Nguyễn Phương Linh
Giới thiệu về bản thân
Bài thơ Chạy giặc gửi gắm thông điệp sâu sắc về lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc, lên án triều đình bạc nhược và thể hiện sự xót xa, thương cảm vô hạn trước cảnh nhân dân lầm than, đất nước tang thương do giặc Pháp xâm lược, đồng thời thức tỉnh tinh thần yêu nước, kêu gọi mọi người đứng lên chống giặc bảo vệ quê hương.
Nhật kí trong tù là tập nhật kí bằng thơ do Hồ Chí Minh viết ròng rã hơn một năm trời trong các nhà tù của chính quyền Tưởng Giới Thạch ở tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Trước hết, đây là tập thơ Bác viết cho chính mình, với mục đích: Ngày dài ngâm ngợi cho khuây, Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do mà Bác đã viết ở bài Khai quyển đầu cuốn sổ tay. Vì thế mà Bác ghi lại vắn tắt những điều tai nghe mắt thấy làm cho mình trăn trở, suy nghĩ và xúc cảm trong suốt mười bốn tháng bị giam cầm. Lai Tân là bài thơ thứ 97, Bác làm sau khi bị chuyển lao từ Thiên Giang đến Lai Tân. Đằng sau bức tranh tả thực có vẻ như rất khách quan là thái độ mỉa mai, châm biếm và phê phán của người tù Hồ Chí Minh đối với giai cấp thống trị ở Lai Tân nói riêng và chế độ xã hội Trung Quốc đương thời nói chung.
Phiên âm chữ Hán:
Ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc,
Giải người, cảnh trưởng kiếm ăn quanh.
Chong đèn, huyện trưởng làm công việc,
Trời đất Lai Tân vẫn thái bình
Bức tranh về hiện thực ở nhà tù Lai Tân và một phần xã hội Trung Quốc thu nhỏ đã được Hồ Chí Minh phản ánh sinh động trong bài thơ thất ngôn tứ tuyệt ngắn gọn mà ý nghĩa vô cùng hàm súc. Thành công của bài thơ là nghệ thuật châm biếm sắc sảo, độc đáo kết hợp với giọng điệu tự sự xen lẫn trữ tình và một kết cấu chặt chẽ, hợp lý.
Kết cấu bài thơ gồm hai phần nhưng khác với cấu trúc thông thường của tứ tuyệt Đường luật ở chỗ: phần thứ nhất gồm ba câu, còn phần thứ hai chỉ có một câu. Ba câu thơ đầu chỉ đơn thuần kể việc. Điểm nút chính là câu thứ tư bởi nó làm bật ra toàn bộ tư tưởng của bài thơ và làm bung vỡ tất cả cái ý châm biếm mỉa mai của người tù Hồ Chí Minh trước sự thối nát đến tận xương tủy của đám quan chức trong giai cấp thống trị.
Ở phần thứ nhất, Hồ Chí Minh đã phác họa thần tình chân dung của ba nhân vật “quan trọng”. Ban trưởng nhà lao công khai đánh bạc ngày này qua ngày khác, trong khi: Đánh bạc bên ngoài quan bắt tội. Cảnh trưởng thì trắng trợn ăn tiền đút lót của tù nhân, còn huyện trưởng thì đêm đêm chong đèn… hút thuốc phiện. Chính những kẻ đại diện cho chính quyền, cho luật pháp lại ngang nhiên vi phạm pháp luật. Điều trái ngược ấy đã vượt ra khỏi khung cảnh của một nhà tù, trở thành tính chất tiêu biểu cho cả xã hội Trung Hoa thời ấy: Quan trên trì trệ, vô trách nhiệm, hưởng lạc; cấp dưới thì chỉ lo xoay xở kiếm ăn quanh, mặc cho mọi tệ nạn cứ tự do hoành hành. Hơn thế, điều đáng mỉa mai là chính bọn quan lại tham lam, nhũng nhiễu ấy đã “tích cực” góp phần làm gia tăng tệ nạn xã hội. Ba nhân vật đang hoạt động như trong một màn hài kịch câm và cả ba đang thủ vai một cách hết sức “nghiêm túc” giữa khung cảnh thái bình (?!) dưới sự thống trị của họ Tưởng. Câu thơ miêu tả ngắn gọn mà lại hàm ý mỉa mai sâu sắc, tố cáo tình trạng lộn xộn, bát nháo của xã hội Trung Quốc lúc đó.
Phần thứ hai (câu cuối cùng) là nhận xét có tính chất trào lộng thâm thúy của người tù Hồ Chí Minh về tình trạng của bộ máy cai trị ở Lai Tân. Người đọc chờ đợi gì ở câu kết luận này ? Chắc hẳn phải là một sự lên án quyết liệt. Nhưng tác giả đã không làm như thế mà lại hạ một câu có vẻ rất khách quan: Trời đất Lai Tân vẫn thái bình. Đòn đả kích bất ngờ mà sâu cay lại nằm ngay trong câu nhận xét tưởng như là ca ngợi ấy.
Hiệu quả đả kích của câu thơ như thế nào? Hoá ra tình trạng thối nát của bọn quan lại ở Lai Tân không phải là chuyện bất thường mà là chuyện bình thường. Bình thường đến nỗi đã trở thành bản chất, thậm chí đã thành “nề nếp” được chấp nhận từ lâu.
Câu kết tưởng chừng có vẻ hết sức “vô tư” kia ai ngờ lại ẩn giấu một tiếng cười mỉa mai, châm biếm, lật tẩy bản chất xấu xa của bộ máy thống trị ở Lai Tân. Tính từ thái bình có thể xem là “thần tự”, “nhãn tự" của bài thơ. Nhà thơ Hoàng Trung Thông đã có một lời bình thật chính xác và thú vị: “Một chữ thái bình mà xâu táo lại bao nhiêu việc làm trên vốn là muôn thuở của giai cấp bóc lột thống trị Trung Quốc. Chỉ một chữ ấy mà xé toang tất cả sự thái bình dối trá nhưng thực sự là đại loạn bên trong”.
Bài thơ Lai Tân in đậm bút pháp nghệ thuật chấm phá truyền thống của thơ Đường. Lời thơ ngắn gọn, súc tích, không cầu kì câu chữ, nhưng chỉ với bốn câu thơ ngắn, người tù Hồ Chí Minh đã phơi bày bản chất của cả chế độ Tưởng Giới Thạch suy thoái, mục nát. Sức chiến đấu, chất “thép” của bài thơ nhẹ nhàng mà thâm thúy chính là ở đó.
Tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến cho rằng tiếng cười có sức mạnh của một thứ vũ khí chống lại cái chưa hay, chưa đẹp. Bởi lẽ, tiếng cười không chỉ là biểu hiện của niềm vui mà còn ẩn chứa khả năng phê phán tinh tế. Một nụ cười châm biếm có thể vạch trần sự kệch cỡm, phi lý của thói hư tật xấu, khiến chúng mất đi sức ảnh hưởng. Hơn nữa, tiếng cười còn giúp giải tỏa căng thẳng, mang lại cái nhìn lạc quan, từ đó tiếp thêm sức mạnh tinh thần để chúng ta tiếp tục đấu tranh cho những giá trị tốt đẹp. Sức mạnh của tiếng cười nằm ở chỗ nó có thể làm mềm những góc cứng, xua tan những tiêu cực một cách hiệu quả và nhân văn.Để làm rõ hơn suy nghĩ của bạn về ý kiến này, bạn có thể thử suy nghĩ xem trong cuộc sống hàng ngày, bạn đã từng chứng kiến hoặc trải nghiệm những tình huống nào mà tiếng cười đã phát huy tác dụng như vậy chưa.
Trong câu "Chợt một thiếu phụ bước vào với một đứa bé độ chín, mười tháng tuổi trên tay và một chú mèo con," từ "thiếu phụ" mang một số sắc thái nghĩa đáng chú ý.Trước hết, từ này gợi lên hình ảnh một người phụ nữ trẻ, có thể còn rất trẻ, nhưng đã mất đi người chồng. Sự mất mát này thường đi kèm với nỗi buồn, sự cô đơn, và gánh nặng trách nhiệm khi phải một mình nuôi con. Việc "thiếu phụ" xuất hiện cùng với đứa bé và con mèo cho thấy một cuộc sống gia đình nhỏ bé nhưng đầy ắp tình thương, đồng thời cũng làm nổi bật sự vất vả, tần tảo của người mẹ đơn thân.Ngoài ra, từ "chợt" trong câu gợi ý sự bất ngờ, có lẽ là một sự xuất hiện đột ngột hoặc không báo trước. Điều này có thể tạo ra một ấn tượng mạnh mẽ về nhân vật, khiến người đọc tò mò về hoàn cảnh và câu chuyện của người thiếu phụ này.
câu 1: bài thơ '' Cảnh ngày hè'' đc viết theo thể thơ Thất ngôn bát cú đường
câu 2
các hình ảnh thiên nhiên đc nhắc đến gồm :
-Hòe lục đùn đùn tán rợp giương
-Thạch lựu còn phun thức đỏ
-Hồng liên trì đã tiễn mùi hương
-cùng với âm thanh tiếng ve kêu râm ran trong nắng hè
câu 3
+ Biện pháp đảo ngữ ở các từ ''lao xao chợ cá '',''Dắng dỏi cầm ve ''
-làm nổi bật âm thanh rộn rã ,sinh động của cảnh vật
-gợi lên ko khí náo nhiệt của cuộc sống con ng giữa thiên nhiên mùa hè
-thể hiên niềm vui , tình yêu đời và hòa hợp giữa con ng với thiên nhiên
câu 4
+ Nguyễn trãi bộc lộ :
-tấm lòng yêu nc , thương dân sâu sắc
-mong ước cuộc sống no đủ ,thái bình cho nhân dân
-đồng thời thể hiện tâm hồn thanh cao , yêu đời ,luôn hướng về dân
câu 5
+chủ đề : bài thơ thể hiện niềm vui ,niềm say mê trước vẻ đẹp của thiên nhiên mùa hè và tấm lòng yêu nc , thương dân của Nguyễn Trãi
+căn cứ :dựa vào bức tranh thiên nhiên rực rơ ,âm thanh cuộc sống vui tươi và ước nguyên vì dân trg hai câu thơ cuối
câu 6
Từ niềm vui giản dị mà Nguyễn Trãi cảm nhận đc trg bài ''cảnh ngày hè '',em hiểu
ràng hạnh phúc ko ở đâu xa mà chính là bt yêu quý ,trân trọng những điều bình dị quanh mình .Chún ta cần sống hòa hợp với thiên nhiên , biết tận hưởng vẻ đẹp của cuộc sống mỗi ngày .Giữ cho tân hồn lạc quan ,trong sáng ,dù trong hoàn cảnh nào cũng nên hướng về điều tốt đẹp .Họ tập tấm gương Nguyên trãi ,em thấy cần sống chân hòa ,biêt yêu người và yêu cuốc sống hơn