Lương Gia Bình
Giới thiệu về bản thân
Bài làm
"Cây khế" là câu chuyện cổ tích đầu tiên mà em được đọc và cũng là câu chuyện mà em yêu thích nhất trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam.
Câu chuyện kể về hai anh em trai trong một gia đình với tính cách hoàn toàn trái ngược nhau. Người anh lười biếng, tham lam, độc ác bao nhiêu, thì người em hiền lành, chăm chỉ, nhân hậu bấy nhiêu. Cũng vì tình cách đó, mà khi đứng trước cùng một lựa chọn, họ lại có những kết cục khác nhau. Khi cha già qua đời để lại gia sản, người anh đã cướp lấy tất cả, chỉ cho em một cây khế già và túp lều tranh rồi đuổi đi. Người em nhân hậu không trách anh, mà chấp nhận sống ở túp lều, ngày ngày đi làm thuê kiếm sống. Cây khế trong sân nhà người em năm đó đơm hoa kết quả chi chít khắp cành, thu hút một con chim thần đến ăn trái. Bánh xe định mệnh cũng từ đó bắt đầu xoay chuyển. Chim thần hứa rằng ăn khế sẽ trả vàng, dặn người em may túi ba gang đi theo mình. Nó chở người em qua biển rộng ra tới đảo vàng. Ở đó, người em chỉ lấy đủ số vàng cho túi nhỏ, rồi theo chim về. Nhờ vậy anh có một cuộc sống giàu có. Còn người anh, khi biết chuyện đã đòi đổi nhà cửa lấy cây khế của em. Sau đó bày mưu để lừa chim thần chở ra đảo vàng như em trai. Nhưng lòng tham làm hắn may một cái túi mười hai gang. Số vàng đầy túi đó khiến chim bay mãi mới cất cánh được. Khi gặp bão thì rơi xuống biển. Chim thần bay lên lại được ngay, còn tên anh trai thì bị vàng kéo chìm xuống đáy biển.
Kết cục của hai nhân vật là bài học quý giá cho em. Rằng đứng trước cám dỗ, chúng ta cần giữ vững lập trường, phải sống trung thực, chớ có tham lam, dối trá. Không chỉ vậy, chúng ta cần biết yêu thương, đối xử nhân hậu với mọi người xung quanh. Chỉ khi đó, mọi người mới được sống trong miền hạnh phúc.
Câu 1: Văn bản trên được viết theo thể thơ lục bát.
Câu 2: Bên cạnh tiếng ve, những âm thanh âm thanh xuất hiện trong văn bản là: Tiếng kẽo cà, tiếng võng, tiếng ạ ời, tiếng ru của mẹ.
Câu 3: Tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong hai dòng thơ là:
- Làm cho câu thơ trở nên sinh động và có hồn hơn.
- Nói người mẹ thức cả một đêm chỉ vì quan tâm và chăm sóc cho đứa con của mình có một giấc ngủ tròn đầy.
=> Thể hiện tình yêu thương vô bờ bến của người mẹ với đứa con.
Câu 4: Nhận xét của em về hình ảnh người mẹ trong văn bản là: Hình ảnh người mẹ trong văn bản là một người vô cùng yêu thương, quan tâm chăm sóc và tình cảm của người mẹ dành cho đứa con là vô kể không có gì có thể đo đếm được.
Câu 5: Lời ru của mẹ có ý nghĩa sâu sắc đối với mỗi chúng ta, đó là nguồn nuôi dưỡng tình yêu thương, sự an toàn, bồi đắp nhân cách và truyền dạy nhân cách làm người.
Bài làm
Trong kho tàng văn học Việt Nam, truyện truyền thuyết “Thánh Gióng” là câu chuyện mà em yêu thích nhất. Sau khi gấp sách lại, nghĩ đến kết thúc truyện, từng chi tiết, hình ảnh vẫn còn vang vọng mãi trong tâm trí em.
Vào đời Hùng Vương thứ sáu, ở một vùng quê nọ có hai vợ chồng nghèo vì làm ăn tốt tính nên được dân làng gọi là hai vợ chồng phúc đức. Nhưng họ cưới nhau lâu rồi nhưng vẫn chưa có con. Vào một hôm, người vợ vẫn ra đồng làm như thường, bà thấy có một vết chân lạ to gấp mấy lần chân của bà, bà ướm thử chân mình vào và khi về nhà bà đã thụ thai. Khi sinh ra, cậu bé trông bụ bẫm và được đặt tên là Gióng. Gióng có một đặc điểm lạ đó là mẹ của cậu phải mang thai tới 12 tháng mới sinh ra cậu và khi lên ba cậu vẫn không biết cười, nói và không biết đi. Một hôm, giặc Ân xâm lược sứ giả đi tìm người tài giỏi đi đánh giặc. Bỗng Gióng cất tiếng nói đầu nói với sứ giả về tâu với đức vua làm cho cậu một con ngựa sắt, một chiếc áo giáp sắt và một cây roi sắt. Rồi mẹ lấy cơm cho Gióng ăn, Gióng ăn mãi hết cả nồi mà vẫn chưa no. Dân làng góp gạo để nuôi cậu, áo của cậu vừa mặc mà đã đứt chỉ. Chẳng bấy lúc gặc Ân xuất hiện, cậu vươn vai thành tráng sĩ mặc áo giáp sắt, cưỡi ngựa sắt, cầm roi sắt lao ra giết giặc. Được một hồi, roi sắt gãy. Cậu nhổ những búi tre bên đường quật giặc tan vỡ. Đánh xong giặc, cậu cởi bỏ áo giáp sắt, cùng ngựa sắt bay thẳng lên trời. Vua nhớ công ơn nên lập đền thờ và hiện nay vẫn còn những dấu tích được người xưa cho là của Thánh Gióng để lại.
Truyện truyền thuyết “ Thánh Gióng” không chỉ hấp dẫn bởi những chi tiết kì ảo, những sự kiện bất ngờ mà còn sâu sắc gửi gắm những bài học cuộc sống có giá trị suốt bao thế hệ, đó là bài học về lòng yêu nước của dân tộc ta, dù thời gian có trôi qua nhưng những câu truyện kể dân gian vẫn được truyền từ đời này sang đời khác.
Câu 1: Câu chuyện trên được kể theo ngôi thứ ba.
Câu 2: Aưm có hoàn cảnh khó khăn, người mẹ ốm đau liên miên.
Câu 3: Từ láy là hạn hán
-Trời hạn hán, oi bức ruộng đồng khô quắt nên ông em không thể đi gặt.
Câu 4: Đã chứng minh Aưm là một người còn nhỏ nhưng đã biết tự đi làm chăm sóc cho người mẹ của mình.
Câu 5: Qua bài đọc này, em rút ra được bài học cho bản thân là phải hiếu thảo với bố mẹ, chăm chỉ làm việc thì sẽ có được sự quý mến bởi những người xung quanh và có được sự thành công.