Trần Thế Vinh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Trần Thế Vinh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1

Truyện ngắn “Muối của rừng” của Nguyễn Huy Thiệp đã xây dựng một quan niệm về cái đẹp đầy thách thức và có sức thuyết phục mạnh mẽ trong bối cảnh văn học đương đại. Tính thuyết phục ấy không đến từ cái đẹp mỹ miều mà từ sự trần trụi, nguyên sơ đến mức bản năng của hiện thực. Thay vì ca ngợi những giá trị thẩm mỹ thông thường, Thiệp lật mở cái đẹp ẩn sâu trong sự khắc nghiệt, trong sự đấu tranh sinh tồn mãnh liệt giữa con người và thiên nhiên. Cái đẹp trong tác phẩm là sự thật không khoan nhượng, là sự chân thành đến cùng cực của những nhân vật bị gạt ra ngoài lề xã hội. Khi người đọc đối diện với cái đẹp gai góc này, họ buộc phải đặt lại câu hỏi về những giá trị văn minh giả tạo bên ngoài. Chính sự dũng cảm trong cách nhìn nhận này đã tạo nên sức nặng và tính thuyết phục sâu sắc, khiến “Muối của rừng” không chỉ là một câu chuyện mà còn là một tuyên ngôn về cái đẹp đích thực, dù có phần tàn nhẫn.

Câu 2

Trong thời đại ngày nay, người ta có thể đánh giá phần nào về mức độ phát triển và trình độ văn hóa, văn minh của một quốc gia qua bộ mặt của các đô thị và nếp sống của người dân. Ở các quốc gia tiên tiến, vấn đề giữ gìn vệ sinh môi trường được quan tâm thường xuyên cho nên việc xả rác và nước thải bừa bãi hầu như không còn nữa. Người dân được giáo dục rất kĩ về ý thức bảo vệ môi trường sống xanh – sạch – đẹp. Điều đáng buồn là ở nước ta, hiện tượng khá phổ biến hiện nay là vứt rác ra những nơi công cộng, bất kể là đâu. Chỉ có thể gọi đích danh hiện tượng trên là lối sống thiếu văn hóa, văn minh.

Nguyên nhân của nó thì có rất nhiều. Thứ nhất là xuất phát từ lối sống lạc hậu, ích kỉ, chỉ biết đến quyền lợi cá nhân. Người ta nghĩ rất đơn giản rằng chỉ cần nhà mình sạch là được, còn ai bẩn mặc ai. Những nơi công cộng không phải là của mình, vậy thì việc gì phải mất công gìn giữ? Rác bẩn, đồ phế thải, xác súc vật chết… cứ ném toẹt ra đường là xong, đã có đội vệ sinh lo dọn dẹp. Cách nghĩ như thế là vô cùng thiển cận và nguy hại. Bởi thế mới dẫn đến tình trạng rác rưởi tràn ngập đường phố, công viên, sông hồ, kênh rạch…Nguyên nhân thứ hai là do thói quen xấu đã có từ lâu, khó mà sửa đổi. Người ta tiện tay vứt rác ở bất cứ chỗ nào. Ăn xong một que kem hay một chiếc kẹo, vứt que, vứt giấy xuống đất. Uống xong một lon nước ngọt hay một chai nước suối, vứt lon, vứt chai ngay tại chỗ vừa ngồi hoặc vừa đi qua. Thản nhiên, vô tư, chẳng có gì mà phải áy náy. Cho nên đến cả những nơi đẹp đẽ như danh lam thắng cảnh hoặc chốn tôn nghiêm như chùa chiền đền miếu… cũng bị biến thành nơi xả rác. Nguyên nhân thứ ba là những người hay vứt rác bừa bãi không nhận thức được rằng hành vi của mình là vô ý thức, phản văn hóa, văn minh, phá hoại môi trường sống. Việc làm sai trái của họ làm cho cảnh quan đô thị nhếch nhác và ô nhiễm nặng nề. Nếu có dịp đặt chân đến Thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến, chắc du khách cũng phải bức xúc trước cảnh Hồ Gươm, Hồ Tây đẹp như thế mà lềnh bềnh những rác. Hoặc những phố cổ thâm nghiêm dưới bóng mát của cây xanh, lẽ ra là nơi đi dạo lí tưởng thì vỉa hè cũng ngổn ngang rác rưởi. Bến tàu, bến xe, vườn hoa, công viên… không chỗ nào mà không có rác.

Còn ở thành phố lớn và đông dân nhất nước là thành phố Hồ Chí Minh thì vài năm trở lại đây tình hình có khá hơn. Đường thông, hè thoáng. Tệ nạn vứt rác ra đường cũng đã giảm bớt nhưng vẫn đáng lo ngại, nhất là những khu vực chợ búa hoặc khu dân cư lao động. Người ta xả rác thẳng xuống kênh rạch, sông ngòi, xuống đường cống thoát nước, đến nỗi mùa mưa, nước không thoát được, đường biến thành sông, nước bẩn tràn ngược vào nhà, mất vệ sinh vô cùng! Rồi dịch bệnh cũng từ đó mà ra. Chính quyền phải tốn hao bao công sức, tiền của để giải quyết vấn đề nhức nhối này. Nguyên nhân thứ tư là do việc giáo dục ý thức giữ gìn, bảo vệ môi trường sống chưa được quan tâm đúng mức, chưa được tổ chức thường xuyên. Do đó mà trình độ hiểu biết của người dân còn thấp. Thái độ tự giác tuân thủ nội quy nơi công cộng chưa đi vào nề nếp, cao hơn nữa là thành nếp sống văn minh. Bên cạnh đó, việc xử phạt những người vô ý thức cũng chưa nghiêm túc, cho nên chưa đủ sức răn đe.

Để có được một cuộc sống phát triển văn minh, hiện đại, chúng ta còn phải phấn đấu rất nhiều. Trước hết, cần xóa bỏ những tệ nạn tồn tại bấy lâu, trong đó có nạn vứt rác bừa bãi nơi công cộng. Hành vi ích kỉ, thiếu văn hóa ấy đáng phê phán và chấm dứt để cuộc sống của chúng ta ngày càng tốt đẹp hơn. Hãy sống theo tinh thần: Mình vì mọi người, mọi người vì mình. Có như vậy môi trường sống mới trở nên xanh-sạch-đẹp và Trái Đất mới thực sự là ngôi nhà chung đáng yêu của tất cả nhân loại.


Câu 1. Xác định luận đề của văn bản trên.

Luận đề là vấn đề trung tâm, ý kiến lớn mà văn bản muốn chứng minh, làm rõ.Luận đề: Vẻ đẹp trong tâm hồn con người (đại diện là ông Diểu) được thức tỉnh nhờ sự hướng thiện và ý thức được vẻ đẹp của thiên nhiên, và vẻ đẹp ấy cũng là vẻ đẹp của người kể chuyện.

Câu 2. Dẫn ra một câu văn thể hiện rõ tính khẳng định trong văn bản.

Tính khẳng định thể hiện ở những câu mang ý kiến chắc chắn, đúc kết.

Câu văn tiêu biểu: “Khép lại trang truyện ‘Muối của rừng’ (Nguyễn Huy Thiệp) người đọc không còn ám ảnh bởi cảnh đi săn của ông Diểu mà chỉ thấy quá trình thay đổi nhận thức và vẻ đẹp trong tâm hồn của nhân vật yêu thiên nhiên, hướng thiện, có niềm tin vào những điều tốt đẹp.” (Câu này đúc kết lại sự thay đổi trong cách nhìn nhận của độc giả sau khi đọc tác phẩm).

Câu 3. Nhận xét về mối quan hệ giữa nội dung và nhan đề của văn bản.

Nội dung của đoạn văn (và có thể là của cả truyện) tập trung vào sự thức tỉnh lương tri, vẻ đẹp nội tâm hướng thiện của nhân vật ông Diểu sau khi tiếp xúc với thiên nhiên và nỗi đau của con vật (con khỉ).

Nhan đề của truyện ngắn là “Muối của rừng”. Trong truyện, “muối” thường là thứ quý giá, là nhu cầu thiết yếu. Ở đây, có thể hiểu “muối” chính là giá trị tinh thần cao quý nhất mà ông Diểu tìm thấy: đó là lòng trắc ẩn, sự thấu hiểu, lòng hướng thiện, những điều “mặn mà” và cần thiết cho tâm hồn con người giữa cuộc sống khắc nghiệt.

Mối quan hệ: Nhan đề là một hình ảnh ẩn dụ, gợi mở. Nội dung đoạn văn chính là phần giải thích, làm rõ ý nghĩa sâu xa của hình ảnh ẩn dụ đó, khẳng định rằng cái quý giá nhất mà ông Diểu nhận được chính là vẻ đẹp hướng thiện trong tâm hồn.

Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng trong câu văn sau: Sự đa dạng của các loài muông thú: chim xanh, gà rừng, khỉ, sự hùng vĩ của núi non, hang động, sự tĩnh lặng của rừng xanh, sự quấn quít của ba con khỉ đối lập với tiếng súng săn dữ dội, tiếng kêu buồn thảm của khỉ đực, tiếng rú kinh hoàng của khỉ con đã đánh thức ông.

Biện pháp tu từ được sử dụng ở đây là Liệt kê kết hợp với Đối lập.

Tác dụng của Liệt kê:

Tái hiện không gian: Liệt kê các hình ảnh (chim xanh, gà rừng, khỉ, núi non, hang động, rừng xanh…) giúp vẽ nên một bức tranh thiên nhiên đa dạng, phong phú, sống động và hài hòa trước khi hành động săn bắn diễn ra.

Nhấn mạnh sự đối lập: Việc liệt kê các yếu tố tự nhiên, sinh động (sự quấn quýt) rồi đối lập chúng với các yếu tố bạo lực, hủy diệt (tiếng súng săn dữ dội, tiếng kêu buồn thảm…) làm nổi bật sự tàn nhẫn của hành động săn bắn và gây ấn tượng mạnh mẽ về sự giá trị thiêng liêng của sự sống mà ông Diểu đã chà đạp.

Câu 5. Phân tích, đánh giá mục đích, quan điểm và tình cảm của người viết qua văn bản.

Mục đích: Khẳng định và ca ngợi ý nghĩa nhân văn sâu sắc của truyện ngắn “Muối của rừng”, đặc biệt là quá trình chuyển biến tâm lý tích cực của nhân vật ông Diểu.

Quan điểm: Người viết có quan điểm trân trọng giá trị sống nhân văn, đề cao sự hướng thiện, và tin rằng con người cần ý thức được vẻ đẹp và sự sống của thiên nhiên. Quan điểm này thể hiện sự đồng tình với thông điệp của tác giả Nguyễn Huy Thiệp: vẻ đẹp đích thực nằm ở sự đồng cảm và lòng nhân ái.

Tình cảm: Thể hiện sự đồng cảm sâu sắc với nhân vật và sự ngưỡng mộ đối với quá trình “thay đổi nhận thức” mang tính nhân văn mà nhân vật đã trải qua. Ngôn ngữ sử dụng mang tính chất suy tư, chiêm nghiệm tích cực.