Đặng Thị Chúc
Giới thiệu về bản thân
Câu 1
Câu 1. Điểm nhìn của người kể chuyện trong văn bản là ngôi thứ ba, nhưng người kể đặt điểm nhìn trần thuật chủ yếu vào nhân vật Thứ, đi sâu miêu tả thế giới nội tâm, suy nghĩ, cảm xúc của nhân vật. Câu 2. Ước mơ của nhân vật Thứ khi còn ngồi trên ghế nhà trường là: Đỗ thành chung, tú tài Vào đại học Sang Tây du học Trở thành một vĩ nhân, đem lại những thay đổi lớn lao cho đất nước → Đó là những ước mơ cao đẹp, lớn lao, thể hiện khát vọng cống hiến của người trí thức trẻ. Câu 3. Biện pháp tu từ nổi bật trong đoạn trích là liệt kê kết hợp với ẩn dụ: Liệt kê: “mốc lên, gỉ đi, mòn, mục ra” Ẩn dụ: những hình ảnh đó gợi sự hư hỏng, hoen rỉ của một vật vô tri để chỉ sự tàn lụi, bào mòn của đời người Tác dụng: Nhấn mạnh bi kịch tinh thần của Thứ: một con người có tri thức nhưng đang bị cuộc sống nghèo túng, bế tắc làm cho thui chột Thể hiện nỗi đau đớn, tuyệt vọng, tự khinh miệt bản thân Làm nổi bật chủ đề “sống mòn” – sống tồn tại lay lắt, không ý nghĩa Câu 4. Cuộc sống và con người nhân vật Thứ trong đoạn trích: Cuộc sống: nghèo khổ, bế tắc, không lối thoát, đối diện nguy cơ thất nghiệp, phụ thuộc vợ, trở về quê sống kiếp vô danh Con người: Có hoài bão, lý tưởng nhưng thiếu bản lĩnh để vượt thoát hoàn cảnh Ý thức rõ bi kịch đời mình nhưng nhu nhược, sợ thay đổi Rơi vào trạng thái giằng xé nội tâm dữ dội giữa khát vọng và thực tại → Thứ là hình ảnh tiêu biểu cho người trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng, sống trong bi kịch “muốn sống có ý nghĩa nhưng không đủ sức để sống khác”. Câu 5. Một triết lí nhân sinh rút ra từ văn bản: > Sống là phải dám thay đổi, dám vượt qua nỗi sợ và thói quen, nếu không con người sẽ rơi vào cảnh “chết ngay trong lúc sống”. Suy nghĩ: Cuộc sống không chờ đợi ai Sợ hãi thay đổi