Hoàng Chấn Phong
Giới thiệu về bản thân
BÀI LÀM Câu 1. Thể thơ của văn bản là thơ tự do. Câu 2. Phương thức biểu đạt chính của văn bản là biểu cảm. Câu 3. Hai dòng thơ sử dụng biện pháp tu từ nhân hoá. Tác dụng: làm nổi bật hình ảnh người ngoại cần cù, gắn bó với thiên nhiên, qua đó thể hiện tình yêu thương và sự kính trọng của tác giả đối với ngoại. Câu 4. Hai dòng thơ cho thấy dù ở nơi xa hay đã khuất, ngoại vẫn luôn yêu thương, chở che và dịu dàng bên con cháu. Câu 5. Qua bài thơ, em rút ra bài học: cần biết yêu thương, kính trọng và trân trọng tình cảm gia đình, đặc biệt là đối với ông bà. Câu 6. Bài thơ Thưa ngoại con mới về gợi cho em nhiều cảm xúc xúc động. Hình ảnh người ngoại hiện lên giản dị, hiền hậu và giàu yêu thương. Dù ngoại không còn bên cạnh, tình cảm của ngoại vẫn luôn hiện hữu trong tâm hồn con cháu. Bài thơ giúp em thêm yêu và trân trọng những người thân trong gia đình mình.
Câu 1:
Văn bản “Chợ quê” của Nguyễn Đức Mậu đã gợi lên một bức tranh chợ làng bình dị, thân quen và đậm chất quê hương. Qua những hình ảnh mộc mạc, giản đơn, tác giả làm nổi bật không khí nhộn nhịp mà ấm áp của phiên chợ quê. Chợ không chỉ là nơi mua bán mà còn là nơi gặp gỡ, giao lưu tình cảm của người dân làng. Những con người hiện lên chân chất, hiền hòa, mang theo nếp sống giản dị và nghĩa tình. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, giọng văn nhẹ nhàng giúp người đọc cảm nhận rõ vẻ đẹp đời sống thôn quê. Văn bản thể hiện tình yêu tha thiết của tác giả đối với quê hương, đồng thời gợi trong lòng người đọc niềm trân trọng những giá trị truyền thống bình dị của làng quê Việt Nam.
Câu 2
Bài làm
Ngày mẹ rời xa khi em còn nhỏ là kỉ niệm buồn mà em không thể quên. Hôm ấy, em còn chưa hiểu hết ý nghĩa của sự chia xa, chỉ thấy trong lòng trống trải và lo lắng. Mẹ ôm em thật chặt, dặn dò vài câu rồi quay đi rất nhanh. Em đứng nhìn theo bóng mẹ khuất dần, nước mắt rơi lúc nào không hay. Từ ngày đó, em phải tập quen với việc thiếu vắng vòng tay chăm sóc của mẹ. Kỉ niệm ấy khiến em càng thấm thía tình mẫu tử thiêng liêng và biết trân trọng hơn những giây phút được ở bên mẹ.
Câu 1: Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất (xưng “tôi”). Câu 2: Trước khi vào học Trường Yên Phụ, nhân vật “tôi” học trong hoàn cảnh khó khăn, học ở nhà/ lớp học nghèo nàn, thiếu thốn, chưa được học hành bài bản. Câu 3: Bài Tựa cuốn “Thế hệ ngày mai” viết về vai trò của giáo dục và sự chăm lo của thế hệ đi trước đối với thế hệ trẻ. Chi tiết “hai thế hệ một tấm lòng, một tinh thần” khẳng định sự nối tiếp, trách nhiệm và tình yêu thương của các thế hệ dành cho tương lai đất nước. Câu 4: Nhân vật người cha hiện lên với phẩm chất yêu thương con, có trách nhiệm, hi sinh và coi trọng việc học. → Thể hiện qua các chi tiết: quan tâm đến việc học của con, đưa con đi học, động viên và đặt nhiều hi vọng vào con.
Câu 5: Qua câu chuyện, em thấy cha mẹ có trách nhiệm quan tâm và tạo điều kiện cho con được học tập. Sự yêu thương, động viên của cha mẹ là động lực giúp con cố gắng vươn lên trong học tập.
Câu 1: Văn bản trên được viết theo thể thơ lục bát.
Câu 2: em không biết làm.
Câu 3: Tác dụng giúp câu thơ hay hơn để người đọc phải đọc kĩ hơn để hiểu và giúp câu thơ sống động hơn.
Câu 4: Hình ảnh dần hiện lên trong đầu cậu học sinh về những tháng ngày còn ở quê, những kỉ niệm đáng nhớ
Câu 5: em thích hình ảnh cậu học sinh đang hồi tưởng thì đột nhiên lại nghe được giọng nói mà không thể nghe được lúc đó. Vì hình ảnh đó gợi lại hình ảnh quê hương và người bà đáng kính.
Trong những truyện truyền thuyết hoặc cổ tích, có một truyện truyền thuyết đã học mà em muốn kể . Truyện đó là truyện truyền thuyết Thánh Gióng, bởi đó là truyện yêu thích của em.
Tục truyền đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng. Có hai vợ chồng chăm chỉ làm ăn và có tiếng phúc đức. Hai ông bà luôn ao ước có một đứa con để nối dõi. Một ngày, bà ra đồng thì thấy có vết chân rất rõ, bà liền đặt bàn chân mình lên để xem thua kém bao nhiêu. Về nhà bà đột nhiên có thai rồi mười hai tháng sau bà sinh ra một cậu bé mặt mũi khôi ngô. Hai vợ chồng mừng lắm. Nhưng lạ là đứa trẻ cho đến khi lên ba vẫn không biết làm gì cả, kể cả nói hay đi, cứ đặt đâu thì nằm đấy.
Lúc bấy giờ có giặc Ân đến xâm phạm bời cõi nước ta. Thế giặc mạnh, nhà vua lo nước cứ thế mà lâm nguy, liền cử sứ giả đi khắp nơi tìm người tài cứu nước. Cậu bé nghe tiếng rao bỗng dưng cất tiếng nói bảo mẹ mời sứ giả vào. Sứ giả vào, cậu bé bảo ông về nói với vua làm cho cậu một con ngựa, giáp và một cây roi bằng sắt, rồi cậu sẽ phá tan giặc. Sứ giả nghe xong liền vội vàng về tâu vua. Nhà vua liền cho thợ ngày đêm làm gấp những vật cậu dặn.
Từ sau hôm gặp sứ giả, anh lớn nhanh như thổi. Cơm ăn mấy cũng chẳng no, áo vừa mặc đã đứt chỉ. Hai vợ chồng đành phải chạy nhờ bà con, làng xóm. Bà con đều vui lòng gom góp gạo nuôi anh.
Giặc đã đến chân núi Trâu. Thế nước rất nguy, người người hoảng hốt. Vừa lúc đó, sứ giả đem đồ đến. Anh vùng dậy, vươn vai liền biến thành một tráng sĩ, mình cao hơn trượng. Tráng sĩ bước lên, vỗ vào mông ngựa. Ngựa hí dài mấy tiếng vang dội. Tráng sĩ mặc giáp, cầm roi, nhảy lên mình ngựa. Ngựa phun lửa, tráng sĩ thúc ngựa phi thẳng đến nơi có giặc, đón đầu chúng. Tráng sĩ đánh giết hết lớp nảy đến lớp khác, giặc chết như ngả rạ. Bỗng roi sắt gãy. Tráng sĩ bèn nhổ bụi tre cạnh đường rồi đánh tiếp.
Giặc tan, đám tàn quân giẫm đạp lên nhau chạy trốn, tráng sĩ đuổi đến chân núi Sóc. Đến đó, tráng sĩ cùng ngựa lên đỉnh núi, bỏ giáp lại, rồi cả người lẫn ngựa từ từ bay lên trời. Vua nhớ ơn phòng là Phù Đổng Thiên Vương và lập đền thờ ngay ở quê nhà.
Truyện đã mang lại nguồn cảm hứng giúp em kể lại câu truyện, cũng là truyện em ấn tượng và nhớ lâu nhất trong những truyện em đã đọc. Thánh Gióng là truyện gắn liền với tinh thần yêu nước, chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta.
Các biện pháp tiết kiệm điện năng:chỉ bật đèn vào buổi tối và chỉ bật những chỗ mọi người hãy đến hoặc chỉ bật khi cần sử dụng;rút điện cái thiết bị (không phải thiết bị điện tử) khi lâu không sử dụng;không sạc qua đêm và không bật máy làm nước nóng để tắm quá lâu; không sử dụng điều hoà khi không nóng hoặc chỉ sử dụng ở nhiệt độ vừa đủ.
A: Kiến trúc nhà bạn T nhắc nói tới là nhà nổi.
B:phao;gỗ;tôn;sắt.