Đặng Phù Dung

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Đặng Phù Dung
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1.

​​​​​Bài thơ ở phần Đọc hiểu đã thể hiện sâu sắc nỗi đau và bi kịch tinh thần của Hàn Mặc Tử. Chỉ với mười hai câu thơ ngắn gọn, tác giả đã gửi gắm những cảm xúc chân thành và day dứt về số phận bất hạnh của mình. Trước hết, đó là nỗi buồn vì không thể đáp lại trọn vẹn tình cảm yêu thương của những người xung quanh khi bản thân đang mang bệnh tật. Đồng thời, nhà thơ còn đau đớn trước khát vọng yêu và được yêu tha thiết nhưng không thể có được hạnh phúc trọn vẹn. Sâu xa hơn là cảm giác cô đơn, lạc lõng giữa cuộc đời, khi nhà thơ ý thức rõ về số phận mong manh của mình. Qua những câu thơ giàu chất tượng trưng, ngôn ngữ tinh tế và giọng điệu tha thiết, trầm buồn, bài thơ đã bộc lộ một tâm hồn nhạy cảm, luôn khát khao sống, khát khao yêu thương dù phải đối diện với nhiều bất hạnh. Tác phẩm khiến người đọc xúc động và thêm trân trọng nghị lực sống mạnh mẽ của nhà thơ. ​ Câu 2.

​​​​Trong hành trình sống, không ai có thể tránh khỏi những khó khăn và thử thách. Có người dễ dàng gục ngã trước nghịch cảnh, nhưng cũng có người kiên cường vượt lên để chạm tới thành công. Điều làm nên sự khác biệt ấy chính là ý chí và nghị lực sống. Ý chí là khả năng kiên định với mục tiêu đã chọn, dám đối mặt với khó khăn và không bỏ cuộc giữa chừng. Nghị lực là sức mạnh tinh thần giúp con người bền bỉ vượt qua thử thách để thực hiện ước mơ của mình. Nếu tài năng là điều kiện để thành công thì ý chí, nghị lực chính là động lực giúp con người đi đến đích cuối cùng. Trong cuộc sống, ý chí và nghị lực được thể hiện ở tinh thần không ngừng cố gắng, dù gặp thất bại vẫn quyết tâm đứng dậy làm lại. Người có nghị lực luôn biết biến khó khăn thành động lực để hoàn thiện bản thân. Họ không sợ lời chê bai, không ngại gian khổ, luôn kiên trì theo đuổi mục tiêu. Chính nhờ vậy, họ thường đạt được những thành quả đáng quý. Ý chí, nghị lực có vai trò vô cùng quan trọng. Trước hết, nó giúp con người vượt qua nghịch cảnh và không đầu hàng số phận. Nick Vujicic sinh ra không có tay và chân, nhưng bằng nghị lực phi thường, anh đã trở thành diễn giả nổi tiếng, truyền cảm hứng sống cho hàng triệu người trên thế giới. Bên cạnh đó, ý chí còn là chìa khóa dẫn đến thành công. Thomas Edison đã trải qua hàng nghìn lần thất bại trước khi phát minh ra bóng đèn điện. Nếu không có sự kiên trì, ông khó có thể tạo nên thành tựu vĩ đại ấy. Không chỉ giúp cá nhân thành công, ý chí và nghị lực còn góp phần tạo nên những giá trị tốt đẹp cho xã hội. Những nhà khoa học, bác sĩ, vận động viên hay những con người bình dị vượt khó đều đang góp phần làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, trong thực tế vẫn có không ít người sống thiếu mục tiêu, dễ nản chí, chỉ gặp chút khó khăn đã muốn từ bỏ. Lối sống ấy khiến con người đánh mất cơ hội phát triển bản thân. Để rèn luyện ý chí và nghị lực, mỗi người cần xác định mục tiêu rõ ràng và bắt đầu từ những việc nhỏ nhất. Chúng ta phải học cách kỉ luật bản thân, không trì hoãn công việc, dũng cảm đối diện với thất bại và xem đó là bài học quý giá. Đồng thời, cần giữ tinh thần lạc quan và tin tưởng vào khả năng của chính mình. Là học sinh, em hiểu rằng muốn đạt kết quả tốt trong học tập và thực hiện ước mơ, bản thân phải kiên trì, chăm chỉ và không ngại khó khăn. Mỗi bài toán khó, mỗi lần điểm chưa cao đều là cơ hội để em rèn luyện bản lĩnh và trưởng thành hơn. Tóm lại, ý chí và nghị lực là sức mạnh giúp con người vượt qua nghịch cảnh, chinh phục ước mơ và sống có ý nghĩa. Khi có ý chí vững vàng, con người sẽ đủ bản lĩnh để biến những thử thách thành cơ hội và viết nên câu chuyện thành công của chính mình.

Câu 1 (0,5 điểm). Những phương thức biểu đạt trong bài thơ: Biểu cảm, miêu tả. Câu 2 (0,5 điểm). Đề tài: Nỗi buồn/ Sự đau khổ. Câu 3 (1,0 điểm). – M​​​ột số hình ảnh: mặt nhựt tan thành máu, hồn (một nửa hồn tôi mất, một nửa hồn tôi bỗng dại khờ), bông phượng nở trong màu huyết, giọt châu. – ​​​​Hình ảnh hồn tượng trưng cho cái tôi cá nhân, cho sự cô đơn, tuyệt vọng của chính thi nhân gắn liền với mặc cảm chia lìa. Khát khao yêu và được yêu, nhưng tình yêu của Hàn Mặc Tử vẫn tan vỡ, người kia vẫn ra đi, khiến cho thi sĩ ngậm ngùi, đau đớn, thất vọng. Câu 4 (1,0 điểm). ​​​​ Câu hỏi tu từ: Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?/ Sao bông phượng nở trong màu huyết,/ Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu? – Tác dụng: + Thể hiện sự bơ vơ, lạc lõng của thi nhân giữa trần thế bao la, rộng lớn này. + Thể hiện sự nhạy cảm của thi nhân trước thiên nhiên, cuộc đời: Dường như thiên nhiên, cuộc đời cũng thương cho số kiếp đáng thương, hoàn cảnh lạc lõng của thi nhân mà xúc động, nghẹn ngào, khóc thương cho cuộc đời chàng Hàn Mặc Tử. Câu 5 (1,0 điểm). ​​​​Trước hết, bài thơ đi từ nỗi buồn vì không thể hồi đáp lại hết tình thương yêu, quý mến của mọi người dành cho thi nhân. Nhà thơ rất muốn đền đáp nhưng bệnh tật khiến chàng không thể đền đáp nổi những điều trân quý ấy. Tiếp đó là nỗi đau đớn, bất lực vì tình yêu không trọn vẹn. Và cuối cùng là nỗi khổ sở, bơ vơ, lạc lõng giữa cuộc đời mênh mông. Như vậy, bài thơ là sự vận động từ sự phiền muộn, khát khao yêu và được yêu sang nỗi khổ sở, bơ vơ, lạc lõng giữa trần thế bao la của thi nhân.

Câu 1.

​​Trong thời đại hội nhập quốc tế, ý thức bảo vệ và giữ gìn những nét đẹp văn hóa truyền thống có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với giới trẻ Việt Nam. Văn hóa truyền thống là kết tinh của lịch sử dân tộc, bao gồm trang phục, lễ hội, phong tục tập quán, nghề thủ công và những giá trị đạo đức tốt đẹp. Hiện nay, nhiều bạn trẻ đã thể hiện tinh thần trân trọng bản sắc dân tộc bằng cách mặc áo dài, áo tấc trong các sự kiện văn hóa, tìm hiểu lịch sử, tham gia quảng bá nghệ thuật truyền thống trên mạng xã hội. Nhiều bạn còn sáng tạo nội dung về ẩm thực, di tích và phong tục Việt Nam để giới thiệu với bạn bè quốc tế. Những hành động ấy góp phần lan tỏa tình yêu quê hương, đất nước và giúp văn hóa dân tộc được gìn giữ lâu bền. Tuy nhiên, vẫn còn một số bạn thờ ơ, chạy theo lối sống hiện đại mà xem nhẹ giá trị truyền thống. Vì vậy, mỗi người trẻ cần chủ động học hỏi, trân trọng và tiếp nối những nét đẹp văn hóa của dân tộc để góp phần giữ gìn bản sắc Việt Nam trong thời đại mới.​ Câu 2.

​​Trong dòng chảy của cuộc đời, mỗi người đều có một miền kí ức dịu dàng để nhớ về. Với nhiều người, đó là hình ảnh người bà tảo tần, yêu thương và luôn dõi theo từng bước trưởng thành của cháu. Bài thơ của Lam là khúc hát tha thiết về tình bà cháu, gợi lên những kỉ niệm bình yên tuổi thơ và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của người cháu đối với bà. Mở đầu bài thơ là một hình ảnh giàu chất thơ: “khói chiều cõng một hoàng hôn bờ vai bà cõng tâm hồn cháu bay” Khói chiều và hoàng hôn tạo nên khung cảnh đồng quê yên ả, ấm áp. Từ “cõng” được lặp lại hai lần vừa gợi hình vừa gợi cảm: khói chiều cõng hoàng hôn, còn bà cõng cả tuổi thơ và tâm hồn cháu. Hình ảnh ấy cho thấy bà không chỉ đưa cháu về nhà mà còn nâng đỡ, chở che và nuôi dưỡng tâm hồn cháu bằng tình yêu thương vô bờ. Theo nhịp quay của bánh xe, những suy nghĩ trẻ thơ hiện lên thật hồn nhiên. Ngồi sau lưng bà, cháu mải nhìn con sông xa, nghĩ về đám bạn đang nô đùa, nhớ lời ông hứa thưởng điểm mười và mong chờ món thịt kho của bà. Những chi tiết giản dị ấy tái hiện một tuổi thơ êm đềm, vô tư và hạnh phúc. Trong thế giới tuổi thơ ấy, ông bà chính là nguồn yêu thương lớn lao nhất. Hình ảnh bà hiện lên thật gần gũi và cảm động: “bánh xe bà đạp quay tròn bao giờ đi hết đường mòn, bà ơi?” Con đường làng vốn dài nhưng trở nên ngắn lại nhờ tình thương của bà. Người cháu lúc ấy vô tư “mải chơi” mà không nhận ra rằng bên cạnh mình luôn có một “Mặt Trời” tỏa sáng. Hình ảnh ẩn dụ “Mặt Trời” vừa gợi sự ấm áp, vừa thể hiện vai trò lớn lao của bà trong cuộc đời cháu. Bà chính là nguồn sáng soi đường, là điểm tựa yêu thương và là nơi bình yên nhất. Khổ thơ cuối đem đến chiều sâu cảm xúc: “sau này khi đã lớn lên đôi khi quanh quẩn, cháu quên đường về ngẩng đầu thấy giữa trời quê hai Mặt Trời dẫn lối về cháu đi.” Khi trưởng thành, con người có thể mải mê với cuộc sống mà quên mất những giá trị thân thuộc. Nhưng chỉ cần ngẩng đầu nhìn lên bầu trời quê hương, người cháu lại nhận ra “hai Mặt Trời” – một là mặt trời của thiên nhiên, một là bà, mặt trời của yêu thương. Hình ảnh thơ vừa độc đáo vừa xúc động, thể hiện lòng biết ơn sâu nặng của cháu đối với bà và với quê hương. Bài thơ thành công bởi ngôn ngữ giản dị, trong sáng mà giàu sức gợi. Những hình ảnh quen thuộc như khói chiều, đồng cỏ, con sông, vườn trái, bánh xe… tạo nên bức tranh đồng quê thân thương. Biện pháp điệp từ, ẩn dụ và giọng thơ nhẹ nhàng, tha thiết giúp cảm xúc lan tỏa tự nhiên. Đặc biệt, việc viết thường toàn bộ bài thơ và sử dụng ít dấu câu khiến dòng hồi tưởng trở nên liền mạch, như những kỉ niệm cứ chảy mãi trong tâm hồn người cháu. Bài thơ của Lam không chỉ là lời kể về những buổi chiều bà đón cháu tan học mà còn là bản tình ca về tình bà cháu thiêng liêng. Qua đó, tác giả nhắc nhở mỗi chúng ta hãy biết trân trọng những người thân yêu, gìn giữ những kí ức đẹp đẽ và luôn nhớ về nguồn cội. Bởi trong hành trình cuộc sống, tình yêu thương của gia đình mãi là ánh sáng ấm áp dẫn lối cho mỗi con người.

Câu 1. Văn bản trên giới thiệu về quần thể di tích Cố đô Huế. Câu 2. Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản: Thuyết minh, miêu tả. Câu 3. Văn bản Quần thể di tích Cố đô Huế − di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam được coi là một văn bản thông tin tổng hợp vì: − Văn bản cung cấp thông tin cho người đọc về quần thể di tích Cố đô Huế − di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam bằng ngôn ngữ cô đọng, rõ ràng, dễ hiểu. − Văn bản có sự kết hợp giữa phương tiện ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ. Câu 4. − Phương tiện phi ngôn ngữ: Ảnh Cố đô Huế. − Tác dụng: + Giúp văn bản thêm sinh động, hấp dẫn. + Giúp người đọc có được cái nhìn trực quan hơn về quần thể di tích Cố đô Huế. Câu 5. ​​​​Từ nội dung văn bản, em cảm nhận được quần thể di tích Cố đô Huế là niềm tự hào lớn lao của dân tộc Việt Nam. Nơi đây không chỉ lưu giữ những công trình kiến trúc nguy nga, tráng lệ mà còn chứa đựng vẻ đẹp hòa quyện giữa thiên nhiên và bàn tay con người, thể hiện trình độ nghệ thuật và tư duy thẩm mỹ tinh tế của cha ông ta. Mỗi công trình, lăng tẩm, cung điện đều mang trong mình dấu ấn lịch sử, văn hóa và tâm hồn Việt Nam. Việc Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới khiến em càng thêm tự hào và ý thức được trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay trong việc giữ gìn, trân trọng và phát huy giá trị di sản quý báu ấy, để Huế mãi mãi là viên ngọc sáng của đất nước.

Câu 1. ​​​​​​​ Trong đoạn trích Kim tiền của Vi Huyền Đắc, nhân vật Trần Thiết Chung hiện lên là hình tượng tiêu biểu cho người trí thức sống có lí tưởng và giàu lòng tự trọng. Ông là người có tài năng nhưng không chạy theo công danh, phú quý mà lựa chọn cuộc sống thanh bạch, giản dị. Quan niệm “Sung sướng thay những người không cần thiết gì hết!” cho thấy ông đề cao sự thanh thản của tâm hồn hơn những giá trị vật chất. Trần Thiết Chung cũng có cái nhìn tỉnh táo về đồng tiền trong xã hội đương thời. Ông cho rằng để làm giàu, con người thường phải “bóc lột kẻ nghèo khó”, vì thế ông nhất quyết tránh xa “vòng cầu danh, trục lợi”. Trước những lời khuyên của Cự Lợi, ông vẫn giữ vững lập trường, không chấp nhận đánh đổi nhân cách để đổi lấy giàu sang. Qua nhân vật này, tác giả thể hiện sự trân trọng đối với những con người biết giữ gìn phẩm giá, đồng thời phê phán xã hội tôn thờ đồng tiền và coi nhẹ giá trị đạo đức. ​Câu 2.

​​​​Trong cuộc sống, con người luôn hướng tới một cuộc đời đầy đủ và hạnh phúc. Để đạt được điều đó, mỗi người cần biết cân bằng giữa giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Đây là hai yếu tố quan trọng, bổ sung cho nhau và cùng tạo nên ý nghĩa đích thực của cuộc sống. Giá trị vật chất là những điều kiện hữu hình như tiền bạc, nhà cửa, quần áo, phương tiện sinh hoạt. Đây là nền tảng để con người tồn tại, học tập, lao động và chăm lo cho bản thân cũng như gia đình. Giá trị tinh thần là những điều thuộc về đời sống tâm hồn như tình yêu thương, lòng nhân ái, đạo đức, tri thức, niềm tin và sự thanh thản. Nếu vật chất giúp con người sống đủ đầy thì tinh thần giúp con người sống có ý nghĩa. Không thể phủ nhận vai trò của vật chất. Có tiền bạc và điều kiện kinh tế ổn định, con người sẽ giảm bớt khó khăn, có cơ hội phát triển bản thân và giúp đỡ người khác. Tuy nhiên, nếu quá coi trọng tiền bạc, con người dễ rơi vào lối sống thực dụng, chỉ biết lợi ích cá nhân mà quên đi những giá trị đạo đức. Thực tế cho thấy có những người vì chạy theo vật chất mà sẵn sàng gian dối, lừa lọc, đánh mất danh dự và sự bình yên trong tâm hồn. Ngược lại, giá trị tinh thần là nguồn sức mạnh to lớn giúp con người vượt qua thử thách. Tình yêu thương, lòng biết ơn, sự sẻ chia và những ước mơ đẹp đẽ làm cho cuộc sống trở nên đáng quý hơn. Một người dù không quá giàu có nhưng nếu sống tử tế, được yêu thương và có mục tiêu sống rõ ràng thì vẫn cảm thấy hạnh phúc. Tuy nhiên, nếu chỉ đề cao tinh thần mà xem nhẹ vật chất, con người có thể gặp nhiều khó khăn trong việc bảo đảm cuộc sống và thực hiện trách nhiệm với gia đình. Vì vậy, điều quan trọng là phải biết hài hòa giữa hai giá trị này. Mỗi người cần lao động chân chính để tạo dựng cuộc sống ổn định, nhưng đồng thời phải nuôi dưỡng tâm hồn bằng lòng nhân ái, sự trung thực và tinh thần trách nhiệm. Tiền bạc chỉ thực sự có ý nghĩa khi được tạo ra bằng những cách đúng đắn và được sử dụng vào những mục đích tốt đẹp. Là học sinh, chúng ta cần xác định mục tiêu học tập rõ ràng để có nghề nghiệp ổn định trong tương lai. Song song với đó, cần rèn luyện đạo đức, biết yêu thương gia đình, giúp đỡ bạn bè và sống có ích cho xã hội. Thành công không chỉ được đo bằng tài sản mà còn bằng nhân cách và những giá trị tốt đẹp mà mỗi người tạo ra. Tóm lại, giá trị vật chất và giá trị tinh thần đều cần thiết đối với cuộc sống con người. Biết cân bằng giữa hai yếu tố ấy sẽ giúp chúng ta vừa có cuộc sống đủ đầy, vừa giữ được sự thanh thản và hạnh phúc lâu bền. Đây chính là chìa khóa để mỗi người sống trọn vẹn và có ý nghĩa hơn.

Câu 1. (0,5 điểm) Văn bản "Kim tiền" thuộc thể loại bi kịch. Câu 2. (0,5 điểm) Theo ông Cự Lợi, ông Trần Thiết Chung thất bại vì ông quá khinh rẻ đồng tiền, cố chấp và không chịu kiếm tiền. Câu 3. (1,0 điểm) − Hình ảnh "phân, bẩn, rác" được so sánh với "tiền": + Bản chất của chúng "phân, bẩn, rác" là sự ô uế, bẩn thỉu nhưng vẫn là "vật liệu rất quý", là nguồn dưỡng chất thiết yếu để tạo nên những cánh đồng lúa trĩu nặng, nhưng bông hoa thơm ngát. + "Tiền" có thể bị coi là thấp kém, đê tiện vì sự vụ lợi nhưng nếu biết dùng đúng cách nó cũng tạo ra những điều tốt đẹp, giúp ích cho đời. − Qua đó, ông Cự Lợi muốn thuyết phục ông Trần Thiết Chung: + Bản chất của đồng tiền không hoàn toàn xấu và tiêu cực như cách ông Trần Thiết Chung đang suy nghĩ, nó phụ thuộc vào cách sử dụng và kiểm soát của mỗi cá nhân. + Muốn Trần Thiết Chung hiểu rằng dù việc kiếm tiền có thể vất vả và trần tục nhưng tiền là công cụ cần thiết để nuôi sống bản thân, gia đình và thực hiện những lí tưởng cao đẹp. Câu 4. (1,0 điểm) − Cuộc trò chuyện giữa ông Cự Lợi và ông Trần Thiết Chung kết thúc trong sự bế tắc và bất đồng quan điểm. Hai bên không ai thuyết phục được ai: "Bác có ý kiến của bác, tôi có ý kiến của tôi". Ông Chung cương quyết giữ lối sống thanh bần còn ông Cự Lợi đành để mặc bạn mình. − Ý nghĩa của kết thúc này: + Phản ánh sự xung đột gay gắt, không thể dung hoà giữa hai hệ tư tưởng trong xã hội giao thời: Một bên là lý tưởng đạo đức nho sĩ (giữ khí tiết, khinh tài lợi) và một bên là lối sống thực dụng (coi trọng sức mạnh của đồng tiền). + Làm nổi bật chủ đề của văn bản: Sự lựa chọn giữa tiền và nhân cách con người, mâu thuẫn giữa lí tưởng sống và nhu cầu vật chất của hiện thực đời sống. + Gợi suy ngẫm, chiêm nghiệm về những khó khăn khi con người phải giữ đạo đức, lí tưởng và ước mơ trong một xã hội chạy theo lợi ích kinh tế. Câu 5. (1,0 điểm) Học sinh đưa ra ý kiến đồng tình với quan điểm của ông Trần Thiết Chung và đưa ra lí giải hợp lí. Gợi ý: − Lòng tham của con người thường không có đáy, khi chúng ta mải mê chạy theo quá nhiều danh vọng và vật chất ("tham muốn nhiều"), ta buộc phải đánh đổi bằng thời gian, sức khoẻ và sự bình yên trong tâm hồn. − Khi con người chạy theo tham vọng vật chất quá mức, họ dễ đánh mất sự thanh thản, bị cuốn vào lo toan, tính toán, thậm chí phạm sai lầm để đạt mục đích. − Biết sống vừa phải và biết đủ sẽ giúp con người nhẹ nhõm, thanh thản và giữ được các giá trị đạo đức của bản thân.

Câu 1

Trong văn bản Anh béo và anh gầy, nhân vật anh gầy để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp trong lòng người đọc. Trước hết, anh gầy có ngoại hình nhỏ bé, gầy guộc, trông yếu ớt và có phần lép vế hơn so với anh béo. Tuy nhiên, ẩn sau dáng vẻ ấy là một con người giàu nghị lực và phẩm chất đáng quý. Anh là người chăm chỉ, chịu khó, luôn cố gắng vượt qua khó khăn trong cuộc sống. Đồng thời, anh còn sống khiêm tốn, thật thà và chân thành với mọi người xung quanh. Dù không có vẻ ngoài nổi bật, anh gầy vẫn toát lên vẻ đẹp của sự bền bỉ và lòng tự trọng. Qua việc xây dựng nhân vật này, tác giả muốn khẳng định rằng giá trị của con người không nằm ở ngoại hình mà nằm ở phẩm chất, ý chí và cách sống. Anh gầy là hình ảnh tiêu biểu cho những con người tuy bình dị nhưng đáng trân trọng và yêu mến.

Câu 2

Trong cuộc sống, mỗi người đều phải đối mặt với những khó khăn, thử thách và những điều không như mong muốn. Có ý kiến cho rằng: “Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng.” Câu nói gợi ra hai cách nhìn nhận khác nhau trước cùng một sự việc: bi quan, chỉ thấy mặt tiêu cực; hoặc lạc quan, biết trân trọng những điều tốt đẹp. Theo tôi, lựa chọn cách nhìn tích cực là thái độ sống đúng đắn và cần thiết. “Bụi hồng có gai” tượng trưng cho những khó khăn, trở ngại trong cuộc sống, còn “hoa hồng” tượng trưng cho vẻ đẹp, giá trị và niềm vui mà ta nhận được. Nếu chỉ chăm chăm nhìn vào những chiếc gai, con người sẽ dễ chán nản, thất vọng và mất động lực. Ngược lại, nếu biết hướng đến những bông hoa, ta sẽ cảm thấy cuộc sống ý nghĩa hơn và có thêm sức mạnh để vượt qua thử thách. Lựa chọn cách nhìn tích cực giúp con người giữ được tinh thần lạc quan, yêu đời. Khi gặp thất bại trong học tập, thay vì buồn bã và trách móc bản thân, chúng ta có thể xem đó là cơ hội để nhận ra thiếu sót và cố gắng hơn. Trong các mối quan hệ, nếu biết tập trung vào ưu điểm của người khác, chúng ta sẽ dễ cảm thông, chia sẻ và xây dựng những tình cảm tốt đẹp. Cách nhìn nhận tích cực còn giúp con người lan tỏa năng lượng tốt, tạo nên môi trường sống vui vẻ và hạnh phúc. Thực tế cho thấy, nhiều người thành công chính là những người luôn giữ thái độ lạc quan. Thomas Edison đã trải qua hàng nghìn lần thất bại trước khi tạo ra bóng đèn điện, nhưng ông không nản lòng mà xem mỗi lần thất bại là một bước tiến đến thành công. Hay Nick Vujicic, dù sinh ra không có tay chân, vẫn luôn sống tích cực và truyền cảm hứng cho hàng triệu người trên thế giới. Tuy nhiên, nhìn nhận tích cực không có nghĩa là bỏ qua khó khăn hay tự lừa dối bản thân. Điều quan trọng là phải đối diện với thực tế, đồng thời giữ niềm tin rằng mọi vấn đề đều có thể giải quyết nếu chúng ta kiên trì và nỗ lực. Là học sinh, chúng ta cần rèn luyện tư duy tích cực trong học tập và cuộc sống. Hãy biết trân trọng những điều tốt đẹp, học cách rút kinh nghiệm từ thất bại và luôn tin tưởng vào bản thân. Khi thay đổi cách nhìn nhận, chúng ta sẽ thấy cuộc sống nhẹ nhàng và đáng quý hơn. Câu nói trên gửi đến mỗi người một bài học sâu sắc: cuộc sống luôn tồn tại cả “gai” và “hoa hồng”. Điều quan trọng là chúng ta chọn nhìn vào đâu. Nếu biết hướng đến những điều tốt đẹp, con người sẽ sống lạc quan hơn, mạnh mẽ hơn và hạnh phúc hơn.

Câu 1 thể loại truyện ngắn

Câu 2

Đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy: "Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại..." ​

Câu 3

Tình huống truyện: cuộc gặp gỡ giữa hai người bạn học cũ vốn dĩ vui mừng nhưng sau khi biết được cấp bậc của người bạn cũ, anh gầy liền tỏ ra sợ hãi, khép nép và khiến cho người bạn cảm thấy xa cách, chán nản. Chính tình huống này kết hợp với cử chỉ, điệu bộ quá đỗi khuôn phép của anh gầy đã đem đến tiếng cười cho câu chuyện.

Câu 4

​Những điệu bộ, cử chỉ của anh gầy đối với anh béotrước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo: + Trước: vui vẻ, xởi lởi giới thiệu về gia đình, công việc và cuộc sống của bản thân. + Sau: bất ngờ, rúm ró, khúm núm, khép nép, hành động khuôn phép, xóa đi sự thân mật gần gũi ban đầu khiến cho người bạn cảm thấy e ngại, chán nản.

Câu 5

Nội dung: văn bản thông qua cuộc gặp gỡ của hai người bạn cũ lâu ngày không ngày. Những tưởng mối quan hệ gần gũi này sẽ giúp họ có một cuộc trò chuyện vui vẻ, thân mật, nhưng sau khi biết cấp bậc của bạn, anh gầy ngay lập tức thay đổi thái độ thân mật ban đầu bằng sự khúm núm của những kẻ nhát gan, sợ hãi trước quyền uy, khiến cho mối quan hệ giữa hai người trở nên xa cách. Thái độ của anh gầy chính là biểu hiện cho nỗi sợ cường quyền của xã hội Nga lúc bấy giờ. Và Sê-khốp đã rất tinh ý, khéo léo khi phát hiện và thể hiện điều đó qua một tình huống truyện giản dị, xen lẫn tiếng cười trào phúng.

n = 2.\(\frac{L}{3,4}\) = 2.\(\frac{8500}{3,4}\) = 5000

2A + 2G = n => A+G = \(\frac{n}{2}=\frac{5000}{2}=2500\) (1)

2A+3G = H = 6500 (2)

Trừ (1) và (2) :

(2A+3G)-2.(A+G) = 6500-2.2500

2A+3G-2A-2G = 6500-5000

G = 1500

Thay G = 1500 vào phương trình (1) để tìm A :

A+1500 = 2500

A = 2500-1500 = 1000

Từ nguyên tắc bổ sung :

T=A=1000

C=G=1500


n = 2.\(\frac{L}{3,4}\) = 2.\(\frac{8500}{3,4}\) = 5000

2A + 2G = n => A+G = \(\frac{n}{2}=\frac{5000}{2}=2500\) (1)

2A+3G = H = 6500 (2)

Trừ (1) và (2) :

(2A+3G)-2.(A+G) = 6500-2.2500

2A+3G-2A-2G = 6500-5000

G = 1500

Thay G = 1500 vào phương trình (1) để tìm A :

A+1500 = 2500

A = 2500-1500 = 1000

Từ nguyên tắc bổ sung :

T=A=1000

C=G=1500