Nguyễn Ngọc Bảo Trang
Giới thiệu về bản thân
Ai đó đã từng nói: "Truyện cổ tích là thế giới hiện thực biết ước mơ". Vâng, truyện cổ tích nói riêng và văn học dân gian Việt Nam nói chung là tiếng nói, là nỗi niềm, tiếng lòng của người bình dân trong xã hội cũ. Song những tiếng lòng ấy không hề ủy mị, không hề mềm yếu dẫu rằng nó được cất lên trong bùn đen cơ cực. "Tấm Cám" là một truyện cổ tích thể hiện rõ niềm lạc quan, niềm tin của nhân dân lao động. Tấm là nhân vật chính trong truyện hiện lên với số phận bất hạnh nhưng ngời sáng vẻ đẹp tâm hồn.
"Tấm Cám" là một truyện cổ tích thần kỳ. Truyện kể về cuộc đời số phận của Tấm - cô gái mồ côi, bất hạnh nhưng có phẩm chất tốt đẹp, trải qua nhiều gian nan cuối cùng được hưởng hạnh phúc. Thông qua số phận bất hạnh của Tấm, nhân dân gửi gắm ước mơ, khát vọng lí tưởng xã hội của mình về sự chiến thắng của cái thiện với cái ác.
Tấm là một cô gái có số phận bất hạnh. Tấm mồ côi từ nhỏ: "Tấm và Cám là hai chị em cùng cha khác mẹ. Tấm là con vợ cả, Cám là con vợ lẽ. Mẹ Tấm đã chết từ hồi Tấm còn bé. Sau đó mấy năm thì cha Tấm cũng chết. Tấm ở với dì ghẻ là mẹ của Cám". Tác giả dân gian đã đưa người đọc đến với số phận rất quen thuộc trong truyện cổ tích: đó là người mồ côi. Ở với dì ghẻ, Tấm phải sống một cuộc sống khổ cực, bị mẹ con Cám hành hạ. Tấm phải làm lụng suốt ngày đêm trong khi Cám thì thảnh thơi. Đâu chỉ có thế, Tấm còn bị Cám lừa lấy mất giỏ cá. Mất giỏ cá là Tấm mất đi phần thưởng của dì, mất đi cái yếm đẹp, mất đi tình yêu thương mà Tấm khao khát có được. Không chỉ có vậy, khi chỉ còn con cá bống bầu bạn, Tấm cũng bị mẹ con Cám bắt lấy và giết thịt. Cuộc đời Tấm dường như bị bủa vây trong sự hãm hại. Bống là con cá duy nhất còn sót lại trong giỏ cá. Bị lấy mất cá là Tấm mất đi người bạn ngày ngày tâm sự, sẻ chia, mất một niềm an ủi cuối cùng. Tấm là hiện thân của một cuộc đời đày đoạ, tước đoạt, một hình ảnh tiêu biểu cho những số phận thấp cổ bé họng, chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội phân chia giai cấp. Bởi vậy tiếng khóc tội nghiệp của Tấm mỗi khi bị chèn ép, áp bức có sức lay động mỗi trái tim nhân hậu, khơi dậy niềm cảm thông chia sẻ ở mọi người.
Nhờ Bụt, Tấm từ một cô gái mồ côi đã trở thành hoàng hậu. Bụt xuất hiện mỗi khi Tấm khóc, buồn tủi cần sự an ủi, giúp đỡ. Tấm bị mất chiếc yếm đỏ, Bụt cho hi vọng là con cá bống. Tấm bị mất cá bống, Bụt lại cho hi vọng. Tấm không được đi xem hội, Bụt cho một cho đàn chim sẻ đến giúp để đi hội làng gặp nhà vua. Lúc đi hội, Tấm làm rơi giày. Chính chiếc giày giúp Tấm gặp lại được vua trở thành hoàng hậu. Đó chính là ước mơ của người xưa về một sự đổi đời trở thành hoàng hậu, bước lên ngôi vị tối cao, là ước mơ, khát vọng lớn lao của người dân bị đè nén, áp bức. Hạnh phúc ấy chỉ dành cho những con người hiền lành, lương thiện.
Tấm là một con người sẵn sàng đấu tranh để giành lại hạnh phúc cho chính mình. Thông qua các cuộc đấu tranh của Tấm, nhân dân lao động gửi gắm niềm tin, ước muốn về khát khao đổi đời,về cuộc chiến thắng của cái thiện trước cái ác. Tấm phải nhiều lần hóa thân: Tấm bị giết hóa thành chim Vàng Anh, Vàng Anh bị giết mọc lên cây xoan đào, xoan đào bị chặt, Tấm hóa khung cửi, khung cửi bị đốt, Tấm hóa quả thị, từ quả thị Tấm bước ra làm người. Cuộc đấu tranh giành lại quyền sống của Tấm là vô cùng gian nan, quyết liệt, không khoan nhượng. Cuộc đấu tranh cho thấy cái ác luôn hiện hữu, luôn xuất hiện đầy ắp hành hạ cái thiện. Khi Tấm trở thành hoàng hậu, mẹ con Cám vẫn đeo bám tiêu diệt Tấm tới cùng. Sự đày đoạ của Tấm đã đến tận cùng, bị tước đoạt cả hạnh phúc lẫn tính mạng.
Lần hóa thân cuối cùng, cô Tấm bước ra làm người đã gửi gắm những quan niệm về hạnh phúc. Có lẽ hạnh phúc nơi trần thế mới là hạnh phúc đích thực và đáng trân trọng. Hạnh phúc giữa cuộc sống đời thực, được bên cạnh những người mình thương yêu. Đặc biệt, để có được hạnh phúc ấy, Tấm đã phải đấu tranh rất nhiều lần. Nếu như lúc trước lúc khó khăn, đau khổ, Tấm có Bụt hiện ra giúp đỡ thì lúc này đây, Tấm chủ động đấu tranh giành lấy hạnh phúc cho mình. Gửi hồn mình vào chim Vàng Anh, cây xoan đào, khung cửi, quả thị,... sau bao lần hóa thân, bị hãm hại, Tấm trở lại làm người. Tấm lại trở về là Tấm - một hoàng hậu xinh đẹp. Nhưng hạnh phúc sẽ chẳng bền lâu khi cái ác chưa bị diệt trừ tận gốc. Tấm tự tay trừng trị mẹ con Cám, để mẹ con cám phải nhận cái kết thích đáng. Nhân dân đã đứng về phía Tấm, công lý đứng về phía Tấm, hạnh phúc lại trở về bên cô Tấm nết na.
"Tấm Cám" là một truyện cổ tích mà ở đó mà không hề thấy người nông dân bi quan. Cái hiện thực với xã hội bất công vẫn cứ hiện ra thông qua số phận của nhân vật Tấm nhưng cũng qua nhân vật Tấm, nhân dân gửi gắm những ước mơ, khát vọng về cuộc sống hạnh phúc, được thể hiện bằng cốt truyện chặt chẽ, có sự tham gia của các yếu tố thần kì tạo hấp dẫn cho truyện. Thông qua nhân vật Tấm, người đọc hiểu được những ước mơ, khát vọng mà nhân dân gửi gắm, ta thấy được sự đấu tranh của tầng lớp thấp cổ bé họng trong xã hội xưa.
Trải qua biết bao thăng trầm lịch sử, văn học dân gian đã và mãi có chỗ đứng trong lòng bạn đọc và có giá trị sâu sắc trong kho tàng văn học Việt Nam nói chung. Bởi thông qua văn học dân gian, người đọc hiểu được đời sống cũng như tâm tư tình cảm người nông dân xưa, càng thêm trân trọng hơn kho tàng văn học dân gian Việt Nam.
Trong cuộc sống, sẽ có lúc con người ta phải đưa ra các lựa chọn, quyết định của riêng mình. Những lựa chọn, quyết định đó sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của ta. Vì vậy phải nghĩ cho kĩ càng và có chính kiến không phải là dễ. Tôi nhớ đến nhân vật người thợ mộc trong truyện ngụ ngôn Đẽo cày giữa đường. Đó là một người không có chính kiến, có phần ba phải để rồi khi nhận được bài học cho bản thân thì đã quá muộn.
Người thợ mộc trong truyện Đẽo cày giữa đường cũng có những tính chất tốt đẹp. Trước khi anh chọn nghề đẽo cày thì cũng đã có cả một gia sản. Không ai biết gia sản của anh do đâu mà có. Nhưng có thể thấy, anh đã dám bỏ ra cả gia sản để chọn một cái nghề và hy vọng vào sự thành đạt ngày sau. Nói cách khác, anh là một người có chí tiến thủ, có chí làm ăn. Anh ta đã chọn cái nghề đẽo cày phù hợp với danh xưng "thợ mộc" của mình. Ở đây, ta thấy được hai đặc điểm tốt ở anh. Anh thợ mộc là một người có tay nghề đồng thời đã biết chọn công việc phù hợp là đẽo cày.
Tuy đã có quyết định đúng đắn bước đầu, nhưng các quyết định phía sau của anh lại là những sai lầm. Năm lần bảy lượt anh đều nghe theo ý kiến của những người qua đường. Cả gia sản trong tay mà anh lại dùng nó thiếu tính toán kỹ lưỡng để rồi những gia sản ấy đi đời nhà ma. Có thể thấy ở đây, không những anh thợ mộc là người ba phải, mà còn cho thấy anh có mong muốn làm giàu nhưng lại thiếu kiến thức, thiếu hiểu biết nên không có suy nghĩ và hành động đúng, dẫn đến kết quả thất bại thảm hại.
Truyện Đẽo cày giữa đường hướng đến đặc điểm một kiểu người trong xã hội. Đó là những người thiếu hiểu biết nên dễ thay đổi, thiếu chủ kiến và quá bị động. Nhan đề của truyện ngụ ngôn Đẽo cày giữa đường đã trở thành một thành ngữ. Đó có lẽ là một cách để con người thận trọng hơn trong việc lắng nghe những ý kiến góp ý của người khác, phải biết cân nhắc, chọn lọc được ý kiến phù hợp, đúng đắn
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, em rất khâm phục Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ vĩ đại của đất nước. Một sự việc khiến em nhớ mãi là ngày Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Sáng ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), hàng vạn người dân từ khắp nơi đổ về dự lễ Tuyên ngôn Độc lập. Trên lễ đài, Bác Hồ trong bộ áo kaki giản dị, bước ra giữa tiếng hô vang: “Hồ Chủ tịch muôn năm!”. Giọng Bác trầm ấm, dõng dạc đọc từng lời thiêng liêng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc lập…”
Khoảnh khắc ấy, lá cờ đỏ sao vàng tung bay giữa trời thu, hàng vạn trái tim người Việt như vỡ òa trong niềm hạnh phúc. Đó là giây phút đất nước ta thoát khỏi ách nô lệ, bước vào kỷ nguyên độc lập tự do.
Câu chuyện ấy giúp em hiểu rằng độc lập, tự do là thành quả của bao máu xương, và thế hệ trẻ hôm nay cần sống xứng đáng, chăm học, rèn luyện để xây dựng đất nước. Mỗi khi nhớ về ngày 2/9 lịch sử, em càng thêm tự hào và biết ơn Bác Hồ kính yêu cùng những người đã hy sinh cho Tổ quốc.
Qua bài thơ, em rút ra bài học về lòng biết ơn thầy cô giáo – những người âm thầm gieo những “hạt mầm tri thức” cho học sinh. Nhờ công lao, sự kiên nhẫn và tình yêu thương của thầy cô, chúng em mới được học chữ, hiểu đời và trưởng thành. Bài thơ cũng nhắc nhở em phải chăm ngoan, học giỏi và trân trọng từng bài học, vì đó là kết quả của bao tâm huyết, vất vả của người thầy.
– Biện pháp tu từ ẩn dụ: hót nắng vàng ánh ỏi.
– Tác dụng: “Ánh ỏi” vốn là từ gợi lên âm thanh tiếng chim, nhưng trong bài thơ này nó còn gợi cả sắc nắng vàng lấp lánh. Tác giả sử dụng biện pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác ở đây (cảm nhận tiếng hót bằng thị giác thay vì bằng thính giác) có tác dụng đem đến sự giao hòa giữa âm thanh và ánh sáng; gợi lên trong thế giới của trẻ khiếm thính một vùng trời sống động, sinh sắc và vui tươi một cách đầy diệu kì.
Bài 2:
Bài thơ “Chiều đồng nội” của Nguyễn Lãm Thắng là một bức tranh nên thơ, trong trẻo về cảnh đồng quê Việt Nam vào buổi chiều mùa thu. Chỉ với những câu thơ ngắn gọn, giản dị, tác giả đã vẽ nên một khung cảnh êm đềm, đầy sức sống và chan chứa tình quê.
Từ những “giọt thu trong veo” đến “cánh cò trôi nhanh nhanh”, “đàn trâu về chậm rãi”, tất cả tạo nên nhịp sống thanh bình, hài hòa giữa thiên nhiên và con người. Hình ảnh “nhấp nhô đều sóng lúa” gợi cảm giác nhẹ nhàng, yên ả; còn “bếp nhà ai tỏa khói, gọi trăng thu xuống gần” lại chứa đựng sự ấm áp, thân thương của mái nhà quê.
Qua bài thơ, người đọc cảm nhận được tình yêu sâu nặng của tác giả với quê hương – nơi có hương đồng, gió nội, có con người hiền hậu, cuộc sống giản dị mà đậm nghĩa tình. “Chiều đồng nội” không chỉ là bức tranh thiên nhiên đẹp, mà còn là khúc hát tâm hồn về quê hương, gợi trong mỗi người niềm thương nhớ và lòng biết ơn với mảnh đất nơi ta sinh ra và lớn lên.
Câu 1. Văn bản trên được viết theo thể thơ năm chữ.
Câu 2.
Các chi tiết miêu tả khung cảnh thiên nhiên xuất hiện trong bài thơ là:
– Những giọt thu trong veo/ rắc ngang qua đồng nội.
– Cánh chim bay xuống chiều.
– Cỏ thơm cùng hoa dại.
– Cánh cò trôi nhanh nhanh.
– Đàn trâu về chậm rãi.
– Cánh đồng chiều thật êm/ Nhấp nhô đều sóng lúa.
– Bếp nhà ai toả khói.
Câu 3.
– Từ láy: nhấp nhô.
– Tác dụng: Gợi nên khung cảnh những bông lúa xô vào nhau, nâng lên, hạ xuống tạo nên những đợt sóng dập dờn. Từ đó, ta thấy được vẻ đẹp thơ mộng, bình yên của cánh đồng lúa khi thu về.
Câu 4
– Bài thơ viết về khung cảnh chiều đồng nội vào mùa thu.
– Đó là bức tranh thiên nhiên mùa thu yên bình, êm ả thơ mộng.
Câu 5.
– Chỉ ra: Biện pháp nhân hoá: bếp được nhân hoá qua từ gọi.
– Tác dụng:
+ Khiến cho sự vật trở nên sinh động, gợi hình, gợi cảm, gần gũi với con người.
+ Gợi ra hình ảnh những làn khói bếp cuộn lên như chạm đến bầu trời, hoà quyện vào vầng trăng đêm. Con người và thiên nhiên như xích lại gần nhau. Từ đó, tạo nên bức tranh đêm thu huyền ảo, thơ mộng.
+ Qua đó, ta cảm nhận được cái nhìn tinh tế cùng tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương, đất nước của tác giả. Câu 6
Khi đọc bài thơ, em nhớ về những buổi chiều quê cùng bà thả diều trên cánh đồng lúa chín vàng, hít hà mùi rơm rạ và nghe tiếng trâu về chuồng. Kỉ niệm ấy giúp em hiểu rằng tác giả muốn gửi gắm tình yêu tha thiết với quê hương, với những vẻ đẹp bình dị của làng quê Việt. Bài thơ nhắc nhở em biết trân trọng, giữ gìn và tự hào về quê hương – nơi nuôi dưỡng tuổi thơ và tâm hồn con người.