Nguyễn Mai Trang Lý
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
"Bài thơ Hắc Hải" của Nguyễn Đình Thi là khúc ca yêu nước tha thiết, khắc họa sâu sắc hình ảnh quê hương Việt Nam vừa bình dị, trù phú lại vừa kiên cường, bất khuất trong gian khổ. Qua câu thơ "Việt Nam đất nước ta ơi/Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn", tác giả khơi dậy niềm tự hào sâu sắc về vẻ đẹp thanh bình với "cánh cò bay lả rập rờn" và đỉnh Trường Sơn mây phủ. Bên cạnh vẻ đẹp thiên nhiên, bài thơ còn làm nổi bật hình ảnh con người Việt Nam lao động "vất vả" và giàu lòng nhân hậu, chung thủy, không khuất phục trước bao "thương đau". Hình ảnh "cô gái" với đôi mắt "long lanh" hay hình ảnh "áo nâu nhuộm bùn" in đậm dấu ấn văn hóa, gợi sự gần gũi, thân thương. Bằng ngôn từ giàu hình ảnh và cảm xúc, Nguyễn Đình Thi đã thể hiện tình yêu quê hương nồng nàn, tôn vinh truyền thống kiên cường và tinh thần xây dựng đất nước của dân tộc. Bài thơ không chỉ là lời ca ngợi quá khứ mà còn khơi dậy trong lòng em niềm tự hào và ý thức trách nhiệm đối với quê hươngđất nước.
Câu 2:
Di sản văn hóa là tài sản quý báu của mỗi dân tộc. Qua các di sản văn hóa, con người có thể hiểu sâu sắc về cuộc sống lao động sản xuất, đời sống tinh thần và trình độ phát triển của dân tộc ấy qua nhiều thời đại. Trước sự tàn phá của thời gian và con người, các di sản văn hóa đang dần bị tổn hại nghiêm trọng. Có di sản đang đứng trước nguy cơ biến mất mãi mãi. Bảo vệ di sản văn hóa dân tộc là một nhiệm vụ cấp bách, cần quyết liệt thực hiện trong thời đại ngày nay.
Di sản văn hóa là những sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa vật thể và phi vật thể có giá trị về khoa học, lịch sử, đời sống văn hóa dân tộc.
Di sản văn hóa là kết tinh sức lao động, tình cảm và trí tuệ của con người đã gửi gắm vào thời gian. Trải qua năm tháng, những di sản ấy càng thêm có giá trị và cần phải bảo vệ, gìn giữ. Mỗi di sản văn hóa đều chứa đựng trong nó tính thời gian. Nó còn là nhân chứng sống động của lịch sử. Di sản văn hóa thể hiện sâu sắc lịch sử đời sống tinh thần và lao động sản xuất của con người. Bằng tất cả niềm tin, con người muốn phản ánh đời sống đương thời qua một công trình xây dựng.
Mỗi di sản văn hóa là bằng chứng xác thực, có giá trị khoa học cao. Qua các di sản văn hóa, các nhà khoa học tiến hành nghiên cứu đời sống dân tộc trong thời đại nó ra đời cho đến nay. Không gì lưu giữ dấu tích cuộc sống tốt hơn là các di sản văn hóa. Không giống như các công trình khác, di sản văn hóa mất đi sẽ mãi mãi không thể nào có lại được. Nó chỉ có ý nghĩa khi còn giữ đúng nguyên trạng mà lịch sử đã tạo tác và khẳng định.
Di sản văn hóa bởi thế trở thành tài sản quý báu của dân tộc. Mỗi di sản văn hóa có giá trị kết nối quá khứ với hiện tại. Đồng thời, mở hướng cho con người tiến đến tương lai. Mỗi di sản văn hóa là một niềm tự hào lớn lao về quá khứ lịch sử hào hùng, bất khuất mà bình dị, thắm đượm nghĩa tình của dân tộc.
Bởi các di sản văn hóa có tuổi thọ cao và đang bị tàn phá bởi thời gian và con người. Bảo vệ, gìn giữ và trùng tu các di sản văn hóa là nhiệm vụ cấp bách của đất nước. Kiến trúc cổ không chỉ là một công trình. Nó tồn tại lâu hơn các thế hệ, định hình văn hóa, cảnh quan xã hội, dõi theo chúng ta, kiên trì và liên tục, trong khi chúng ta bị cuốn vào những chi tiết vụn vặt trong cuộc đời ngắn ngủi của mình.
Học sinh hôm nay là thế hệ làm chủ đất nước ở tương lai. Không ai khác, mỗi học sinh cần phải có ý thức về trách nhiệm của mình đối với các di sản dân tộc. Bảo vệ di sản là bảo vệ các giá trị tinh thần vô giá, mất đi rồi mãi mãi chúng ta không bao giờ có lại được nữa.
Để gìn giữ các di sản văn hóa dân tộc, nhà nước đã có chính sách cụ thể. Đồng thời cũng quy định về quyền hạn và trách nhiệm của mỗi công dân đối với các di sản văn hóa dân tộc.
Trước hết, mỗi học sinh phải biết tôn trọng và tự hào đối với những di sản văn hóa của dân tộc. Bởi đó không chỉ là những công trình xây dựng, không chỉ là cái đẹp của tinh thần mà đó là văn hóa. Lớp lớp cha ông đã không tiếc tiền của, vật chất, sức lực bồi đắp cho các di sản ấy. Bổn phận của chúng ta là phải biết giữ gìn và phát huy các giá trị ấy. Hãy làm cho nó thêm giá trị trong đời sống ngày nay.
Học sinh cần có ý thức bảo vệ, giữ gìn những di sản văn hóa của dân tộc. Không được xâm hại hay xúc phạm đến các di sản văn hóa. Không đập phá các di sản văn hóa. Không lấy cắp cổ vật về nhà. Giữ gìn sạch đẹp di tích, danh lam thắng cảnh. Nhắc nhở mọi người giữ gìn, bảo vệ di sản văn hóa.
Quyết liệt chống lại các hành động phá hoại, xúc phạm di sản văn hóa dân tộc. Không ai có quyền làm tổn hại nó. Bởi nó là tài sản quý báu và không thể thay thế được của toàn dân tộc. Nó là kết tinh của tình cảm và trí tuệ của cha ông để lại. Cần phải tôn trọng và gìn giữ quá khứ dân tộc như gìn giữ sinh mệnh của chính mình. Đánh mất đi quá khứ sẽ là một tổn thất lớn nhất đối với con người.
Trong cuộc sống, vẫn còn có nhiều học sinh không có ý thức giữ gìn và bảo vệ các di sản văn hóa dân tộc. Họ cho rằng nó không là của ai. Nó lạc hậu và cũ kỹ, không giá trị gì. Đó là nhận thức hết sức sai lầm và vô cảm. Bởi vậy, họ thường có thái độ xúc phạm đến các giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc. Thậm chí, họ còn có hành động cố tình phá hoại các di sản vật chất. Những học sinh như thế thật đáng chê trách.
Di sản văn hóa là báu vật thiêng liêng của dân tộc. Đó là tài sản chung của mọi người. Hãy bảo vệ những di sản văn hóa của dân tộc ngay từ bây giờ. Đồng thời không ngừng phát huy giá trị của nó ngày càng tốt đẹp hơn
Tinh thần dân tộc của người Việt Nam là tình yêu nước đoàn kết và lòng tự hào sâu sắc về văn hóa, lịch sử. Bản thân em luôn ý thức giữ gìn bản sắc, học tập chăm chỉ, sống có trách nhiệm, tích cực lan tỏa nét đẹp văn hóa truyền thống và sẵn sàng đóng góp công sức xây dựng quê hương đất nước ngày càng giàu đẹp.
Mỗi học sinh cần có ý thức giữ gìn và bảo vệ các di sản văn hóa của dân tộc và hành động ngay từ bây giờ. Đừng nghĩ về giá trị vật chất của các di sản văn hóa. Hãy nghĩ về giá trị tinh thần, lịch sử, khoa học mà nó chứa đựng ở trong mình. Hãy nghĩ về sức lao động của cha ông qua lớp lớp thời gian đã kết tinh trong mỗi di sản để cảm thấy tự hào hơn, kính trọng hơn đối với các di sản văn hóa của dân tộc.
Câu 1:
- Bài thơ viết theo thể thơ lục bát
Câu 2:
-Phương thức biểu đạt chính của bài thơ là biểu cảm
Câu 3:
-Biện pháp tu từ điệp ngữ: nhớ
-Tác dụng
+ Giúp câu thơ trở nên sinh động, hấp dẫn, giàu hình ảnh
+ Bộc lộ nỗi nhớ da diết, sâu sắc và sự gắn bó thân thiết, gần gũi của tác giả với những hình ảnh bình dị, mộc mạc của quê hương (núi rừng, dòng sông, rau muống, quả cà).
+ Qua đó tác giả thể hiện tình yêu quê hương sâu sắc, gắn bó và nồng nàn
Câu 4:
-Con người Việt Nam hiện lên trong bài thơ với những phẩm chất
+Cần cù, chịu khó trong lao động ("tay người như có phép tiên").
+Dũng cảm, kiên cường trong chiến đấu ("nghìn năm xưa""đứng lên").
+Thủy chung, tình nghĩa ("yêu ai yêu trọn tấm tình thủy chung").
Câu 5:
-Đề tài: Quê hươngđất nước và con người Việt Nam.
-Chủ đề: Ngợi ca vẻ đẹp bình dị, thơ mộng của thiên nhiên và những phẩm chất cao quý của con người Việt Nam (cần cù, dũng cảm, thủy chung), qua đó thể hiện tình yêu và niềm tự hào dân tộc sâu sắc.
Câu 1:
Trong văn bản "Một lần và mãi mãi" của nhà văn Thanh Quế, tác giả đã thành công vẽ nên một bức tranh thời thơ ấu thể hiện nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau. Trong đó, nhân vật "tôi" được tác giả khắc họa là một đứa trẻ khá là sâu sắc, cậu trải qua sự biến chuyển tâm lí tinh tế khi đối mặt với những lầm lỡ không sửa lại được. Từ sự vô tư, nhân vật ''tôi'' nhận ra giá trị của sự tử tế và nỗi ân hận muộn màng thông qua hành động của cậu đối với bà Bảy Nhiêu. Khi câu lừa gạt bà lão có đôi mắt lòa ấy bằng đồng bạc giả chỉ để thỏa mãn cơn thèm ngọt. Bà lão ấy không trách cứ dù bà đã nhận ra và vẫn đối xử tử tế, nhân hậu. Qua đó thể hiện bài học quý giá về lòng trung thực và sự hối hận muộn màng. Sau bốn mươi năm xa cách, "tôi" trở lại, mang theo nỗi trăn trở về lỗi lầm ở quá khứ đối với bà Bảy Nhiêu. Hình ảnh "tôi" cùng cậu bạn đứng lặng, cầu mong sự thứ tha trước mả bả cho thấy sự hối hận sâu sắc và lương tâm thức tỉnh. Nhân vật "tôi" không chỉ kể lại câu chuyện mà còn đúc kết bài học đắt giá về những lỗi lầm không thể sửa, thể hiện cái nhìn nhân văn và sâu sắc về cuộc đời. Tác giả Thanh Quế đã bằng ngòi bút tinh tế, lời văn nhẹ nhàng, ấm áp, cùng cách diễn đạt đặc sắc và hình ảnh gần gũi. Đã khiến bạn đọc cuốn hút vào truyện để có thể đặc biệt cảm thụ những bài học tác giả gửi gắm, Thanh Quế khẳng định giá trị của lòng trắc ẩn, sự sám hối chân thành của mỗi người. Khi đọc văn bản " Một lần và mãi mãi" em cũng nhận biết rằng mình nên trân trọng điều tử tế, hãy chắc chắn và suy nghĩ trước khi hành động để không để ai bị một vết thương lòng đớn đau mà bản thân có thể không có cơ hội sửa lại.
Câu 2:
Nhà văn Guy-li-am Sếch-pia có nói như thế này:" không di sản nào quý giá bằng lòng trung thực". Thật vậy, trong cuộc sống hiện nay, con người sống với nhau bằng bao bộ nhiêu mặt, trung thực là một di sản vô cùng quý giá để giúp con người giàu có hơn bất cứ một thứ tài sản nào cả về vật chất lẫn tinh thần. Câu nói ấy đã khẳng định vai trò của tính trung thực đối với bản thân mỗi người và xã hội.
Trung thực là trung thành, tôn trọng sự thật. Trung thực là thành thực với chính mình, với mọi người, với công việc và bất cứ lĩnh vực nào trong đời sống. Trung thực là luôn tuân thủ chuẩn mực đạo đức, chân thật trong từng lời nói và hành động. Đó là một trong những phẩm chất quan trọng nhất, tạo nên nhân cách chân chính.
Người có lòng trung thực là người thật thà, ngay thẳng chân thành trong cách đối xử với mọi người. Họ luôn nhìn nhận khách quan về các sự việc trong cuộc sống, luôn tôn trọng và bảo vệ chân lí. Họ không gian dối, không ích kỉ hay vụ lợi cá nhân. Người trung thực luôn hướng đến lợi ích chung của tập thể, của cộng đồng. Người trung thực có thể sẵn sàng hi sinh lợi ích của bản thân để bảo vệ lẽ phải. Có lẽ bởi vậy mà trung thực trở thành một đức tính vô cùng quan trọng, cần có trong mỗi người nếu muốn trở thành người có ích và đạt được những thành công bền vững.
Trung thực là nền tảng của sự tin cậy và lòng tin. Trong mọi mối quan hệ, từ gia đình, bạn bè đến đồng nghiệp, sự tin tưởng là yếu tố then chốt. Khi chúng ta trung thực, người khác sẽ tin tưởng và tôn trọng chúng ta. Ngược lại, khi thiếu trung thực, lòng tin sẽ bị phá vỡ, dẫn đến sự nghi ngờ và mất niềm tin. Sự trung thực giúp xây dựng và duy trì những mối quan hệ bền vững, tạo nên môi trường sống và làm việc lành mạnh, tích cực.
Bên cạnh đó, trung thực giúp con người sống đúng với bản thân và tự tin hơn. Khi trung thực, chúng ta không phải lo lắng về việc che giấu sự thật hay sống hai mặt. Điều này giúp chúng ta cảm thấy thanh thản và thoải mái với chính mình, từ đó sống tự tin hơn. Trung thực còn giúp chúng ta đối mặt với những sai lầm và học hỏi từ chúng, thay vì lẩn tránh hoặc đổ lỗi cho người khác. Chính sự trung thực với bản thân sẽ giúp chúng ta trưởng thành và phát triển.
Trung thực còn là yếu tố quan trọng trong việc xây dựng một xã hội công bằng và văn minh. Khi mọi người đều trung thực, xã hội sẽ trở nên minh bạch và công bằng hơn. Sự trung thực trong các lĩnh vực như giáo dục, kinh doanh, chính trị giúp ngăn chặn tham nhũng, lừa đảo và những hành vi sai trái khác. Một ví dụ điển hình cho ảnh hưởng tiêu cực của sự thiếu trung thực đối với xã hội, đó là không ít người đã gian dối trong việc quyên góp, ủng hộ đồng bào bị thiệt hại do bão lũ ở miền Bắc sau cơn bão Yagi vừa qua. Khi Mặt trận Tổ quốc Việt Nam công bố văn bản sao kê, thống kê số tiền ủng hộ đã tiếp nhận tính đến ngày 10 tháng 9 năm 2024, nhiều người “giật mình” khi phát hiện con số thực tế đã ủng hộ của một số cá nhân, tổ chức khác hoàn toàn, nhỏ hơn rất nhiều so với con số mà những người này đã “khoe” trên mạng xã hội. Những người này đã gian dối một cách trắng trợn, không trung thực trong số tiền ủng hộ, gây ra một làn sóng phẫn nộ trong cộng đồng và chắc chắn đã có không ít người trong chúng ta cảm thấy mất niềm tin vào “tình người” ở một số người nổi tiếng. Thử hỏi, công bằng xã hội sẽ đi đến đâu nếu như tính trung thực dễ dàng bị coi thường đến thế?
Quả thực, sống trung thực không khó nhưng khi sự trung thực bị đặt trên cán cân mà bên đối trọng chính là lòng tham, danh vọng thì để kiên quyết lựa chọn lối sống trung thực lại là điều không đơn giản. Vì vậy, để thành công, chúng ta cần rèn luyện tính trung thực và nhiều phẩm chất tốt đẹp khác như ý chí, nghị lực, lòng vị tha, nhân ái,... Hãy biết lên tiếng trước những điều gian dối, những điều sai với sự thật và trái ngược với đạo lí. Đó chính là khi chúng ta đã bảo vệ cho lẽ phải và góp phần xây dựng một xã hội văn minh.
Bản thân em luôn cố gắng thực hành trung thực trong học tập và cáu mối quan hệ xã hội, luôn nỗ lực theo những tấm gương sáng về sự trung thực, nói đi đôi với làm, từ đó giúp em xây dựng nê sự uy tín, niềm tin và sự bình yên trong tâm hồn.
Tóm lại, đức tính trung thực có vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống cá nhân cũng như xã hội. Trung thực giúp xây dựng và duy trì lòng tin, giúp ta sống đúng với bản thân, đóng góp vào sự phát triển công bằng và bền vững của xã hội. Chúng ta cần nhận thức rõ giá trị của trung thực và luôn cố gắng thực hành đức tính này trong mọi khía cạnh của cuộc sống. Trung thực không chỉ là một đức tính mà còn là chìa khóa đem đến một cuộc sống hạnh phúc và ý nghĩa.
Câu 1:
-Thể loại của văn bản là thể loại truyện ngắn.
Câu 2:
-Văn bản sử dụng ngôi kể thứ nhất, nhân vật "tôi" là người kể chuyện.
Câu 3:
-Cốt truyện của văn bản trên có tính đơn giản nhưng xúc động, truyện kể về kỷ niệm tuổi thơ của "tôi" và bạn bè với bà Bảy Nhiêu. Tình huống truyện bất ngờ khi mở ra rằng trước khi bà Bảy Nhiêu qua đời, bà vô cùng rành rọt để riêng đồng bạc thật và giả ra, nhưng bà nhân hậu không vạch trần chuyện ấy. Chi tiết này làm bật lên sự ăn năn, hối lỗi của các nhân vật. Câu chuyện có kết cấu chặt chẽ, mở đầu là thời thơ ấu hồn nhiên, cao trào khi bọn trẻ lừa bà Bảy Nhiêu và kết thúc chính là sự hối hận, day dứt không thể sửa lỗi của nhân vật chính.
Câu 4:
-Văn bản thể hiện bài học sâu sắc về lòng trung thực và sự hối hận muộn màng. Qua câu chuyện, tác giả muốn gửi gắm đến độc giả rằng những sai lầm trong cuộc sống có thể để lại sự day dứt mãi mãi, vì không phải lúc nào cũng có cơ hội để sửa chữa. Đồng thời câu chuyện còn bộc lộ lên được tấm lóng bao dung, nhân hậu của bà Bảy Nhiêu, dù bị lừa nhưng vẫn không trách mắng mà đối xử tử tế với lũ trẻ.
Câu 5:
"Trong đời, có những điều ta đã lầm lỡ, không bao giờ còn có dịp để sửa chữa được nữa" câu nói ấy gợi cho em hiểu rằng có những sai lầm trong cuộc đời không thể quay lại để sửa chữa. Một khi đã gây ra tổn thương cho người khác, dù là tinh thần hay thể chất nó vẫn để lại một cái sẹo. Có thể chúng ta sẽ mãi sống trong sự ân hận mà không thể làm gì để bù đắp. Câu nói trên đã nhắc nhở mỗi người chúng ta nên sống trung thực, tử tế ngay từ đầu, tránh những hành động sai lầm mà sau này có thể không còn cơ hội để gỡ lại.