hay làm việc, chỉ cần một vài cá nhân vô trách nhiệm cũng có thể làm chậm tiến độ chung, khiến tập thể trì trệ, kém phát triển. Nguy hiểm hơn, thói quen xấu này có thể lây lan, khiến những người khác cũng trở nên thờ ơ, thiếu ý thức.
Thực tế cho thấy, không ít bạn trẻ hiện nay còn sống buông thả, học tập đối phó, thiếu ý thức kỷ luật. Có học sinh thường xuyên không làm bài tập, đi học muộn, vi phạm nội quy nhưng không biết tự kiểm điểm bản thân. Có bạn trẻ tham gia giao thông thiếu ý thức, phóng nhanh, vượt ẩu, coi thường luật pháp, gây nguy hiểm cho chính mình và người khác. Những hành vi đó đều bắt nguồn từ lối sống vô trách nhiệm và sự thiếu suy nghĩ chín chắn.
Từ thực trạng trên, mỗi người cần rút ra cho mình bài học đúng đắn. Mỗi cá nhân phải ý thức rõ trách nhiệm của mình đối với bản thân, gia đình và xã hội. Sống có trách nhiệm là biết làm việc có kế hoạch, hoàn thành nhiệm vụ đúng thời gian, tuân thủ pháp luật và các quy định chung. Đối với bản thân em, em luôn cố gắng sắp xếp thời gian học tập hợp lý, hoàn thành bài tập đầy đủ, đúng hạn, tham gia các hoạt động tập thể với tinh thần tự giác và đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân.
Tóm lại, lối sống vô trách nhiệm của một bộ phận giới trẻ hiện nay là một vấn đề đáng báo động. Nhận thức đúng đắn và thay đổi hành vi là điều cần thiết để mỗi bạn trẻ hoàn thiện bản thân, góp phần xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ hơn.
Câu 1: Thể thơ thất ngôn bát cú đường luật.
Câu 2: Nhân vật trào phúng là nhà thơ Nguyễn Khuyến.
Câu 3: Từ "làng nhàng" có nghĩa là tầm thường không có gì nổi bật. Cảm xúc của tác giả tự nhận thức, tự giễu cợt,khiêm nhường nhưng đầy ý châm biếm.
Câu 4: -Biện pháp chơi chữ được dùng trong hai câu thơ
-Tác dụng:
+ Tăng sức gợi hình gợi cảm làm cho lời thơ hay hơn sinh động hơn. Sự kết hợp này nhấn mạnh tiếng cười tự trào đầy xót xa,vừa giễu cợt bản thân ,vừa thể hiện nỗi niềm day dứt, bất lực của nhà thơ trước thời cuộc. Đồng thời phê phán thái độ của một số quan lại cũng chọn cách thoái lui.
Câu 5:
Hai câu thơ cuối thể hiện sâu sắc tâm trạng và thái độ của Nguyễn Khuyến:
"Nghĩ mình lại ngán cho mình nhỉ,
Mà cũng bia xanh, cũng bảng vàng."
"Bia xanh, bảng vàng" là hình ảnh hoán dụ chỉ danh vị khoa bảng, học vị tiến sĩ cao quý mà mọi nho sĩ thời xưa đều khao khát đạt được. Bản thân Nguyễn Khuyến là người đỗ đầu cả ba kỳ thi (Giải nguyên, Hội nguyên, Đình nguyên), một vinh dự hiếm có trong lịch sử khoa cử Việt Nam. " Nghĩ lại cũng thấy ngán cho mình nhỉ", "ngán" ở đây không đơn thuần là chán ghét, mà là sự chán chường, thất vọng, thậm chí là hổ thẹn tột cùng với chính bản thân.Tác giả tự thấy mình mang tiếng là vị danh sĩ một thời, có học vị cao, nhưng lại bất lực, không thể làm gì để giúp dân, giúp nước thoát khỏi cảnh lầm than, giặc giã. Ông chọn con đường về quê ở ẩn, tránh xa thế sự, và tự cảm thấy mình không xứng đáng với những danh hiệu cao quý đó. Thông qua hai câu thơ này, Nguyễn Khuyến bộc lộ tâm trạng bi kịch của một nhà nho tài năng nhưng không gặp thời, không thể thực hiện lý tưởng "tề gia trị quốc bình thiên hạ". Tiếng cười tự trào (tự giễu, tự cười mình) ở đây thấm đẫm sự xót xa, cay đắng, không chỉ nhằm vào cá nhân ông mà còn là lời phê phán thâm thúy, châm biếm sâu sắc cả một tầng lớp sĩ phu phong kiến bất lực, bạc nhược trước vận mệnh đất nước lúc bấy giờ
Câu 6:
Từ nội dung bài thơ "Tự trào" của Nguyễn Khuyến, chúng ta thấy sự day dứt, hổ thẹn của thế hệ đi trước khi bất lực trước vận mệnh đất nước. Liên hệ với điều đó, giới trẻ ngày nay, sống trong thời bình và hội nhập, có nhiều cơ hội để bảo vệ và xây dựng quê hương bằng những hành động thiết thực sau: Học tập và rèn luyện: Đây là nền tảng quan trọng nhất. Việc không ngừng học hỏi, trau dồi kiến thức, kỹ năng chuyên môn giúp thế hệ trẻ nâng cao giá trị bản thân và đóng góp hiệu quả vào sự phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật của đất nước: Giữ gìn bản sắc văn hóa, kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp, lòng yêu nước, tinh thần dân tộc là cách để bảo vệ "nước" về mặt văn hóa, giữ vững độc lập tư tưởng. Tham gia các hoạt dộng xã hội: Tích cực tham gia các phong trào tình nguyện, bảo vệ môi trường, giúp đỡ cộng đồng, xây dựng xã hội văn minh, công bằng, tiến bộ. Bảo vệ chủ quyền, nâng cao ý thức, nhận thức về chủ quyền quốc gia, đấu tranh phản bác những âm mưu, hoạt động gây phương hại đến lợi ích dân tộc trên không gian mạng và trong đời sống. Đóng góp tài năng, sức lao động:Cống hiến tài năng, sức lao động, tâm huyết của mình vào mọi hoạt động sáng tạo, xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước một cách tích cực. Hiểu đúng thời đại: Nắm bắt xu thế thời đại, ứng dụng công nghệ, hội nhập quốc tế để phát huy tài năng, đưa tiếng nói và hình ảnh Việt Nam ra thế giới.
Trần Tế Xương là nhà thơ trào phúng tiêu biểu của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX. Thơ ông thường dùng tiếng cười sắc sảo để phê phán những thói hư tật xấu của xã hội nửa thực dân, nửa phong kiến. Bài thơ “Giễu ông đồ Bốn ở phố Hàng Sắt” là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách ấy, thể hiện rõ thái độ mỉa mai, châm biếm của tác giả đối với những kẻ học thức giả, thích khoe mẽ danh xưng.
Ngay từ hai câu đầu, Trần Tế Xương đã đặt ra vấn đề một cách trực diện bằng giọng hỏi đầy mỉa mai:
“Hỏi thăm quê quán ở nơi mô?
Không học mà sao cũng gọi đồ?”
Danh xưng “ông đồ” vốn dùng để chỉ những người có học chữ Nho, có tri thức và địa vị nhất định trong xã hội xưa. Thế nhưng, nhân vật trong bài thơ lại “không học” mà vẫn được gọi là “đồ”, tạo nên sự phi lí đáng cười. Câu hỏi của nhà thơ không nhằm tìm câu trả lời mà để bộc lộ thái độ nghi ngờ, châm chọc trước sự lạm dụng danh xưng trong xã hội đương thời.
Đến hai câu tiếp theo, giọng thơ càng trở nên chua cay hơn:
“Ý hẳn người yêu mà gọi thế,
Hay là mẹ đẻ đặt tên cho!”
Tác giả đưa ra những giả thiết hài hước, cố tình hạ thấp danh xưng “ông đồ” xuống mức tầm thường. Cách nói đùa cợt này vừa gây cười vừa cho thấy sự giả tạo, rỗng tuếch của cái danh mà nhân vật đang mang.
Hai câu thực tiếp tục khắc họa chân dung “ông đồ Bốn” từ dáng vẻ đến lời ăn tiếng nói:
“Áo quần đĩnh đạc trông ra cậu,
Ăn nói nhề nhàng nhác giọng Ngô.”
Bề ngoài có vẻ lịch sự, ra dáng trí thức nhưng thực chất chỉ là sự bắt chước vụng về. Cách ăn nói “nhề nhàng” và “nhác giọng Ngô” gợi lên hình ảnh một con người quê kệch, lố lăng, cố khoác lên mình cái vỏ trí thức để che giấu sự thiếu hiểu biết bên trong.
Hai câu cuối là đòn kết đầy sắc bén của tiếng cười trào phúng:
“Hỏi mãi mới ra thằng bán sắt,
Mũi nó gồ gồ, trán nó giô.”
Sự thật được phơi bày: “ông đồ” hóa ra chỉ là một người bán sắt ở phố Hàng Sắt. Những nét tả ngoại hình thô kệch càng làm nổi bật sự đối lập giữa cái danh hão và thực chất con người. Tiếng cười ở đây vừa sảng khoái vừa mang ý nghĩa phê phán sâu sắc.
Qua bài thơ, Trần Tế Xương đã châm biếm thói sính danh, học thức giả và sự đảo lộn giá trị trong xã hội đương thời. Tác phẩm không chỉ mang giá trị giải trí mà còn thể hiện cái nhìn sắc sảo, tinh thần phê phán mạnh mẽ của nhà thơ trước những hiện tượng tiêu cực của xã hội cũ.
Là một học sinh, em thể hiện tinh thần yêu nước trước hết bằng việc chăm chỉ học tập, rèn luyện đạo đức để trở thành người có ích cho xã hội. Em luôn tôn trọng và gìn giữ tiếng Việt, lịch sử, truyền thống văn hóa của dân tộc. Em tích cực tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, bảo vệ môi trường và sinh hoạt tập thể do nhà trường tổ chức. Trong tương lai, em sẽ tiếp tục sống có trách nhiệm, tuân thủ pháp luật và sẵn sàng cống hiến sức mình cho sự phát triển của đất nước. Em tin rằng yêu nước không chỉ là lời nói mà phải được thể hiện bằng những việc làm cụ thể mỗi ngày.
Bài thơ Chạy giặc gửi gắm những thông điệp:
-Bài thơ tái hiện cảnh quê hương tan tác khi giặc Tây kéo đến: chợ tan, nhà bỏ, trẻ em chạy loạn, chim chóc mất tổ… Qua đó, tác giả lên án chiến tranh xâm lược đã cướp đi cuộc sống yên bình của nhân dân.
-Bày tỏ niềm xót xa sâu sắc đối với nhân dân trước cảnh "dân đen" lâm vào cảnh khốn cùng, không nơi nương tựa.
-Câu hỏi tu từ ở hai câu cuối là lời chất vấn gay gắt: Vì sao những người có trách nhiệm “dẹp loạn” lại vắng bóng, để dân phải gánh chịu tai họa? Qua đó, tác giả thể hiện thái độ phê phán, lên án sự bất lực, vô trách nhiệm của triều đình phong kiến.
câu 1:
Bài thơ thể hiện thái độ khinh thường của tác giả đối với một kẻ thù xâm lược, dù khi sống được phong tước Thái thú nhưng khi chết chỉ là một vị thần "cheo leo" trong ngôi đền nhỏ, thể hiện sự thất bại và nhục nhã của y trước lịch sử và nhân dân Việt Nam. Thông qua hình ảnh ngôi đền và tấm bảng, Hồ Xuân Hương bộc lộ ý thức về thân phận và tài năng của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, với câu kết đầy thách thức: "Ví đây đổi phận làm trai được / Thì sự anh hùng há bấy nhiêu!". Bài thơ là một ví dụ điển hình cho phong cách thơ trào phúng, đả kích sâu cay của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.
Câu 2:
Thế hệ trẻ chính là mùa xuân, là mặt trời ban trưa của tổ quốc. Với sức trẻ, ý chí, khát vọng, hoài bão nồng cháy và vốn tri thức học được ở nhà trường, thế hệ trẻ luôn là lực lượng nòng cốt giúp xây dựng, phát triển và bảo vệ tổ quốc. Hiện nay, đất nước ta đang hòa vào làn sóng thời đại 4.0 với toàn thế giới. Để làm được điều đó, rất cần một lực lượng lao động được đào tạo bài bản, kĩ lưỡng về khoa học kĩ thuật, thông thạo ngoại ngữ, có nền tảng kiến thức tốt và giỏi về các thiết bị điện tử, công nghệ. Lực lượng đó không ai khác chính là các thanh thiếu niên - thế hệ trẻ của đất nước ta - những bạn trẻ thuộc genZ, genY. Khác với thế hệ trước, các bạn đã lớn lên khi đất nước trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ, giàu mạnh và cởi mở hơn, đầy đủ hơn so với thế hệ trước. Đó là nhờ công lao của các thế hệ cha ông đã chiến đấu, lao động cật lực để làm nên. Bởi vậy, các bạn có nghĩa vụ và trách nhiệm kế thừa những điều đó, tiếp tục cống hiến cho tổ quốc, đưa đất nước ta sánh vai cùng các cường quốc năm châu. Mỗi người trẻ với khả năng, sở trường, mong muốn của mình sẽ có những cách thực hiện trách nhiệm đó khác nhau. Người chọn khoác áo lính bảo vệ độc lập tổ quốc, người chọn trở thành kĩ sư, công nhân xây dựng nền cơ sở hạ tầng, người chọn làm giáo viên ươm mầm tương lai đất nước, người lại chọn trở thành nông dân phát triển nông nghiệp nước nhà. Những bạn trẻ genY như em, cũng có thể tham gia vào công cuộc ấy, bằng cách học tập và rèn luyện chăm chỉ. Sử dụng các mạng xã hội để lan truyền các hình ảnh, thông tin hay về truyền thống văn hóa, địa danh lịch sử, danh lam thắng cảnh của đất nước ta đến bạn bè năm châu. Hay bài trừ, đẩy lùi các thông tin xuyên tạc về lịch sử đất nước, xúi giục mâu thuẫn giữa các vùng miền. Đó là nghĩa vụ và là trách nhiệm cao cả của thế hệ trẻ hôm nay với đất nước.
Câu 1: Bài thơ thuộc thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
Câu 2:
– Từ tượng hình được sử dụng trong bài thơ: "cheo leo".
– Trợ từ: "kìa".
Câu 3:
– Những chi tiết miêu tả hành động, thái độ của nữ sĩ Xuân Hương khi đi qua đền Sầm Nghi Đống trong hai câu thơ đầu là "ghé mắt trông ngang", "kìa".
– Nhận xét:
+ Ta cảm nhận được đó là cái nhìn ngang, nhìn bằng nửa con mắt, khinh rẻ, coi thường của nhà thơ với kẻ xâm lược bại trận. Đây là cái nhìn châm biếm sâu cay, đầy chế giễu. Từ "kìa" cho thấy sự coi thường, mỉa mai của nữ sĩ.
+ Từ đó, tác giả còn thể hiện niềm tự hào dân tộc vì đã đánh bại kẻ thù xâm lược.
Câu 4:
– Trong hai câu thơ đã cho, tác giả đã sử dụng biện pháp nhân hoá "đền Thái Thú đứng cheo leo".
– Tác dụng:
+ Nhân hoá khiến cho hình ảnh đền Thái Thú hiện lên sinh động, có sự sống, mang đặc điểm của con người.
+ Gợi hình ảnh ngôi đền ở thế chông chênh, không vững chãi, không còn mang sự thiêng liêng vốn có của một ngôi đền.
+ Thông qua hình ảnh đó, tác giả đã thể hiện thái độ coi thường, khinh bỉ đối với kẻ thù bại trận Sầm Nghi Đống bởi dân tộc ta.
+ Từ đó, câu thơ càng tô đậm sắc thái, giọng điệu trào phúng sâu cay.
Câu 5:
Thông điệp được gửi gắm qua bài thơ: Tác giả thể hiện sự mỉa mai, khinh bỉ sâu cay với thất bại nhục nhã của kẻ thù xâm lược; vạch trần vẻ uy nghiêm giả tạo của đền thờ để khẳng định niềm tự hào dân tộc. Đồng thời là lời thách thức táo bạo đối với quan niệm "trọng nam khinh nữ" của xã hội phong kiến, qua đó khẳng định tài năng, chí khí và khát vọng làm nên sự nghiệp phi thường của người phụ nữ Việt Nam. Qua đó thấy, bài thơ gửi gắm tinh thần dân tộc mạnh mẽ, khát vọng bình đẳng giới và ý chí giải phóng cá tính của người phụ nữ.
Em đồng ý với ý kiến cho rằng tiếng cười có sức mạnh như một thứ vũ khí chống lại cái chưa hay, chưa đẹp. Tiếng cười chân thành có thể xoa dịu căng thẳng, hóa giải mâu thuẫn và làm con người trở nên gần gũi, bao dung hơn. Khi con người biết mỉm cười, sự nóng giận, ích kỉ hay buồn bực sẽ dần bị đẩy lùi. Tiếng cười còn lan tỏa năng lượng tích cực, giúp mỗi người nhìn cuộc sống lạc quan hơn. Vì vậy, biết cười đúng lúc, đúng cách chính là cách để làm cho cuộc sống tốt đẹp và nhân văn hơn.
Em đồng ý với ý kiến cho rằng tiếng cười có sức mạnh như một thứ vũ khí chống lại cái chưa hay, chưa đẹp. Tiếng cười chân thành có thể xoa dịu căng thẳng, hóa giải mâu thuẫn và làm con người trở nên gần gũi, bao dung hơn. Khi con người biết mỉm cười, sự nóng giận, ích kỉ hay buồn bực sẽ dần bị đẩy lùi. Tiếng cười còn lan tỏa năng lượng tích cực, giúp mỗi người nhìn cuộc sống lạc quan hơn. Vì vậy, biết cười đúng lúc, đúng cách chính là cách để làm cho cuộc sống tốt đẹp và nhân văn hơn.
Em đồng ý với ý kiến cho rằng tiếng cười có sức mạnh như một thứ vũ khí chống lại cái chưa hay, chưa đẹp. Tiếng cười chân thành có thể xoa dịu căng thẳng, hóa giải mâu thuẫn và làm con người trở nên gần gũi, bao dung hơn. Khi con người biết mỉm cười, sự nóng giận, ích kỉ hay buồn bực sẽ dần bị đẩy lùi. Tiếng cười còn lan tỏa năng lượng tích cực, giúp mỗi người nhìn cuộc sống lạc quan hơn. Vì vậy, biết cười đúng lúc, đúng cách chính là cách để làm cho cuộc sống tốt đẹp và nhân văn hơn.