Trần Như Ngọc Hồng

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Trần Như Ngọc Hồng
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

câu 1

Người chinh phụ trong đoạn trích hiện lên là hình ảnh tiêu biểu cho nỗi đau của người phụ nữ trong chiến tranh phong kiến. Khi chồng ra trận, nàng sống trong cô đơn, ngày ngày ngóng trông, gieo quẻ cầu tin, rủ rèm khép cửa, thân thể hao gầy vì thương nhớ. Những hành động ấy thể hiện tấm lòng thủy chung, son sắt và tình yêu sâu nặng dành cho chồng.

Nhưng đồng thời, đó cũng là tiếng nói tố cáo chiến tranh phi nghĩa, đã chia cắt hạnh phúc lứa đôi và khiến con người phải sống trong khổ đau, mong ngóng.

Hình ảnh người chinh phụ gợi cho người đọc niềm cảm thương sâu sắc và trân trọng trước tình nghĩa vợ chồng thủy chung, son sắt, đồng thời nhắc nhở chúng ta biết quý trọng cuộc sống hòa bình, nơi con người được sống trọn vẹn trong yêu thương và đoàn tụ.

Câu 1. Thể thơ: đoạn trích là văn bản thơ trữ tình (mang tính biểu cảm, bộc lộ cảm xúc, tâm trạng của người chinh phụ).


Câu 2. Dòng thơ thể hiện sự mong mỏi, ngóng trông: những câu miêu tả hành động ngóng trông, thao thức chờ tin chồng (ví dụ: những hình ảnh/ câu thơ nói đến việc “ngóng trông tin chồng”, thao thức chờ đợi). (Trong văn bản xuất hiện các hình ảnh cụ thể như gieo bối tiền để xem quẻ, rủ rèm… cho thấy nỗi mong chồng.)


Câu 3. Người chinh phụ đã làm những việc thể hiện nỗi nhớ và trung trinh: thường xuyên ngóng trông tin chồng, làm lễ gieo quẻ (gieo bối tiền) để cầu tin, thu mình trong nhà (rủ rèm), thân gầy hao mòn (xiêm thất) — những hành động ấy cho thấy lòng thủy chung, sự lo lắng, hy sinh và kiên nhẫn của người vợ trước nỗi chia ly. Đây là những hành động cao đẹp, gây cảm thương và kính trọng nơi người đọc.


Câu 4. Một biện pháp tu từ ấn tượng: nhân hóa (hoặc ẩn dụ/điệp ngữ, tùy câu cụ thể). Ví dụ, nhân hóa khi miêu tả cảnh vật hoặc hành động như “ngóng, trông” được nói như một “công việc” hàng ngày của người vợ — làm cho nỗi nhớ trở nên sống động, tăng tính biểu cảm, giúp người đọc dễ đồng cảm với nỗi cô đơn và khắc khoải của nhân vật.


Câu 5. Tâm trạng người chinh phụ: buồn thương, khắc khoải, nhớ thương và hy vọng mơ hồ. Từ tâm trạng ấy ta rút ra suy nghĩ về giá trị của hòa bình: cuộc sống hòa bình hiện nay thật quý giá — tránh cho con người cảnh chia ly, đau khổ; vì vậy mỗi người cần trân trọng, giữ gìn hòa bình để gia đình được sum họp, người sống được an toàn và hạnh phúc.

câu 1.

ba khổ thơ cuối khép lại bài thơ bằng cảm xúc nguyên vẹn của ng cha : hình ảnh “Treo áo con bên bàn làm việc,/ Nhìn chim thêu, ba viết thơ này” cho thấy hành động thường nhật nhưng chứa chan nỗi niềm, chiếc áo trở thành kỉ vật là vật chất chứa đựng tình cảm và hy vọng. Câu “áo không gửi đc hôm nay,/ thì ba giữ lấy, ngày mai cho con” thể hiện cả nỗi buồn vì hoàn cảnh ngăn trở lẫn quyết tâm giữ gìn để trao lại tương lai. Khổ cuối mở ra tầm nhìn lạc quan: “ Ngày mai ấy, nước non một khối, / Giở áo này, thấu nỗi niềm xưa” hình ảnh ng cha tin vào ngày hoà bình, tin rằng kỉ vật và nỗi niềm sẽ đc cảm nhận trọn vẹn. Hình ảnh “ Áo thêu chi trắng, tha hồi vui chơi” kết thúc bằng khung cảnh tươi sáng của tuổi thơ được trả lại, chuyển nỗi nhớ thành niềm tin và hy vọng. Như vậy, ba khổ thơ cuối vừa tả hành động, vừa biểu hiện nội tâm và kết lại bằng thông điệp lạc quan về tương lai.

Câu 1. Thể thơ của vă bản trên là thể thơ tự do

câu 2. Nhân vật trữ tình trong văn bản là người cha

câu 3 đề tài, chủ đề của văn bản nói về tình cảm gia đình. Cụ thể là tình yêu thương, nỗi nhớ và niềm hy vọng của người cha dành cho người con trong hoàn cảnh chiến tranh

câu 4. “buâng khuâng cặp mắt đen tròn,/ chắt chiu vẳng tiếng chim non gọi đàn.”

Ở hai dòng thơ trên tác giả đã sử dụng biện pháp nhân hoá và ẩn dụ hoán dụ “cặp mắt đen tròn” không chỉ miêu tả ngoại hình mà còn là biểu hiện của vẻ ngây thơ khắc sâu nỗi thương nhớ, “tiếng chim non gọi đàn” là hình ảnh gọi tuổi thơ cho ước mơ tương lai yên bình của con. Từ ngữ như “buâng khuâng”,”chắt chiu” diễn tả tâm trạng vừa xao xuyến vừa nâng niu, thể hiện cảm xúc tinh tế của ng cha vừa lo lắng vừa yêu thương, muốn giữ gìn làm kỉ vật nhỏ cho con. Ở hai dòng thơ thêm tacs giả Nguyễn Bính đã khiến cho cảm xúc của bài thơ nội tâm, chân thực, xúc động, khắc sâu hình ảnh người cha thương con và khát khao bình yên.

câu 5 văn bản gợi cho em những thứ ấn tượng về tình cảm cha con như: thương yêu sâu sắc, nâng niu, lo lắng, niềm trông ngóng, hy vọng và tin tưởng vào tương lai.