Vũ Gia Bảo

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Vũ Gia Bảo
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

câu1:Nhân vật người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm là hình ảnh tiêu biểu cho nỗi đau của người vợ có chồng ra trận trong thời loạn lạc. Qua từng câu thơ, nỗi cô đơn, buồn tủi và khao khát hạnh phúc lứa đôi hiện lên một cách sâu sắc. Chồng ra đi, người chinh phụ sống trong cảnh “phòng không”, lẻ loi, nhớ nhung da diết. Nàng không chỉ đau vì phải xa cách người thương mà còn vì nỗi lo lắng, thấp thỏm cho sự an nguy của chồng nơi chiến trường. Những hành động như “gảy đàn”, “thắp đèn”, “trông cửa” chỉ càng làm nổi bật nỗi nhớ và sự trống trải trong tâm hồn. Tâm trạng của nàng là sự giằng xé giữa bổn phận với đất nước và khát vọng hạnh phúc cá nhân. Thông qua hình ảnh người chinh phụ, tác giả không chỉ bày tỏ nỗi thương cảm với số phận người phụ nữ trong chiến tranh mà còn ngầm lên án những cuộc chiến phi nghĩa, đẩy con người vào cảnh chia lìa, đau khổ. Nhân vật người chinh phụ vì vậy trở thành biểu tượng cho nỗi đau thầm lặng và phẩm chất thủy chung của người phụ nữ xưa.

Câu2:

Bài làm

Đặng Trần Côn (chưa rõ năm sinh, năm mất) người làng Nhân Mục, tên nôm là làng Mộc, huyện Thanh Trì, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Ông sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII. về sáng tác, ngoài tác phẩm chính là Chinh phụ ngâm, ông còn làm thơ chữ Hán và viết một số bài phú chữ Hán. Theo các tài liệu lịch sử, đầu đời Lê Hiển Tông, có nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra quanh kinh thành Thăng Long. Triều đình cất quân đánh dẹp, nhiều trai tráng phải từ giã người thân ra trận. Đặng Trần Côn cảm động trước nỗi khổ đau mất mát của con người, nhất là những người vợ lính trong chiến tranh, đã viết Chinh phụ ngâm. Khúc ngâm này gồm 476 câu thơ làm theo thể trường đoản cú (câu thơ dài ngắn không đều nhau).

Tác phẩm đã được dịch ra chữ Nôm, và chưa biết ai là tác giả bản dịch hiện hành. Có người cho rằng đó là bản dịch của Đoàn Thị Điểm. Lại có người cho rằng Phan Huy Ích chính là dịch giả của Chinh phụ ngâm.

Đoạn trích dưới đây thuộc bản dịch hiện hành, viết về tình cảm và tâm trạng người chinh phụ phải sống cô đơn, mòn mỏi trong thời gian dài người chồng đi đánh trận, không có tin tức, không rõ ngày trở về.

Kể từ lúc tiễn chồng vào “cõi xa mưa gió” người chinh phụ trở về sống trong tình cảm đơn chiếc, lẻ loi. Ngày cũng như đêm, sau khi công việc đã yên mọi bề, người chinh phụ

Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước, 

Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen. 

Ngoài rèm thước chẳng mách tin, 

Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?

Bốn câu thơ song thất lục bát với vần điệu chặt chẽ, thăng trầm như những nốt nhạc buồn càng làm đậm thêm tình cảnh đơn chiếc, lẻ loi kia. Người trước có lúc sóng đôi vợ chồng thì nay “thầm gieo từng bước" dưới mái hiên vắng vẻ. Ngày nào bàn chuyện làm ăn cùng chồng bên cửa sổ thì nay buông xuống kéo lên nhiều lần mong ngóng nhưng chẳng thấy chim thước báo tin lành. Ngày thì như thế, còn đêm thì không ngủ được, một mình đối diện với ngọn đèn khuya. Tình cảnh của người chinh phụ quá lẻ loi, đơn chiếc. Ngày thì khắc khoải chờ mong. Đêm dài câm lặng, biết riêng lòng mình, Hoa đèn kia dẫu sao còn lửa. Riêng lòng này với bóng lạnh lùng.

Khắc giờ đằng đẵng như niên, 

Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa. 

Hai câu lục bát, một câu miêu tả thời gian, một câu miêu tả nỗi buồn. Cả hai câu đều mang nghệ thuật so sánh. Trong tình cảnh lẻ loi ấy thì một giờ là đợi dài tựa một năm, như người xưa thường ví “Nhất nhật bất kiến như tam thu hề", ngày sau này Xuân Quỳnh tâm sự “Một ngày không gặp nhau / Biển bạc đầu thương nhớ” Thời gian chờ đợi càng dài thì nỗi sầu càng lớn "tựa miền biển xa”. Tình cảnh đã bước qua tâm trạng. Đấy là tâm trạng nhớ thương của người chinh phụ gửi tới chồng ở miền xa. Nỗi nhớ thương thật tha thiết.

Lòng này gửi gió đông có tiện?

Nghìn vàng xin gửi đến non Yên

Non Yên dù chẳng tới miền, 

Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời. 

Bốn câu thơ trên là lời tâm sự của vợ gửi đến chồng. Nhưng chim thước không có để nhờ mang thư đi. Vậy thì gửi lời nhớ thương theo gió. Nhưng gửi theo gió đông thì gió có mang lời thủ thỉ đến được tai chàng? Biết chàng đang ở nơi nào ngoài mặt trận? Thôi thì lòng thương quý chàng xin được gửi đến nơi xa nhất mà chàng tới như Đậu Hiến đời Hậu Hán đánh đuổi giặc Bắc Thiền Vu đến núi Yên Nhiên, bởi vì:

“Nay Hán xuống Bạch Thành đóng lại, 

Mai Hồ vào Thanh Hải dòm qua. ”

Đời chiến binh là như thế, là “ôm yên, gối trống đã chôn, / Năm vùng cát trắng ngủ cồn rêu xanh”, chưa kể đời chiến binh mấy người đi trở lại. Tình thương, nỗi nhớ của nàng là như thế. Nhưng:

Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu, 

Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong. 

Cảnh buồn người thiết tha lòng, 

Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun. 

Dù là “Trời” thì Trời cũng khó mà hiểu thấu tình thương và nỗi nhớ da diết của người chinh phụ. Các từ láy “thăm thẳm, đau đáu” càng làm tăng thêm sự không hiểu biết, không thấy được của Trời, và chỉ có người trong cuộc (người chinh phụ) mới cảm nhận rõ lòng mình. Cảnh thì buồn, đến cả cây cỏ và tiếng côn trùng cũng não ruột. Còn tình thì da diết thiết tha.

Thể thơ song thất lục bát vốn thích hợp với tự sự, trong đoạn trích, bản dịch lại dùng phép so sánh, từ lặp và từ láy một cách tự nhiên càng làm tăng thêm giá trị nội dung.

Đọc đoạn trích người đọc cứ ngỡ ngàng rằng chỉ để miêu tả tình cảnh lẻ loi, thể hiện tâm trạng khát khao tình yêu của người chinh phụ. Nhưng nếu nghĩ sâu xa hơn thì đoạn trích bày tỏ sự oán ghét chiến tranh. Chiến tranh đã chia rẽ tình yêu, ngăn cách hạnh phúc lứa đôi của nhiều thế hệ, nhất là thế hệ trẻ, có lẽ vì thế mà tác phẩm đã được độc giả cùng thời hết sức tán thưởng. Nhiều người còn dịch Chinh phụ ngâm sang thơ Nôm (tức thơ tiếng Việt) để khúc ngâm được truyền bá rộng rãi hơn. Bản diễn Nôm hiện hành là bản dịch thành công nhất.

câu1: thể thơ của văn bản là song thất lục bát

câu 2 : dòng thơ thể hiện sự mong mỏi ngóng trông là : ngoài rèm,thước chẳng mắt tin,Trong rèm dường đã có đèn biết chăng.”

Câu 3:hành động của người chinh phụ và nhận xét là:

Hành động:Nàng dạo hiên vắng ngồi rèm thưa để rủ thác gieo bói tiền,tâm trạng ngẩn ngơ,bơ phờ.

Nhận xét: những hành động này cho thấy sự cô đơn,trống vắng và tâm trạng mòn mỏi sầu muộn của người chinh phụ.

Câu 4

trong bài thơ chinh phụ ngâm của tác giả Đặng Trần Côn đã sử dụng rất thành công biện pháp tu từ nhân hoá qua hình ảnh ‘Đèn có biết dường bằng chẳng biết’ biện pháp tu từ nhân hoá đã nhấn mạnh nỗi lòng cô đơn và bất lực của người chinh phụ.Nàng cảm thấy nỗi cô đơn quá lớn đến mức ngay cả ánh đèn ,một vật vô tri,cũng không thể thấu hiểu.Điều này làm tăng thêm sự bi thiết,bi luỵ của nàng.

Câu 5:tâm trạng và suy nghĩ về hoà bình là:

tâm trạng:Nỗi nhỡ nhung,cô đơn,sầu muộn,bi thiết trước cảnh chia lia do chiến tranh.

suy nghĩvề giá trị hoà bình : Qua tâm trạng của người chinh phụ ta thấy được giá trị to lớn của hoà bình đó là hạnh phúc được sum vầy,được sống trong bình yên không còn cảnh chia li,li biệt.Hoà bình là sự bảo toàn hạnh phúc lứa đôi tránh xa mọi đau khổ do chiến tranh gây ra.




KimCâu 1:Ba khổ thơ cuối văn bản ở phần đọc hiểu đã mở ra một không gian và một thời gian khác,tràn đầy niềm tin và hy vọng về tương lai.Hành động treo "treo áo con bên bàn làm việc" thể hiện sự trân trọng, nâng niu kỷ vật của người cha dành cho con. Chi tiết "nhìn chim thêu, ba viết thơ này" cho thấy chiếc áo không chỉ là vật kỷ niệm mà còn là nguồn cảm hứng, khơi gợi tình phụ tử thiêng liêng và nỗi nhớ con da diết. Lời hẹn "Áo không gửi được hôm nay, / Thì ba giữ lấy, mai ngày cho con" chứa đựng niềm tin vào một ngày mai tươi sáng, khi đất nước thống nhất, cha con sum vầy.

Câu 2

Bài làm

Cuộc đời mỗi con người không thể tách rời khỏi tình yêu thương của cha mẹ, thứ tình cảm thiêng liêng được vun đắp bằng cả tấm lòng. Tuy nhiên, giữa hai thái cực "động lực" và "áp lực" luôn tồn tại một ranh giới mong manh, phụ thuộc vào cách thức cha mẹ trao đi và con cái đón nhận.

Vậy động lực là gì? Theo em động lực được hiểu một cách đơn giản là:Động lực là sức mạnh nội tại bao gồm năng lượng, sự nhiệt huyết, đam mê và khát vọng, thúc đẩy cá nhân hành động để đạt được mục tiêu có ý nghĩa.Vậy còn áp lực là gì? Áp lực là:Áp lực cuộc sống là trạng thái căng thẳng, lo lắng mà con người trải qua khi đối mặt với những yêu cầu, thử thách hoặc trách nhiệm vượt quá khả năng đối phó của bản thân.

Tình yêu thương của cha mẹ là nguồn động lực mạnh mẽ khi thể hiện sự kỳ vọng phù hợp và sự tin tưởng vào năng lực của con, giúp con tự tin vươn lên. Tuy nhiên, nó trở thành nó trở thành áp lực khi cha mẹ đặt kỳ vọng quá cao, áp đặt ước mơ cá nhân, hoặc kiểm soát con cái quá mức, dẫn đến sự mệt mỏi, chán nản và mất tự do trong phát triển của con. 

Tình yêu thương của cha mẹ vừa có thể là động lực mạnh mẽ, giúp con tự tin vươn lên, vừa trở thành gánh nặng áp lực khi sự kỳ vọng vượt quá khả năng, làm con mệt mỏi, mất phương hướng và thậm chí ảnh hưởng đến sức khỏe tâm lý. Để cân bằng, cha mẹ cần thấu hiểu, tôn trọng, và tạo không gian phát triển cho con, trong khi con cái cần chia sẻ, khẳng định bản thân và đón nhận yêu thương một cách trưởng thành. 

Tình yêu thương của cha mẹ thực sự có thể là động lực nhưng cũng là áp lực, tùy thuộc vào cách thể hiện. Khi cha mẹ đặt kỳ vọng phù hợp, tôn trọng ước mơ của con và cùng con đồng hành, tình yêu ấy sẽ trở thành động lực to lớn giúp con trưởng thành. 

là động lực mạnh mẽ, tiếp sức con cái vượt qua khó khăn, vươn tới thành công, vừa có thể trở thành áp lực nặng nề nếu sự kỳ vọng của cha mẹ vượt quá khả năng, sự kiểm soát và áp đặt làm con cái mất tự do phát triển. Để tình yêu thương thực sự là nguồn sức mạnh, con cái cần thấu hiểu, chia sẻ và chủ động thể hiện bản thân, còn cha mẹ cần yêu thương một cách phù hợp, tôn trọng và đặt niềm tin vào con. 

Tình yêu thương của cha mẹ có thể là động lực nhưng cũng có thể là áp lực" nên khẳng định lại tính hai mặt của tình yêu thương này, đồng thời đưa ra giải pháp để tình yêu thương ấy thực sự là động lực, không gây áp lực, đó là sự thấu hiểu, sẻ chia, tôn trọng lẫn nhau giữa cha mẹ và con cái. 

Câu 1: bài thơ thuộc thể loại song thất lục bát

Câu 2: nhân vật chữ tình trong văn bản là : người cha

Câu 3:đề tài của văn bản là:tình phụ tử,chủ đề của văn bản là tình yêu thương,sự lo lắng và niềm hy vọng

Câu 4: trong bài thơ "chim thêu" của tác giả "Nguyễn Bính" tác giả đã sử dụng rất thành công biện pháp tự từ ẩn dụ qua hai câu thơ

"Bâng khuâng cặp mắt đen tròn

Chắt chiu vẳng tiếng chim non gọi đàn "

Biện pháp tự từ ẩn dụ đã làm cho câu thơ thêm tăng súc gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt.Biện pháp tự từ ẩn dụ giúp người đọc khắc hoạ nỗi nhớ thương, sự cô đơn và ước vọng đoàn viên đã diết của người xa sứ. Quá đó cho ta thấy tác giả đã nhấn mạnh tâm trạng nhớ thương , yêu thương và sự nâng niu của người cha dành cho con

Câu 5:Văn bản gợi về tình cảm của người cha với con gái là tình yêu thương sự hy sinh cao cả , sự chở che, dẫn dắt và niềm tự hào sâu sắc Cha luôn mong muốn mang đến cho con cuộc sống tốt đẹp,dạy con những bài học về cuộc sống,về cách làm người