Quách Tường Vy

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Quách Tường Vy
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Văn bản được viết theo thể thơ song thất lục bát

Câu 2:

Dòng thơ thể hiện sự mong mỏi, ngóng trông tin chồng của người chinh phụ là:

“Trải mấy xuân tin đi tin lại,

Tới xuân này tin hãy vắng không.”


Câu 3:

Nghĩ về người chồng đang chiến đấu nơi xa, người chinh phụ lúc nào cũng hướng trọn tâm hồn về chồng. Nàng nghe hơi sương đã sắm áo bông để phòng khi chồng trở về lạnh giá, trông thấy cánh nhạn bay liền tưởng là thư chồng gửi, rồi gieo quẻ bói tiền để cầu mong có tin lành. Trong không gian vắng lặng, nàng dạo bước nơi hiên vắng, ngồi sau rèm thưa mong chờ tin tức. Những hành động ấy cho thấy nỗi nhớ thương da diết, khắc khoải của người vợ xa chồng, đồng thời thể hiện tấm lòng thuỷ chung, tình yêu chân thành và sự gắn bó sâu sắc của người phụ nữ trong thời chiến.


Câu 4:

Câu thơ “Đèn có biết dường bằng chẳng biết, / Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.” sử dụng biện pháp tu từ nhân hoá, khi ngọn đèn được xem như một người bạn tâm tình cùng chia sẻ nỗi cô đơn với người chinh phụ. Biện pháp này có tác dụng làm nổi bật tâm trạng trống trải, buồn tủi của người phụ nữ trong cảnh phòng không chiếc bóng. Hình ảnh ngọn đèn vừa thực vừa tượng trưng, gợi cảm giác đêm dài, cô độc, qua đó diễn tả sâu sắc nỗi buồn thương và sự cô đơn đến tột cùng của người chinh phụ khi phải sống xa chồng. Nội dung đoạn thơ thể hiện niềm đau đớn, cô quạnh và sự khao khát được đoàn tụ, được sẻ chia tình cảm.


Câu 5:

Trong văn bản này, người chinh phụ thể hiện tâm trạng cô đơn, nhớ nhung, buồn tủi và khắc khoải chờ chồng trong vô vọng. Qua tâm trạng ấy, em càng thấm thía hơn giá trị của cuộc sống hoà bình hôm nay. Hoà bình giúp con người được sống trong yên ổn, được đoàn tụ bên người thân, không còn cảnh chia ly, mất mát vì chiến tranh. Nhờ đó, ta càng biết trân trọng những giây phút bình yên, hạnh phúc và biết ơn những thế hệ đi trước đã hi sinh để đem lại cuộc sống tốt đẹp này.

Câu 1.

Trong đoạn trích Chinh phụ ngâm, người chinh phụ hiện lên với tâm trạng cô đơn, buồn tủi và nhớ thương da diết. Khi chồng ra chiến trận, nàng ở lại nơi khuê phòng, ngày đêm ngóng trông tin tức. Cánh nhạn bay qua khiến nàng tưởng là thư chồng gửi về, nghe hơi sương lại lo sắm áo bông cho chồng, rồi gieo quẻ bói tin, dạo hiên vắng, ngồi rèm thưa mà mong ngóng. Những hành động ấy thể hiện tình yêu sâu sắc, lòng thuỷ chung son sắt và sự gắn bó trọn vẹn của người vợ với chồng nơi biên ải. Tuy nhiên, ẩn sau tình yêu ấy là nỗi đau khổ tột cùng khi phải sống cô quạnh trong cảnh chia ly. Câu thơ “Đèn có biết dường bằng chẳng biết, / Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi” gợi hình ảnh người phụ nữ lặng lẽ trong đêm dài, chỉ có ngọn đèn làm bạn. Nhân vật người chinh phụ vì thế trở thành biểu tượng cho nỗi cô đơn và khát vọng hạnh phúc, đồng thời thể hiện tiếng nói cảm thương sâu sắc cho số phận người phụ nữ trong thời chiến.

Câu 2. Bài làm

Trong lịch sử nhân loại, chiến tranh luôn là nỗi ám ảnh không thể xoá nhòa. Dù được khắc họa qua những trang sử hay những tác phẩm văn học, chiến tranh vẫn hiện lên như một cơn ác mộng bao trùm lên thân phận con người. Khi đọc Chinh phụ ngâm, ta cảm nhận sâu sắc nỗi cô đơn, thương nhớ và tuyệt vọng của người vợ có chồng ra trận. Từ đó, ta càng thấu hiểu hơn những mất mát, đau thương mà chiến tranh để lại, cũng như thấy rõ trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay trong việc gìn giữ và trân trọng cuộc sống hoà bình.


Chiến tranh là những cuộc xung đột vũ trang giữa các quốc gia, các lực lượng chính trị – xã hội, nhằm tranh giành lãnh thổ, quyền lợi hoặc quyền lực. Nơi nào có chiến tranh, nơi đó có chết chóc, chia ly và đổ nát. Sự mất mát và đau thương do chiến tranh không chỉ nằm ở những xác người ngã xuống mà còn ở những trái tim bị tổn thương, những mái nhà tan vỡ, những tuổi xuân bị vùi dập trong khói lửa. Trong Chinh phụ ngâm, hình ảnh người chinh phụ đợi chồng giữa đêm khuya, chỉ còn ngọn đèn làm bạn, là biểu tượng cho hàng vạn số phận cô đơn trong chiến tranh – những người ở lại sống bằng nỗi nhớ thương, bằng hi vọng mong manh giữa tuyệt vọng dài lâu.Thực tế lịch sử nhân loại đã chứng minh chiến tranh để lại những hậu quả khôn lường. Hai cuộc chiến tranh thế giới trong thế kỷ XX đã cướp đi hàng trăm triệu sinh mạng, khiến hàng trăm thành phố bị tàn phá, và gieo rắc đau thương cho vô số thế hệ. Việt Nam ta cũng đã từng trải qua những cuộc chiến dài hàng chục năm. Biết bao thanh niên ra đi “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” mà không có ngày trở lại; biết bao bà mẹ, người vợ, đứa con mỏi mòn ngóng chờ. Ngay cả khi bom đạn ngừng rơi, hậu quả chiến tranh vẫn còn đó: thương binh, chất độc da cam, đất đai ô nhiễm, tâm hồn con người bị ám ảnh bởi ký ức mất mát.


Nguyên nhân của chiến tranh thường bắt nguồn từ lòng tham và sự ích kỷ của con người: tham lam lãnh thổ, quyền lực, tiền tài, muốn áp đặt tư tưởng và lợi ích của mình lên người khác. Khi con người đánh mất lòng nhân ái, khi sự hận thù và tham vọng lấn át lý trí, chiến tranh sẽ nổ ra. Đó là bi kịch của loài người – khi chính con người trở thành kẻ thù của nhau.


Để khắc phục và ngăn chặn những thảm kịch ấy, giải pháp quan trọng nhất là nuôi dưỡng tinh thần nhân đạo, yêu thương và tôn trọng lẫn nhau. Các quốc gia cần đối thoại, hợp tác và cùng nhau phát triển thay vì dùng vũ lực. Mỗi cá nhân, đặc biệt là thế hệ trẻ, phải nhận thức rõ giá trị của hoà bình. Chúng ta cần biết ơn thế hệ cha anh đã hi sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, đồng thời sống tích cực, học tập, lao động và rèn luyện để góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh. Giữ gìn hoà bình không chỉ là tránh xa chiến tranh, mà còn là sống tử tế, không gây tổn thương, chia rẽ trong cộng đồng, biết yêu thương, sẻ chia và cùng nhau hướng tới tương lai tốt đẹp.


Bài học nhận thức và hành động đặt ra cho mỗi người trẻ hôm nay là phải biết trân trọng từng giây phút bình yên đang có. Hoà bình không tự nhiên mà có – đó là kết quả của biết bao năm tháng đấu tranh, hi sinh của cha ông. Vì thế, ta phải sống có trách nhiệm hơn với bản thân, với xã hội; biết yêu thương con người, tôn trọng sự sống, đoàn kết và giúp đỡ nhau.

Chiến tranh là bóng tối phủ lên nhân loại, còn hoà bình là ánh sáng của sự sống và hi vọng. Khi hiểu rõ những mất mát mà chiến tranh đem lại, ta càng trân quý hơn giá trị của hoà bình. Là thế hệ trẻ, chúng ta cần biến lòng biết ơn thành hành động cụ thể: học tập tốt, sống nhân hậu, lan toả tinh thần yêu thương và cùng nhau bảo vệ thế giới này khỏi những mầm mống của bạo lực và hận thù. Bởi chỉ khi giữ vững được hoà bình, con người mới thật sự được sống trọn vẹn trong niềm hạnh phúc, tự do và tình yêu thương.

Câu 1

Chiến tranh không chỉ lấy đi máu xương của bao người anh hùng mà còn để lại trong từng mái ấm nỗi đau chia biệt. Trong hoàn cảnh ấy, có những người cha chỉ biết thuơng nhớ, gửi tình yêu vào tấm áo nhỏ dành cho con. Bài thơ " Chim thêu" của Nguyễn Bính ra đời như một tiếng lòng tha thiết, vừa chan chứa nỗi nhớ con, vừa khát khao một ngày hòa bình để cha con lại được gặp nhau. Ba khổ thơ cuối của bài thơ là những dòng xúc động, thể hiện nỗi nhớ thuơng và khát vọng đoàn tụ. Hình ảnh " Ba ôm tấm áo xanh giữa ngực" gợi ra cảm giác trống vắng, day dứt, bởi chiếc áo nhỏ bé trở thành kỉ vật để cha gửi gắm tình yêu thương. Đoi mắt trẻ thơ ngây tròn và tiếng "chim non gọi đàn" lain gợi lên niềm khát khao đoàn tụ, sự quấn quýt ấm áp của gia đình. Từ nỗi nhớ, người cha treo áo bên bàn viết và biến nó thành ngồn cảm hứng để sáng tạo nên bài thơ này. Và khổ thơ cuối, lời dặn dò đầy thuơng nhớ đã cất lên: áo chưa gửi được thì giữ lại, chờ ngày đất nước hòa bình mới đem trao tận tay con. Nỗi buồn chia ly hòa cùng niềm tin son sắt đã tạo nên âm hưởng vừa xúc động vừa lạc quan, để ba khổ cuối trở thành khúc ca chan chứa tình phụ tử và khát vọng đoàn tụ

Câu 2

Trong cuộc đời mỗi con người, tình yêu thuơng của cha mẹ luôn là nguồn sức mạnh lớn lao, giúp ta vượt qua khó khăn và hướng đến những giá trị tốt đẹp. Thế nhưng tình thuơng ấy không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với việc thoải mái, bởi đôi khi nó có thể trở thành sức ép vô hình đối với con trẻ. Chính vì vậy ý kiến "Tình yêu thương của cha mẹ có thể là động lực nhưng cũng có thể là áp lực cho con cái" đã khiến chúng ta phải suy ngẫm sâu sắc.

Trước hết, cần hiểu rõ ý nghĩa của câu nói. Động lực là sức mạnh tinh thần tích cực, giúp con người phấn đấu vươn lên. Ngược lại, áp lực là sức ép, sự gò bó khiến con người cảm thấy mệt mỏi, căng thẳng. Ý kiến trên khẳng định: tình thuơng của cha mẹ nếu đặt đúng cách sẽ là động lực, nhưng nếu thể hiện sai cách có thể trở thành áp lực đè nặng lên tâm hồn con cái.

Trong thực tế cuộc sống, ta có thể dễ dàng gặp cả hai khía cạnh này. Rất nhiều cha mẹ luôn quan tâm, động viên, đồng hành cùng con học tập và cuộc sống, nhờ đó con cái trưởng thành, gặt hái nhiều thành công. Song cũng không ít trường hợp cha mẹ vì quá yêu thương mà kì vọng thái quá, bắt con phải đạt điểm cao, chọn nghề theo ý muốn của gia đình, từ đó khiến con mệt mỏi, chán nản và đánh mất niềm vui sống

Nguyên nhân của thực trạng ấy xuất phát từ tình thuơng chân thành, mong muốn con được hạnh phúc, thành đạt. Tuy nhiên, một số cha mẹ chưa thật sự thấu hiểu, chưa lắng nghe tâm tư con, lại bin ảnh hưởng bởi tâm lí sính thành tích của xã hội nen dễ dẫn đến sự áp đặt.

Hậu quả là nếu được yêu thuơng đúng cách, con cái sẽ có niềm tin, có nghị lực để nỗ lực hết mình và vươn tới thành công. Nhưng nếu tình thuơng biến thành sự áp đặt, con sẽ bị áp lự đè nén, mất đi sự hồn nhiên, tự tin, thậm chí rơi vào khủng hoảng tâm lí.

Để khắc phục cha mẹ cần thể hiện tình thuơng bằng sự thấu hiểu, đồng hành, tôn trọng ước mơ và khả năng riêng của con. Bản thân con cái cũng cần mạnh dạn chia sẻ, bày tỏ qaun điểm để cha mẹ cảm thông và định hướng phù hợp. Đồng thời, xã hội cũng cần hạn chế tư tưởng theo thành tích, tạo môi trường giáo dục lành mạnh để con trẻ phát triển tự do và toàn diện.

Từ đó, mỗi người cần rút ra bài học cho bản thân : với cha mẹ, cần yêu thương con bằng sự lắng nghe và thấu hiểu. Với con, cần biết trân trọng tình cảm của cha mẹ và biến nó thành động lực để trưởng thành. Bản thân mỗi học sinh chúng ta cũng phải học cách cân bằng, nỗ lực hết mình để không phụ lòng yêu thương mà cha mẹ đã dành cho mình.

Tóm lại tình yêu thuơng của cha mẹ chính là ngọn nguồn hạnh phúc và động lực lớn lao trong cuộc đời mỗi người con. Nhưng tình thương ấy chỉ thự sự có ý nghĩa khi nó là điểm tựa chở che, chứ không phải gánh nặng đè nén. Mỗi cha mẹ hãy biến tình yêu thành sức mạnh nâng đỡ, và mỗi người con cũng cần trân trọng, thấu hiểu tấm lòng cha mẹ để tình cảm ấy mãi mãi là nguồn động lực vững bền trên hành trình trưởng thành.

Câu 1

Bài "Chim Thêu " của nhà thơ Nguyễn Bính được viết theo thể thơ song thất lục bát

Câu 2

Nhân vật trữ tình trong bài thơ là người cha( người cha xa con)

Câu 3

Đề tài của văn bản là tình cảm gia đình trong cảnh đất nước còn chia cắt, đặc biệt là tình cha thuơng nhớ, lo lắng cho con cái.Bên cạnh đó chủ đề của bài " Chim thêu" còn bày tỏ về tình yêu thuơng tha thiết, nỗi nhớ nhung sâu đậm, sự gắn bó của tình phụ tử, đồng thời gửi gắm niềm tin và sự hi vọng về một ngày đất nước hòa bình, cha con có thể đoàn tụ với nhau

Câu 4

Trong bài thơ " Chim thêu" nhà thơ Nguyễn Bính có viết rằng

"Bâng khuâng cặp mắt đen tròn

Chất chiu vắng tiếng chim non gọi đàn.. "

Trong hai câu thơ trên, tác giả đã sử dụng rất thành công phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ giúp lời thơ thêm tăng sức gợi hình gợi cảm, để lại trong tim độc giả những dấu ấn vô hình. Hình ảnh "cặp mắt đen tròn" gợi lên đôi mắt ngây thơ, hồn nhiên, trong sáng của đứa con nhỏ. Còn "tiếng chim non gọi đàn" lại gợi liên tưởng đến khát vọng đoàn tụ, sự quấn quýt của tình thân gia đình. Với cách diễn đạt giàu hình tượng ấy không chỉ khắc họa nỗi nhớ thuơng con da diết trong lòng cha mà còn làm nổi bật sự trống vắng, đơn côi khi phải sống xa con cái. Bên cạnh những điều ấy, nó cũng gửi gắm niềm mong mỏi sum vầy, hy vọng một ngày hòa bình, để về đoàn tụ với gia đình, không chỉ vậy còn xen lẫn nỗi khát vọng của hòa bình của người cha cũng như người mẹ trong thời kì đất nước còn chia cắt.

Câu 5

Văn bản gợi cho em ấn tượng sâu sắc về tình phụ tử thiêng liêng, sâu đậm, giàu tình yêu và nỗi nhớ nhung da diết. Người cha không chỉ lo lắng cho cuộc sống của con mà còn gửi gắm niềm hi vọng vào một ngày hoàn bình, để con mình được sống một cách hồn nhiên, vô tư. Đó là tình cảm vừa dịu dàng, trìu mến, chân thành, lại còn tha thiết.