Nguyễn Hữu Tín
Giới thiệu về bản thân
Câu 1. Thông tin chính mà tác giả muốn chuyển tải qua văn bản là: cung cấp những hiểu biết cơ bản về bão như khái niệm, mắt bão, nguyên nhân hình thành và tác hại của bão đối với con người và đời sống. --- Câu 2. Bão là hiện tượng thời tiết cực đoan có gió mạnh, mưa lớn và sức tàn phá lớn. Mắt bão là vùng nằm ở trung tâm cơn bão, có thời tiết tương đối yên bình, gió yếu và trời quang hơn. --- Câu 3. a. Thành phần biệt lập trong câu là: “thì” (thành phần tình thái). b. Câu văn trên thuộc kiểu câu trần thuật. --- Câu 4. Trong phần Nguyên nhân hình thành bão, tác giả triển khai thông tin bằng cách giải thích kết hợp phân tích theo từng nguyên nhân: nguyên nhân chủ quan từ con người và nguyên nhân khách quan từ tự nhiên. Cách trình bày này giúp thông tin rõ ràng, logic, dễ hiểu và giúp người đọc nắm được quá trình hình thành bão cũng như vai trò của con người đối với biến đổi khí hậu. --- Câu 5. Phương tiện phi ngôn ngữ trong văn bản là hình ảnh mắt bão. Tác dụng: giúp người đọc hình dung trực quan về mắt bão, làm nội dung sinh động hơn, tăng tính hấp dẫn và hỗ trợ việc tiếp nhận thông tin dễ dàng hơn. --- Câu 6. Bão gây ra nhiều thiệt hại nghiêm trọng cho con người và môi trường. Theo em, để hạn chế ảnh hưởng của bão, mỗi người cần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, trồng nhiều cây xanh và giảm khí thải gây biến đổi khí hậu. Chúng ta cũng cần theo dõi dự báo thời tiết để chủ động phòng tránh thiên tai. Nhà nước và người dân nên gia cố nhà cửa, chuẩn bị lương thực và các vật dụng cần thiết khi mùa bão đến. Ngoài ra, cần tuyên truyền cho mọi người những kiến thức phòng chống thiên tai để giảm thiểu thiệt hại về người và của. Là học sinh, em sẽ tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường và giúp đỡ mọi người khi có thiên tai xảy ra.
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Pháp, Hoàng Trung Thông là một cây bút tiêu biểu với giọng thơ mộc mạc, chân thành và giàu cảm xúc. Bài thơ “Bộ đội về làng” được sáng tác trong thời kì kháng chiến chống Pháp đã khắc họa thành công tình quân dân gắn bó sâu nặng, đồng thời thể hiện niềm vui, niềm tự hào của nhân dân khi đón những người lính trở về. Qua đó, tác phẩm còn để lại nhiều dấu ấn nghệ thuật đặc sắc. Trước hết, bài thơ làm nổi bật chủ đề về tình cảm gắn bó thân thiết giữa bộ đội và nhân dân trong những năm tháng kháng chiến gian khổ. Hình ảnh bộ đội trở về làng được chào đón trong niềm vui rộn ràng của mọi người: “Các anh về Mái ấm nhà vui, Tiếng hát câu cười Rộn ràng xóm nhỏ.” Điệp ngữ “Các anh về” được lặp lại nhiều lần vừa nhấn mạnh sự xuất hiện của người lính, vừa gợi không khí náo nức, vui tươi khắp làng quê. Sự trở về của bộ đội không chỉ mang đến niềm vui cho từng gia đình mà còn làm bừng sáng cả “xóm nhỏ”. Tiếng hát, tiếng cười vang lên như xóa tan những tháng ngày chiến tranh vất vả. Không chỉ người lớn mà trẻ em trong làng cũng háo hức đón chào các anh bộ đội: “Tưng bừng trước ngõ, Lớp lớp đàn em hớn hở chạy theo sau.” Hình ảnh “lớp lớp đàn em” cho thấy sự yêu mến, ngưỡng mộ của trẻ nhỏ dành cho những người lính kháng chiến. Từ láy “hớn hở” diễn tả niềm vui hồn nhiên, trong trẻo của các em khi được gặp các anh bộ đội. Qua đó, người đọc cảm nhận được tình cảm quân dân gần gũi như người thân trong gia đình. Đặc biệt xúc động là hình ảnh người mẹ già: “Mẹ già bịn rịn áo nâu Vui đàn con ở rừng sâu mới về.” Người mẹ nông dân với chiếc “áo nâu” giản dị hiện lên thật chân chất, thân thương. Từ “bịn rịn” diễn tả tình cảm lưu luyến, xúc động của mẹ khi gặp lại những người lính sau bao ngày chiến đấu nơi rừng sâu. Bộ đội không chỉ là những người chiến sĩ mà còn được nhân dân coi như con em ruột thịt của mình. Điều đó cho thấy tình quân dân trong kháng chiến vô cùng sâu nặng và thiêng liêng. Bài thơ còn làm nổi bật vẻ đẹp của người dân làng quê Việt Nam: tuy nghèo khó nhưng giàu tình nghĩa. Tác giả viết: “Làng tôi nghèo Mái lá nhà tre.” Chỉ với vài nét phác họa giản dị, nhà thơ đã tái hiện cuộc sống thiếu thốn của người dân thời chiến. Thế nhưng, trong cái nghèo ấy vẫn ánh lên tấm lòng chân thành, hiếu khách: “Nhà lá đơn sơ Tấm lòng rộng mở Nồi cơm nấu dở Bát nước chè xanh” Những hình ảnh bình dị như “nồi cơm”, “bát nước chè xanh” mang đậm hồn quê Việt Nam. Đó là sự sẻ chia mộc mạc mà ấm áp của người dân dành cho bộ đội. Qua đó, tác giả ca ngợi nghĩa tình quân dân bền chặt – một sức mạnh lớn lao góp phần làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến. Không chỉ thành công về nội dung, bài thơ còn hấp dẫn bởi nhiều đặc sắc nghệ thuật tiêu biểu. Trước hết là thể thơ tự do với nhịp điệu linh hoạt, phù hợp để diễn tả không khí vui tươi, rộn ràng của ngày bộ đội trở về. Ngôn ngữ thơ giản dị, gần gũi, đậm chất đời sống nông thôn giúp bài thơ trở nên tự nhiên và dễ đi vào lòng người. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng hiệu quả các biện pháp nghệ thuật như điệp ngữ, từ láy và hình ảnh giàu sức gợi. Điệp ngữ “Các anh về” tạo âm hưởng tha thiết, nhấn mạnh niềm vui đoàn tụ. Các từ láy như “rộn ràng”, “tưng bừng”, “hớn hở”, “xôn xao” góp phần làm hiện lên không khí náo nức khắp làng quê. Hình ảnh thơ bình dị mà giàu cảm xúc đã khắc họa chân thực tình người trong kháng chiến. Tóm lại, “Bộ đội về làng” là bài thơ giàu giá trị nội dung và nghệ thuật của Hoàng Trung Thông. Tác phẩm đã ca ngợi tình quân dân gắn bó, thắm thiết trong thời kì kháng chiến chống Pháp, đồng thời thể hiện vẻ đẹp mộc mạc, nghĩa tình của người dân Việt Nam. Với giọng thơ chân thành, hình ảnh gần gũi và cảm xúc tha thiết, bài thơ vẫn để lại nhiều rung động đẹp trong lòng người đọc hôm nay.
C1:Bài thơ “Mùa cỏ nở hoa” đã để lại trong em nhiều cảm xúc sâu lắng và xúc động. Qua hình ảnh những ngọn cỏ nhỏ bé nhưng luôn xanh tươi, em cảm nhận được tình mẫu tử thiêng liêng, dịu dàng mà người mẹ dành cho con. Người mẹ trong bài thơ không mong con phải trở nên thật lớn lao hay vĩ đại, mà chỉ mong con được sống hồn nhiên, mạnh mẽ và mang đến những điều tốt đẹp cho cuộc đời. Những câu thơ nhẹ nhàng nhưng chan chứa yêu thương khiến em nhớ đến sự hi sinh thầm lặng của mẹ trong cuộc sống hằng ngày. Mẹ luôn âm thầm chăm sóc, che chở và mong con khôn lớn nên người giống như đất mẹ hiền hòa nuôi dưỡng cỏ xanh. Đọc bài thơ, em càng thêm yêu quý và biết ơn mẹ của mình hơn. Em hiểu rằng tình mẹ bao la như thiên nhiên, luôn nâng đỡ con trên mọi chặng đường. Bài thơ không chỉ ca ngợi vẻ đẹp của cỏ mà còn gợi nhắc mỗi người phải biết trân trọng tình cảm gia đình và sống yêu thương hơn mỗi ngày.
C2: Trong cuộc sống, tình mẫu tử và tình cảm gia đình luôn là những điều thiêng liêng, cao quý nhất. Bài thơ “Mùa cỏ nở hoa” đã gợi lên vẻ đẹp dịu dàng, bền bỉ của tình mẹ dành cho con. Thế nhưng, đáng buồn thay, trong xã hội hiện nay vẫn có nhiều người sống vô tâm, thờ ơ và không biết trân trọng cha mẹ của mình.Cha mẹ là những người đã sinh thành, nuôi dưỡng và hi sinh cả cuộc đời vì con cái. Từ khi con còn nhỏ, cha mẹ luôn chăm sóc từng bữa ăn, giấc ngủ, dành cho con những điều tốt đẹp nhất mà không mong được đáp trả. Tuy nhiên, hiện nay có không ít người con xem sự hi sinh ấy là điều hiển nhiên. Họ chỉ quan tâm đến bản thân, mải mê với công việc, bạn bè hay thế giới riêng mà quên đi cảm xúc của cha mẹ. Có người còn cãi lời, hỗn láo, làm cha mẹ buồn lòng; thậm chí khi cha mẹ già yếu lại bỏ mặc, không chăm sóc. Đây là biểu hiện của lối sống ích kỉ và thiếu lòng biết ơn. Nguyên nhân của thực trạng ấy xuất phát từ nhiều phía. Một số người được nuông chiều từ nhỏ nên hình thành thói quen chỉ biết nhận mà không biết cho đi. Bên cạnh đó, sự phát triển của xã hội hiện đại khiến nhiều người chạy theo vật chất, sống vội vàng nên dần quên đi giá trị của tình thân. Ngoài ra, việc giáo dục đạo đức trong gia đình và nhà trường đôi khi còn chưa được quan tâm đúng mức.Sống vô tâm với cha mẹ sẽ để lại những hậu quả đáng buồn. Cha mẹ sẽ cảm thấy cô đơn, tủi thân và đau lòng khi chính con cái của mình lạnh nhạt. Về phía người con, nếu không biết yêu thương và kính trọng cha mẹ thì khó có thể sống tốt đẹp, được mọi người yêu quý. Đến khi mất đi cha mẹ, họ sẽ cảm thấy hối hận nhưng không còn cơ hội bù đắp nữa. Vì vậy, mỗi người cần biết yêu thương, kính trọng và quan tâm đến cha mẹ từ những điều nhỏ nhất như lễ phép, chăm ngoan, giúp đỡ việc nhà hay dành thời gian trò chuyện cùng cha mẹ. Tình cảm gia đình là điều quý giá mà không gì có thể thay thế được. Biết trân trọng cha mẹ chính là biểu hiện của lòng biết ơn và nhân cách tốt đẹp của mỗi con người.
C1: thể thơ tự do.
C2: là " tôi".
c3:pbtt :- nhân hoá.
- tác dụng : Biện pháp nhân hoá còn giúp làm nổi bật vẻ đẹp tràn đầy sức sống của thiên nhiên, tạo nên không khí êm đềm, tươi mới và giàu cảm xúc.
C4: luôn hồn nhiên, trong sáng, lớn lên bình yên và vui tươi
trở thành người tốt đẹp, có ích, mang sức sống và điều tốt lành đến cho cuộc đời như “cỏ xanh” phủ kín đất mẹ.
C5:Để gìn giữ và vun đắp tình mẫu tử thiêng liêng, em cần luôn yêu thương, kính trọng và biết ơn mẹ. Em sẽ chăm ngoan, cố gắng học tập tốt để mẹ vui lòng. Ngoài ra, em nên quan tâm đến mẹ bằng những việc nhỏ như giúp mẹ làm việc nhà, hỏi han khi mẹ mệt và lắng nghe mẹ nhiều hơn. Em cũng cần lễ phép, không cãi lời hay làm mẹ buồn. Vào những dịp đặc biệt, em có thể dành cho mẹ những lời chúc hoặc món quà nhỏ để thể hiện tình cảm của mình. Những việc làm giản dị ấy sẽ giúp tình mẹ con ngày càng gắn bó, bền chặt hơn.
Một số biện pháp tăng năng suất hệ sinh thái nông nghiệp mà không gây ô nhiễm môi trường: Sử dụng phân hữu cơ, phân vi sinh thay cho lạm dụng phân hóa học. Áp dụng biện pháp phòng trừ sâu bệnh sinh học, hạn chế thuốc bảo vệ thực vật hóa học. Luân canh, xen canh nhiều loại cây trồng để cải tạo đất và giảm sâu bệnh. Chọn giống cây, vật nuôi có năng suất cao và phù hợp điều kiện địa phương. Tưới tiêu hợp lí, tiết kiệm nước. Trồng cây bảo vệ đất, chống xói mòn và giữ độ màu mỡ của đất. Tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để làm phân bón hoặc thức ăn chăn nuôi. Bảo vệ các sinh vật có ích như ong thụ phấn, thiên địch bắt sâu hại. Ứng dụng kĩ thuật canh tác sạch, nông nghiệp hữu cơ.
a. Những nguyên nhân dẫn đến tật cận thị Tật cận thị có thể do: Đọc sách, học bài hoặc dùng điện thoại, máy tính quá gần mắt. Học tập, đọc sách ở nơi thiếu ánh sáng. Ngồi sai tư thế khi học. Làm việc với mắt quá lâu, không cho mắt nghỉ ngơi. Xem tivi, điện thoại trong thời gian dài. Yếu tố di truyền: bố mẹ bị cận thì con dễ bị cận hơn. Chế độ dinh dưỡng thiếu vitamin A và các chất tốt cho mắt. --- b. Biện pháp phòng chống tật cận thị Ngồi học đúng tư thế, giữ khoảng cách mắt với sách khoảng 25–30 cm. Học tập và đọc sách nơi đủ ánh sáng. Không sử dụng điện thoại, máy tính quá lâu. Cho mắt nghỉ ngơi sau mỗi thời gian học tập. Không đọc sách khi nằm hoặc trên xe đang chạy. Ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng, đặc biệt vitamin A. Tập thể dục và hoạt động ngoài trời hợp lí. Khám mắt định kì để phát hiện sớm và điều chỉnh kịp thời.
Diện tích hồ: 15 \text{ ha} Cá chỉ sống ở các đám sậy chiếm: \frac14 \times 15 = 3{,}75 \text{ ha} Số lượng cá thu được: 915 con. a. Xác định mật độ quần thể Mật độ quần thể: \text{Mật độ} = \frac{\text{Số lượng cá thể}}{\text{Diện tích phân bố}} = \frac{915}{3{,}75} = 244 → Mật độ quần thể cá trắm cỏ là: 244 \text{ con/ha} --- b. Kiểu phân bố của cá trắm cỏ Cá trắm cỏ có kiểu phân bố theo nhóm. Giải thích: Các cá thể không sống đều khắp hồ mà chỉ tập trung ở những đám sậy tản mát — nơi có điều kiện sống thích hợp như thức ăn, nơi trú ẩn và sinh sản.
a. Các nguyên nhân gây mất cân bằng tự nhiên Mất cân bằng tự nhiên có thể do: Thiên tai: bão, lũ lụt, hạn hán, cháy rừng, động đất, núi lửa,… Biến đổi khí hậu làm thay đổi môi trường sống của sinh vật. Ô nhiễm môi trường: ô nhiễm nước, không khí, đất. Khai thác tài nguyên quá mức: chặt phá rừng, săn bắt động vật, đánh bắt thủy sản bừa bãi. Dùng nhiều hóa chất trong nông nghiệp như thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ. Du nhập sinh vật ngoại lai gây hại. Gia tăng dân số và đô thị hóa làm thu hẹp môi trường sống của sinh vật. b. Nguyên nhân tác động mạnh nhất ở Việt Nam Ở Việt Nam, nguyên nhân tác động mạnh nhất gây mất cân bằng tự nhiên là hoạt động của con người, đặc biệt là: Chặt phá và đốt rừng. Khai thác tài nguyên thiên nhiên quá mức. Ô nhiễm môi trường. Những hoạt động này làm suy giảm đa dạng sinh học, mất nơi sống của sinh vật và ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái.
Tiêu chí phân biệt Quần thể sinh vật Quần xã sinh vật Thành phần loài Gồm các cá thể của cùng một loài Gồm nhiều quần thể của các loài khác nhau Đặc trưng cơ bản Mật độ cá thể, tỉ lệ giới tính, thành phần nhóm tuổi,… Độ đa dạng, độ nhiều, loài ưu thế, loài đặc trưng,… Các mối quan hệ Chủ yếu là quan hệ giữa các cá thể cùng loài: hỗ trợ, cạnh tranh Quan hệ giữa các loài khác nhau: hỗ trợ, đối địch, cộng sinh, kí sinh, vật ăn thịt – con mồi,… Ví dụ Một đàn cá chép trong ao Một ao gồm cá, tôm, cua, rong, tảo, vi sinh vật,…
Dựa vào nguyên tắc: Máu có kháng nguyên A sẽ bị ngưng kết với kháng thể α (anti-A). Máu có kháng nguyên B sẽ bị ngưng kết với kháng thể β (anti-B). Ta có: Người Với α (anti-A) Với β (anti-B) Nhóm máu Người 1 Ngưng kết Ngưng kết AB Người 2 Không ngưng kết Ngưng kết B Người 3 Ngưng kết Không ngưng kết A Người 4 Không ngưng kết Không ngưng kết O a. Xác định nhóm máu Người 1: nhóm máu AB Người 2: nhóm máu B Người 3: nhóm máu A Người 4: nhóm máu O b. Người thứ 4 có thể truyền máu cho ai? Giải thích Người thứ 4 có nhóm máu O nên hồng cầu không có kháng nguyên A và B. Vì vậy máu của người nhóm O không bị kháng thể của các nhóm máu khác gây ngưng kết. → Người thứ 4 có thể truyền máu cho cả: Người 1 (AB) Người 2 (B) Người 3 (A) Ngoài ra cũng truyền được cho người nhóm O khác.