Nịnh Thị Liu
Giới thiệu về bản thân
Câu 1.
Sáng tạo là khả năng nghĩ khác, làm khác để tạo ra giá trị mới. Với thế hệ trẻ hôm nay, sáng tạo không còn là “tố chất hiếm” mà đã trở thành điều kiện sống còn. Trước hết, sáng tạo giúp người trẻ thích ứng với thị trường lao động liên tục biến đổi. Công nghệ, AI, xu hướng nghề nghiệp thay đổi từng tháng. Chỉ những ai dám nghĩ giải pháp mới, dám thử cách làm mới mới không bị đào thải. Thứ hai, sáng tạo là chìa khóa để khẳng định bản sắc cá nhân. Giữa “biển người mênh mông”, ý tưởng độc đáo giúp mỗi bạn trẻ không hòa tan, dám sống đúng với mình và tạo dấu ấn riêng. Thứ ba, sáng tạo góp phần giải quyết vấn đề của cộng đồng. Từ app chống ngập ở http://TP.HCM, mô hình nông nghiệp tuần hoàn ở miền Tây đến nội dung số mang đậm văn hóa Việt, tất cả đều bắt đầu từ một ý tưởng mới của người trẻ. Tuy vậy, sáng tạo cần đi cùng bản lĩnh và trách nhiệm. Dám sai, dám sửa, dám học thì sáng tạo mới bền. Vì vậy, nuôi dưỡng tư duy phản biện, khuyến khích trải nghiệm, chấp nhận rủi ro chính là cách để thế hệ trẻ biến sáng tạo thành sức mạnh đưa đất nước đi xa hơn.
Câu 2.
Nguyễn Ngọc Tư luôn viết về con người Nam Bộ bằng giọng văn vừa mộc vừa xót. Trong truyện ngắn Biển người mênh mông, qua hai nhân vật Phi và ông Sáu Đèo, nhà văn đã khắc họa những phẩm chất rất “miệt vườn”: tình nghĩa, phóng khoáng, nhưng cũng nhiều truân chuyên, cô đơn.
Phi: đứa con của những đổ vỡ, lớn lên bằng tình thương chắp vá
Phi sinh ra không có cha, năm tuổi rưỡi đã xa má. Cậu lớn lên trong lời cằn nhằn thương yêu của ngoại: “Cái thằng, tóc tai gì mà xấp xãi, hệt du côn”. Ngoại mất, Phi ba mươi ba tuổi vẫn “sống lôi thôi”. Chi tiết ấy không phải để trách Phi bê bối, mà cho thấy một đứa trẻ thiếu bàn tay cha mẹ thường lớn lên với nhiều khoảng trống. Phi hiểu chuyện sớm: “Thì ra, đã không còn cách nào khác, má mới bỏ Phi lại”. Cậu không oán cha mình “cái nhìn lạnh lẽo, chua chát”, chỉ lặng lẽ vừa học vừa làm, tự lo thân. Ở Phi, ta thấy kiểu người Nam Bộ rất quen: ít nói về nỗi đau, chấp nhận thiệt thòi như một lẽ thường, nhưng bên trong là sự bao dung. Dù thiếu vắng gia đình trọn vẹn, Phi vẫn giữ được sự tử tế. Khi ông Sáu Đèo gửi gắm con bìm bịp, Phi nhận lời “đừng phụ lòng qua nghen” và nuôi nó đến cuối. Hành động nhỏ ấy cho thấy nghĩa khí của người miền Tây: đã hứa thì làm, đã thương thì cưu mang.Ông Sáu Đèo: người đàn ông sông nước mang một niềm ân hận dài bốn mươi năm Ông Sáu Đèo xuất hiện với bốn thùng các tông và một con bìm bịp trùm vải xanh. Ông kể đời mình “toàn sống trên sông”, vợ chồng “lang thang xứ này xứ nọ”. Đó là hình ảnh tiêu biểu của người Nam Bộ xưa: lấy ghe làm nhà, lấy sông làm kế sinh nhai. Nhưng bi kịch của ông cũng rất Nam Bộ: “qua nhậu xỉn quá trời, rồi cũng có cự cãi mấy câu”, vợ bỏ đi. Từ đó ông “dời nhà ba mươi ba bận, lội gần rã cặp giò” để tìm vợ, chỉ để “xin lỗi chớ làm gì bây giờ”. Cái “xin lỗi” ấy nặng như một đời người. Ông Sáu Đèo đại diện cho kiểu người bộc trực, nóng nảy nhưng trọng tình trọng nghĩa. Khi biết mình “yếu rồi, sợ có lúc giữa đường lăn ra chết”, ông không lo cho mình mà lo cho “con quỷ sứ” bìm bịp không ai lo. Ông tin Phi, gửi gắm rồi lại đi. Con người ấy cô đơn tận cùng, nhưng vẫn sống bằng niềm tin: “còn sống thì còn tìm”.
Gặp nhau giữa “biển người mênh mông”
Phi và ông Sáu Đèo đều là những mảnh đời trôi dạt. Họ gặp nhau như hai chiếc ghe tấp vào nhau một đoạn rồi lại rời bến. Cái tình của người Nam Bộ hiện lên không ồn ào. Ngoại Phi thương cháu bằng cách rầy la tóc tai. Má Phi thương con bằng câu hỏi “đủ tiền xài không”. Ông Sáu thương Phi bằng sự tin tưởng. Không ai nói lời hoa mỹ, nhưng tất cả đều là tình thân. Nguyễn Ngọc Tư đã đặt cho truyện cái tên Biển người mênh mông để nói về sự cô đơn giữa đông đúc. Giữa biển người, Phi mất ngoại, mất gia đình đủ đầy. Giữa biển người, ông Sáu mất vợ bốn mươi năm không tìm lại được. Nỗi cô đơn ấy là mẫu số chung của nhiều phận người miền Tây thời hậu chiến: ly tán, nghèo khổ, tha hương.
Kết lại, qua Phi và ông Sáu Đèo, Nguyễn Ngọc Tư cho ta thấy con người Nam Bộ vừa mạnh mẽ vừa mong manh. Họ phóng khoáng, nghĩa khí, sống hết lòng với người khác nhưng lại hay chịu phần thiệt về mình. Họ có thể “lôi thôi” bề ngoài, “bậy bạ” trong phút nóng giận, nhưng tận cùng vẫn là khát vọng được yêu thương, được tha thứ. Chất Nam Bộ không nằm ở giọng nói hay chiếc áo bà ba, mà nằm ở cách người ta đối đãi với nhau giữa cuộc đời nổi nênh như con nước lớn ròng. Đó là điều làm cho trang văn Nguyễn Ngọc Tư cứ đau đáu mãi trong lòng người đọc.
Dựa vào ngữ liệu bạn đưa, mình trả lời từng câu nhé:
Câu 1. kiểu văn bản của ngữ liệu trên :là văn bản thông tin.
Câu 2. một số hình ảnh, chi tiết cho thấy cách giao thương, mua bán thú vị trên chợ nổi :
Phương tiện họp chợ: Người mua kẻ bán đều dùng xuồng, ghe. Ngày xưa là xuồng ba lá, xuồng năm lá, ghe tam bản. Nay có cả tắc ráng, ghe máy.
Kỹ năng đi lại: “Những chiếc xuồng con len lỏi khéo léo giữa hàng trăm ghe thuyền mà hiếm khi có va quệt”.
Mặt hàng phong phú: Từ trái cây, rau củ, bông kiểng, hàng thủ công, thực phẩm đến “lớn như cái xuồng, cái ghe, nhỏ như cây kim, sợi chỉ đều có bán”.
Cách “bẹo hàng” độc đáo:
- Dùng “cây bẹo” treo trái khóm, củ sắn, chùm chôm chôm, nhãn, vú sữa… cho khách thấy từ xa.
- Buộc sào ngang để treo nhiều mặt hàng hơn.
- Treo tấm lá lợp nhà để rao bán cả chiếc ghe.
- “Bẹo” bằng âm thanh: kèn bấm tay, kèn đạp chân.
- “Bẹo” bằng lời rao lảnh lót: “Ai ăn chè đậu đen, nước dừa đường cát hôn...? Ai ăn bánh bò hôn...?”
Câu 3. Tác dụng của việc sử dụng tên các địa danh trong văn bản :
Tạo tính xác thực: Các tên như Cái Bè - Tiền Giang, Cái Răng - Phong Điền - Cần Thơ, Ngã Bảy - Hậu Giang, Ngã Năm - Sóc Trăng, Sông Trẹm - Cà Mau… giúp người đọc biết rõ chợ nổi tồn tại ở đâu, không phải hư cấu.
Cho thấy sự phổ biến, đặc trưng vùng miền: Liệt kê nhiều địa danh khẳng định chợ nổi là nét văn hóa đặc thù trải khắp Đồng bằng sông Cửu Long, không riêng một tỉnh.
Gợi hình dung về không gian sông nước: Mỗi địa danh gắn với một dòng sông, con rạch, giúp người đọc mường tượng được bức tranh giao thương chằng chịt của miền Tây.
Câu 4. Tác dụng của phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ trong văn bản là :
Phương tiện phi ngôn ngữ ở đây là “cây bẹo” và âm thanh kèn. Tác dụng:
Khắc phục hạn chế của sông nước: Chợ rộng, ghe đông, tiếng máy nổ ồn, không thể rao bằng miệng hết được. Treo hàng lên cao, dùng kèn giúp “nhìn từ xa”, “nghe từ xa” là biết bán gì.
Tạo nét văn hóa độc đáo: Biến việc mua bán thành một “ngôn ngữ riêng” của chợ nổi. Nhìn cây bẹo là hiểu, nghe tiếng kèn là biết ghe hàng dạo tới.
Tăng tính sinh động, hấp dẫn: Hình ảnh “những cột ăng-ten kì lạ di động giữa sông” vừa dân dã vừa thú vị, làm nổi bật bản sắc chợ nổi.
Câu 5. Suy nghĩ của em về vai trò của chợ nổi đối với đời sống người dân miền Tây .
Vai trò kinh tế: Là đầu mối tiêu thụ nông sản, trái cây, thủy sản tại chỗ. Người nông dân chở thẳng từ vườn ra ghe, bán không qua trung gian, giảm chi phí vận chuyển đường bộ.
Vai trò văn hóa - xã hội: Chợ nổi là “bảo tàng sống” của văn hóa sông nước. Cách “bẹo hàng”, tiếng rao, cách đi xuồng… đều là vốn sống được truyền qua nhiều thế hệ. Đây cũng là nơi gặp gỡ, trao đổi tin tức của bà con xóm ấp.
Vai trò du lịch: Ngày nay chợ nổi như Cái Răng, Cái Bè thành điểm đến hút khách trong - ngoài nước, giúp người dân có thêm thu nhập từ dịch vụ, đồng thời quảng bá hình ảnh miền Tây.
Thích nghi với tự nhiên: Chợ nổi ra đời từ hệ thống kênh rạch chằng chịt, thể hiện sự linh hoạt, thuận thiên của người miền Tây: lấy ghe làm nhà, lấy sông làm chợ.
Dù đường bộ phát triển, nhiều chợ nổi đã vơi dần, nhưng giá trị về kinh tế, văn hóa, bản sắc mà nó để lại vẫn rất lớn. Giữ chợ nổi là giữ một phần hồn của miền Tây.
Câu 1.
Mark Twain đã đánh thức trong mỗi người nỗi sợ mang tên “sự an toàn”. Con thuyền chỉ có ý nghĩa khi ra khơi, đời người chỉ đáng sống khi dám rời bến đỗ quen thuộc. “Tháo dây, nhổ neo” là lời kêu gọi hành động, là chấp nhận rủi ro để đổi lấy trải nghiệm, trưởng thành và không nuối tiếc. Hai mươi năm sau, ta thường không dằn vặt vì lần vấp ngã, mà day dứt vì những cơ hội đã bỏ qua: lời tỏ tình chưa dám nói, ước mơ bị gác lại, chuyến đi bị hoãn vì sợ thất bại. Sống an toàn tuyệt đối đồng nghĩa với đứng yên, mà đứng yên giữa dòng đời trôi chính là thụt lùi. Tất nhiên, “ra khơi” không phải liều lĩnh mù quáng, mà là dũng cảm có chuẩn bị, dám chịu trách nhiệm. Tuổi trẻ càng cần hiểu: thất bại dạy ta cách đứng dậy, còn chần chừ chỉ để lại câu “giá như”. Vì vậy, hãy sống để sau này ngoảnh lại, ta mỉm cười vì đã dám, chứ không thở dài vì đã không.
Câu 2.
Đọc _Trở về_ của Thạch Lam, người đọc không khỏi nhói lòng trước hình ảnh người mẹ tần tảo, giàu đức hi sinh. Bà hiện lên qua đôi mắt của Tâm là “bà cụ đã già đi nhiều, vẫn mặc bộ áo cũ kỹ”, dáng đi “thong thả và chậm hơn trước”. Thời gian và nỗi cô đơn đã bào mòn sức lực bà, nhưng không làm mòn tình thương con.
Trước hết, mẹ là biểu tượng của tình mẫu tử vị tha. Sáu năm xa con, bà chỉ nhận được tiền, không một lời hỏi thăm, vậy mà giây phút gặp lại, bà “ứa nước mắt”, lời đầu tiên là lo lắng: “Năm ngoái bác Cả lên tỉnh về bảo cậu ốm”. Bà không trách, không hờn, chỉ “âu yếm nhìn con, săn sóc hỏi”. Khi Tâm vội vã ra đi, bà vẫn “khẩn khoản”: “Cậu hãy ở đây ăn cơm đã”. Tình thương của bà lặng lẽ, bền bỉ như mái gianh xơ xác che chở một đời con.
Đồng thời, nhân vật người mẹ còn hiện thân cho kiếp người phụ nữ nghèo trong xã hội cũ: cam chịu, cô đơn. Chồng mất sớm, con đi xa, bà bầu bạn với “cái ẩm thấp hình như ở khắp tường lan xuống”. Niềm vui duy nhất là cô Trinh sang “làm giúp nhiều công việc”. Bà sống bằng kí ức và hy vọng mong manh con trở về. Hình ảnh “run run đỡ lấy gói bạc, rơm rớm nước mắt” vừa tủi thân vừa xót xa: đồng tiền không khỏa lấp được khoảng trống tình cảm mà Tâm vô tâm tạo ra.
Nghệ thuật của Thạch Lam là không miêu tả dài dòng mà để nhân vật tự bộc lộ qua chi tiết nhỏ: tiếng guốc, bộ áo cũ, cử chỉ run run. Giọng văn trữ tình, giàu cảm giác đã khắc họa thành công vẻ đẹp nhẫn nại, giàu đức hi sinh của người mẹ Việt Nam. Qua đó, nhà văn gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh về sự vô tâm của con cái trước tình thân.
Nhân vật người mẹ trong _Trở về_ vì thế không chỉ là một bà mẹ, mà còn là biểu tượng cho cội nguồn, cho bến đỗ. Và khi con người quay lưng với bến đỗ ấy, chính họ mới là kẻ bơ vơ nhất.
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính Phương thức biểu đạt chính của văn bản là *nghị luận*.
Câu 2. Hai lối sống con người từng trải qua.Tác giả nêu ra 2 lối sống đối lập:
-*Lối sống trì trệ, thụ động*: "Khước từ sự vận động", "Tìm quên trong những giấc ngủ vùi", "ngoan ngoãn bất động", "Bỏ quên những khát khao", "Bải hoải trong tháng ngày chật hẹp", "lịm trong đầm lầy", "muộn phiền quanh vách núi".
- *Lối sống vận động, khát khao*: Được thể hiện qua hình ảnh "sông phải chảy", "tuổi trẻ phải hướng ra biển rộng", "mỗi ngày ta phải bước đi", "tiếng gọi chảy đi sông ơi".
Câu 3. Tác dụng của biện pháp tu từ
Đoạn “Sông như đời người. Và sông phải chảy. Như tuổi trẻ phải hướng ra biển rộng.” sử dụng 2 biện pháp tu từ chính: *So sánh*”Sông như đời người", "Như tuổi trẻ phải hướng ra biển rộng" | Gợi sự tương đồng giữa quy luật của tự nhiên và quy luật đời người. Sông phải chảy ra biển thì đời người, đặc biệt là tuổi trẻ, cũng phải vận động, vươn ra thế giới rộng lớn để sống có ý nghĩa.
*Điệp cấu trúc* "Và sông phải chảy", "Như tuổi trẻ phải hướng ra..."
Nhấn mạnh tính tất yếu, không thể khác được của sự vận động. Tạo nhịp điệu thôi thúc, khẳng định mạnh mẽ rằng sống là phải đi, phải trải nghiệm. Giọng văn trở nên dứt khoát, giàu sức lay động.
→ Cả đoạn văn ngắn nhưng giàu sức gợi, khiến người đọc nhận ra: nếu không vận động thì đời người sẽ tù đọng như "đầm lầy", "hồ dài kì dị sống đời thực vật".
*Câu 4. Em hiểu về “tiếng gọi chảy đi sông ơi”*
“Tiếng gọi chảy đi sông ơi” là *tiếng gọi từ sâu thẳm bên trong mỗi con người*, là khát vọng sống, khát vọng được vận động, được cống hiến, được vươn tới những điều lớn lao.
Nó giống như bản năng của dòng sông là phải chảy ra biển, bản năng của tuổi trẻ là phải dấn thân, trải nghiệm, không chịu đứng yên. Khi ta “nghe” được tiếng gọi ấy tức là ta đã ý thức được lẽ sống của mình: không thể sống trì trệ, an phận, mà phải bước đi, phải hành động mỗi ngày để cuộc đời không vô nghĩa.
*Câu 5. Bài học rút ra*
*Bài học*: Tuổi trẻ không được sống thụ động, an phận, “khước từ vận động”. Phải dám bước đi, dám trải nghiệm nắng gió, dám theo đuổi khát khao để cuộc đời có ý nghĩa.
Vì quy luật tự nhiên cũng như đời người là “phải chảy”. Sông không chảy sẽ thành đầm lầy tù đọng, con người không vận động sẽ “bải hoải”, đánh mất tuổi trẻ.không chỉ có dấn thân, trải nghiệm ta mới trưởng thành, mới không phải sống một “dòng sông muộn phiền”, hối tiếc khi về già. Văn bản đã dùng hình ảnh đối lập “biển rộng” và “đầm lầy” để cảnh tỉnh chúng ta điều đó.