Nguyễn Ngọc Phước An

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Ngọc Phước An
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Đặc điểm khác nhau

Pha sáng

Pha tối

Vị trí và điều kiện xảy ra

Màng thylakoid, cần ánh sáng

Chất nền lục lạp, sử dụng sản phẩm của pha sáng làm nguyên liệu

Nguyên liệu và năng lượng

H

2

O và năng lượng ánh sáng

CO

2

 và ATP, NADPH

Sản phẩm tạo ra

ATP, NADPH, O

2

Carbohydrate (G3P, glucose)

Vai trò trong chuyển hóa năng lượng

Chuyển hóa quang năng thành hóa năng trong ATP và NADPH

Chuyển hóa năng lượng trong ATP và NADPH thành hóa năng trong glucose

Tổng số nucleotide là: N = 2 x L : 3,4 = 5000 nucleotide

Ta có: \({2A+2G=50002A+3G=6500{2A+2G=50002A+3G=6500​\)→ \({A=1000G=1500{A=1000G=1500​\)

Vậy A = T = 1000 nucleotide; G = C = 1500 nucleotide

1. Các thành phần của tế bào nhân sơ:

  • 1 - Roi
  • 2 - Lông
  • 3 - Thành tế bào
  • 4 - Màng tế bào
  • 5 - Ribosome
  • 6 - Vùng 

2. Kích thước tế bào nhỏ nên tỉ lệ S/V lớn giúp tế bào trao đổi chất với môi trường một cách nhanh chóng. Nhờ đó, tế bào nhân sơ sinh trưởng và sinh sản nhanh.

Việc thường xuyên thay đổi món ăn giữa các bữa ăn và trong một bữa nên ăn nhiều món nhằm cung cấp cho cơ thể đầy đủ các các nguyên tố cần thiết cho các hoạt động trong cơ thể, đảm bảo duy trì sự sống.

- Điểm giống:

  • Đều được cấu tạo gồm một chuỗi polynucleotide theo nguyên tắc đa phân.
  • Đơn phân là các nucleotide, gồm bốn loại: A, T, G, C.
  • Các đơn phân liên kết với nhau bằng liên kết cộng hoá trị.
  • Tham gia vào quá trình tổng hợp protein.

​- Điểm khác:

 

mRNA

tRNA

rRNA

Cấu tạo

Có cấu trúc dạng mạch thẳng.

Một số đoạn liên kết với nhau theo nguyên tắc bổ sung tạo cấu trúc gồm ba thuỳ.

Tại nhiều vùng, các nucleotide liên kết bổ sung tạo nên các vùng xoắn kép cục bộ.

Chức năng

Dùng làm khuôn cho quá trình dịch mã (tổng hợp protein), truyền đạt thông tin di truyền từ DNA đến ribosome.

Vận chuyển các amino acid đến ribosome để dịch mã.

Là thành phần chủ yếu cấu tạo nên ribosome.

Câu 1.

  • Trả lời: Thể loại của văn bản "Kim tiền" là Kịch (cụ thể là kịch bản văn học / bi kịch xã hội).

Câu 2.

  • Trả lời: Theo ông Cự Lợi, lý do Trần Thiết Chung thất bại trong sự nghiệp và các dự định là vì thiếu tiền và thái độ khinh rẻ tiền bạc, không chịu kiếm tiền.
    • Chi tiết trong văn bản: Ông Cự Lợi đã nói thẳng thắn: "bao nhiêu công việc bác trù tính, chỉ vì tiền mà thất bại. Bao nhiêu điều thất vọng của bác chỉ vì tiền mà ra cả. Thế mà bác cứ khinh rẻ tiền, không chịu kiếm tiền."

Câu 3.

  • Phân tích ý nghĩa hình ảnh so sánh:
    • “Phân, bẩn, rác” là những thứ ô uế, bẩn thỉu, bị mọi người ghê sợ và xa lánh (tương tự như cách Trần Thiết Chung nhìn nhận về tiền bạc – coi tiền là thứ dơ bẩn, làm tha hóa con người).
    • Tuy nhiên, dưới góc nhìn thực tế của Cự Lợi, phân bẩn và rác lại là “những vật liệu rất quý”, là nguồn dinh dưỡng không thể thiếu để nuôi trồng ra “những bông lúa nặng trĩu, những tàu rau xanh ngát, những bông hoa ngào ngạt”.
    • Như vậy, phép so sánh này chỉ ra rằng: Bản chất của tiền có thể mang tiếng xấu hoặc đến từ những nguồn không sạch sẽ, nhưng giá trị sử dụng và thành quả mà nó mang lại cho cuộc sống con người lại cực kỳ tốt đẹp, kỳ diệu và thực tế.
  • Mục đích thuyết phục của Cự Lợi:
    • Cự Lợi muốn Trần Thiết Chung ngừng cái nhìn phiến diện, cực đoan và mơ mộng hão huyền về tiền bạc.
    • Thuyết phục Thiết Chung chấp nhận thực tế rằng: Muốn đạt được những mục đích cao đẹp, muốn giúp đỡ gia đình hay cống hiến cho đời (như gieo trồng hoa thơm, trái ngọt) thì bắt buộc phải có phương tiện thực tế là "tiền" (giống như việc phải dùng phân bón để đất đai khô cằn hóa tươi tốt).

Câu 4.

  • Diễn biến kết thúc cuộc trò chuyện: Cuộc trò chuyện kết thúc trong sự bất đồng quan điểm sâu sắc và không thể dung hòa. Trần Thiết Chung khẳng định: "chúng ta cứ cãi vã với nhau như thế này, không bao giờ có thể xong được." Mỗi người tự lựa chọn con đường riêng cho mình: Cự Lợi chọn con đường giàu sang, phú quý thực tế; còn Trần Thiết Chung chấp nhận cuộc sống giản dị, nghèo khó nhưng thanh cao (như Nhan Hồi).
  • Ý nghĩa đối với việc thể hiện chủ đề văn bản:
    • Tôn trọng sự đa dạng trong lý tưởng sống: Kết thúc mở này cho thấy sự xung đột muôn thuở giữa hai lối sống: một bên là chủ nghĩa thực dụng, coi trọng vật chất (Cự Lợi) và một bên là chủ nghĩa duy mỹ, giữ gìn khí tiết thanh cao, coi trọng tinh thần (Thiết Chung).
    • Làm nổi bật chủ đề tư tưởng: Vở kịch không vội vàng phán xét ai đúng ai sai tuyệt đối, mà đặt ra cho người đọc/người xem câu hỏi sâu sắc về giá trị thực sự của cuộc sống. Nó phản ánh chân thực bi kịch của người trí thức trong xã hội giao thời – khi đồng tiền bắt đầu làm chủ và đảo lộn các giá trị đạo đức truyền thống.

Câu 5.

Em hoàn toàn đồng ý với quan điểm này của nhân vật Trần Thiết Chung. Trong cuộc sống, ham muốn (dục vọng) của con người là vô hạn, nhưng năng lực và thời gian lại có hạn. Khi chúng ta quá tham lam, khao khát sở hữu danh vọng, tiền tài bằng mọi giá, chúng ta vô tình tự xích mình vào những lo toan, áp lực và toan tính ích kỷ. Gánh nặng "hệ lụy" ở đây chính là sự kiệt quệ về tinh thần, sự tha hóa về đạo đức, và nguy cơ đánh mất đi những giá trị thiêng liêng như gia đình, bạn bè hay sự thanh thản trong tâm hồn. Biết đủ và sống giản dị chính là chiếc chìa khóa vàng giúp con người tự giải thoát bản thân khỏi những bi kịch trần tục để tìm thấy hạnh phúc đích thực.

Câu 1.
Các phương thức biểu đạt trong bài thơ:

  • Biểu cảm (chủ yếu): bộc lộ nỗi đau, tuyệt vọng, cô đơn trong tình yêu.
  • Miêu tả: khắc họa trạng thái tâm hồn, hình ảnh giàu tính gợi (máu, giọt châu, bóng phượng…).


Câu 2.
Đề tài của bài thơ:
Nỗi đau đớn, tuyệt vọng của con người trong tình yêu tan vỡ, gắn với cảm giác cô đơn, mất mát đến tận cùng.


Câu 3.
Một hình ảnh mang tính tượng trưng tiêu biểu: “những giọt châu”.

  • “Giọt châu” tượng trưng cho nước mắt – nhưng không phải nước mắt bình thường mà là nước mắt của nỗi đau sâu sắc, quý giá như châu ngọc.
  • Gợi cảm giác đau đớn tột cùng, dồn nén, nỗi buồn thấm sâu vào tâm hồn.
    → Thể hiện tâm trạng bi thương, tuyệt vọng của nhân vật trữ tình.


Câu 4.
Biện pháp tu từ trong khổ cuối:

  • Câu hỏi tu từ: “Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?”, “Ai đem bỏ tôi dưới trời sâu?”
  • Ẩn dụ: “bóng phượng”, “giọt châu”

Tác dụng:

  • Nhấn mạnh trạng thái mất phương hướng, hoang mang, cô độc của cái tôi trữ tình.
  • Làm nổi bật nỗi đau tình yêu đã đẩy con người đến cảm giác như bị bỏ rơi giữa cuộc đời.
  • Tăng tính biểu cảm, ám ảnh, khiến cảm xúc bài thơ trở nên sâu sắc hơn.


Câu 5.
Nhận xét về cấu tứ bài thơ:

  • Bài thơ triển khai theo mạch cảm xúc tăng dần:
    • Mở đầu: câu hỏi đau đớn, ám ảnh về tình yêu và cái chết.
    • Tiếp theo: nỗi mất mát khi người yêu rời xa.
    • Cuối: đỉnh điểm là sự tan vỡ, cô đơn, mất phương hướng.
  • Cấu tứ mang tính liên kết chặt chẽ, logic theo diễn biến tâm trạng, thể hiện rõ phong cách thơ Hàn Mặc Tử: mãnh liệt, đau thương, đầy ám ảnh.


Câu 1.
Văn bản giới thiệu về Quần thể di tích Cố đô Huế – di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam.


Câu 2.
Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản gồm:

  • Thuyết minh (chủ yếu): cung cấp thông tin về vị trí, cấu trúc, giá trị của di tích.
  • Miêu tả: tái hiện vẻ đẹp cảnh quan, kiến trúc Huế.
  • Biểu cảm: thể hiện niềm tự hào, trân trọng đối với di sản.


Câu 3.
Văn bản được coi là văn bản thông tin tổng hợp vì:

  • Cung cấp nhiều loại thông tin khác nhau: lịch sử, kiến trúc, văn hóa, cảnh quan, giá trị nghệ thuật.
  • Kết hợp nhiều phương thức biểu đạt (thuyết minh, miêu tả, biểu cảm).
  • Có sử dụng cả ngôn ngữphương tiện phi ngôn ngữ (hình ảnh minh họa).
    → Nhờ đó, văn bản mang tính toàn diện, giúp người đọc hiểu sâu và đầy đủ về di sản.


Câu 4.

  • Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ: hình ảnh “Ảnh: Cố đô Huế”.
  • Tác dụng:
    • Minh họa trực quan cho nội dung, giúp người đọc dễ hình dung vẻ đẹp của di tích.
    • Tăng tính sinh động, hấp dẫn cho văn bản.
    • Góp phần làm nổi bật giá trị thẩm mỹ và quy mô của Cố đô Huế.


Câu 5.
Từ nội dung văn bản, em cảm nhận rằng Quần thể di tích Cố đô Huế là một di sản vô cùng quý giá, hội tụ cả vẻ đẹp thiên nhiên và tinh hoa kiến trúc, văn hóa dân tộc. Những công trình như Kinh thành, lăng tẩm hay các di tích tâm linh không chỉ mang giá trị lịch sử mà còn phản ánh chiều sâu tâm hồn và bản sắc người Việt. Em thấy tự hào về di sản của đất nước và nhận thức rõ trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc giữ gìn, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc


Câu 1 (khoảng 200 chữ):

Trong văn bản “Anh béo và anh gầy”, nhân vật anh gầy hiện lên với những nét tính cách đáng suy ngẫm. Trước hết, anh gầy là người có phần tự ti về ngoại hình của mình. Sự gầy gò khiến anh luôn so sánh bản thân với người khác, đặc biệt là với anh béo, từ đó nảy sinh cảm giác thiếu tự tin. Tuy nhiên, ẩn sau vẻ ngoài ấy, anh gầy lại là người có suy nghĩ sâu sắc và biết nhìn nhận vấn đề. Anh không chỉ dừng lại ở việc than phiền mà còn nhận ra mỗi người đều có những ưu điểm riêng. Qua cách suy nghĩ của anh gầy, ta thấy được một bài học ý nghĩa: giá trị con người không nằm ở hình thức bên ngoài mà ở cách họ nhìn nhận bản thân và cuộc sống. Nhân vật này góp phần làm nổi bật thông điệp của văn bản, khuyến khích mỗi người biết chấp nhận chính mình và sống tích cực hơn. Vì vậy, anh gầy không chỉ là một nhân vật đơn thuần mà còn là hình ảnh đại diện cho những con người đang đi tìm sự tự tin trong cuộc sống.


Câu 2 (khoảng 600 chữ):

Có ý kiến cho rằng: “Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng.” Câu nói gợi ra một vấn đề sâu sắc về cách con người lựa chọn góc nhìn trong cuộc sống. Theo tôi, việc lựa chọn cách nhìn nhận tích cực hay tiêu cực sẽ quyết định rất lớn đến cảm xúc, hành động và cả thành công của mỗi người.

Trước hết, câu nói sử dụng hình ảnh “hoa hồng” và “gai” như một ẩn dụ cho những điều tốt đẹp và khó khăn trong cuộc sống. “Bụi hồng có gai” tượng trưng cho việc trong cái đẹp luôn tồn tại thử thách, còn “bụi gai có hoa hồng” lại nhấn mạnh rằng trong khó khăn vẫn luôn có những giá trị đáng quý. Từ đó, câu nói đặt ra cho con người hai lựa chọn: hoặc chỉ nhìn vào điều tiêu cực để than phiền, hoặc biết tìm kiếm và trân trọng những điều tích cực.

Trong thực tế, cách nhìn nhận tích cực mang lại rất nhiều lợi ích. Khi một người biết “vui mừng vì bụi gai có hoa hồng”, họ sẽ có tinh thần lạc quan, từ đó dễ dàng vượt qua khó khăn. Chẳng hạn, trong học tập, nếu gặp bài khó mà chỉ than vãn, học sinh sẽ nhanh chóng chán nản. Nhưng nếu coi đó là cơ hội để rèn luyện tư duy, họ sẽ tiến bộ hơn. Tương tự, trong cuộc sống, những người lạc quan thường có khả năng thích nghi tốt hơn và dễ đạt được thành công.

Ngược lại, nếu chỉ “phàn nàn vì bụi hồng có gai”, con người sẽ rơi vào trạng thái tiêu cực, bi quan. Họ dễ dàng bỏ cuộc trước thử thách và đánh mất cơ hội phát triển bản thân. Thái độ này không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân mà còn lan tỏa năng lượng xấu đến những người xung quanh.

Tuy nhiên, cần hiểu rằng nhìn nhận tích cực không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn khó khăn. Con người vẫn cần nhìn thẳng vào “gai” để tìm cách giải quyết, nhưng quan trọng là không để nó che lấp “hoa hồng”. Đó là sự cân bằng giữa nhận thức thực tế và tinh thần lạc quan.

Là học sinh, chúng ta càng cần rèn luyện cách nhìn nhận tích cực. Khi gặp áp lực học tập, mâu thuẫn bạn bè hay thất bại nhỏ, thay vì than vãn, hãy coi đó là bài học giúp mình trưởng thành. Đồng thời, mỗi người cũng cần lan tỏa năng lượng tích cực đến người khác để cùng nhau phát triển.

Tóm lại, cuộc sống luôn tồn tại cả “hoa hồng” và “gai”. Điều quan trọng không phải là hoàn cảnh mà là cách ta lựa chọn nhìn nhận. Hãy học cách vui mừng vì “bụi gai có hoa hồng”, bởi chính thái độ tích cực sẽ giúp chúng ta sống ý nghĩa và thành công hơn.


Câu 1:

thể loại truyện ngắn

Câu 1:

Thể loại: truyện ngăn.

Câu 2.

Đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy:

"Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhan nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cố khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc căm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại..."

Câu 3.

Tình huống truyện: cuộc gặp gỡ giữa hai người bạn học cũ vốn dĩ vui mừng nhưng sau khi biết được cấp bậc của người bạn cũ, anh gầy liền tỏ ra sợ hãi, khép nép và khiến cho người bạn cảm thấy xa cách, chán nản.

Chính tình huống này kết hợp với cử chỉ, điệu bộ quá đồi khuôn phép của anh gầy đã đem đến tiếng cười cho câu chuyện.

Cầu 4.

Những điệu bộ, cử chỉ của anh gầy đối với anh Béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo

+ Trước: vui vẻ, xởi lởi giới thiệu về gia đình, công việc và cuộc sống của bản thân.

+ Sau: bất ngờ, rúm ró, khúm núm, khép nép, hành động khuôn phép, xóa đi sự thân mật gần gũi ban đầu khiến cho người bạn cảm thấy e ngại, chán nản.

Câu 5:

Nội dung: văn bản thông qua cuộc gặp gỡ của hai người bạn cũ lâu ngày không ngày.

Những tưởng mối quan hệ gần gũi này sẽ giúp họ có một cuộc trò chuyện vui vẻ, thân mật, nhưng sau khi biết cấp bậc của bạn, anh gầy ngay lập tức thay đối thái độ thân mật ban đầu bằng sự khúm núm của những kẻ nhát gan, sợ hãi trước quyền uy, khiến cho mối quan hệ giữa hai người trở nên xa cách. Thái độ của anh gầy chính là biểu hiện cho nỗi sợ cường quyền của xã hội

Nga lúc bấy giờ. Và Sê-khốp đã rất tinh ý, khéo léo khi phát hiện và thể hiện điều đó qua một tình huống truyện giản dị, xen lẫn tiếng cười trào phúng.