Dương Vân Nhi
Giới thiệu về bản thân
Trong dòng chảy của văn học trung đại Việt Nam, Nguyễn Khuyến hiện lên như một bậc đại tri thức với tâm hồn thanh cao và bút pháp trào phúng bậc thầy. Nếu những bài thơ mùa thu của ông mang vẻ đẹp tĩnh lặng, đượm buồn thì mảng thơ trào phúng lại là những đòn roi quất thẳng vào thực trạng thối nát của xã hội buổi giao thời. Trong đó, bài thơ "Tiến sĩ giấy" là một tác phẩm tiêu biểu, thể hiện tiếng cười tự trào chua xót và sự mỉa mai sâu cay đối với những danh hão, giá trị ảo trong xã hội thực dân phong kiến. Mở đầu bài thơ, Nguyễn Khuyến giới thiệu sự xuất hiện của "vị" Tiến sĩ một cách rất trang trọng nhưng cũng đầy mỉa mai:"Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai,Gọn gẻ bấy nhiêu mặt chữ tài."Điệp từ "cũng" được lặp lại ba lần kết hợp với các danh từ "cờ", "biển", "cân đai" – vốn là những biểu tượng cao quý của sự đỗ đạt. Tuy nhiên, tất cả những thứ đó chỉ là đồ chơi bằng giấy trong Tết Trung thu. Từ "gọn gẻ" và "mặt chữ tài" gợi lên một vẻ ngoài chỉn chu, hoàn hảo nhưng thực chất chỉ là cái vỏ rỗng tuếch. Tác giả đã khéo léo sử dụng thủ pháp đối lập giữa hình thức (vinh hoa) và bản chất (giấy vụn) để mở đầu cho tiếng cười châm biếm. "Tấm thân xiêu vẹo hanh hao sớm, Cái phận long đong chẳng kém ai." Tiến sĩ vốn là biểu tượng của trí tuệ và sự vững chãi, nhưng ở đây lại là "xiêu vẹo", "hanh hao". Qua đó, Nguyễn Khuyến không chỉ nói về món đồ chơi bằng giấy dễ rách, dễ hỏng mà còn ám chỉ những ông quan mất đi tư cách, chỉ biết cúi đầu trước thực dân. "Cái phận long đong" như một lời dự cảm về sự rẻ rúng của tầng lớp tri thức khi Nho học tàn tạ, khoa cử chỉ còn là trò hề. Đỉnh cao của bài thơ nằm ở hai câu kết, khi tiếng cười châm biếm chuyển sang hướng tự trào (tự cười mình):"Ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh chọe,Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi."Từ láy "bảnh chọe" đặc tả cái dáng vẻ kệch cỡm, khoe khoang của kẻ không có thực tài nhưng lại thích phô trương. Câu kết "Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi" như một cái tát vào thực tại. Nó vừa là lời chế giễu những kẻ ham danh lợi hão, vừa là nỗi đau của chính Nguyễn Khuyến. Ông vốn là một "Tiến sĩ thật" (Tam nguyên Yên Đổ), nhưng trong bối cảnh nước mất nhà tan, ông cảm thấy cái bằng cấp của mình cũng chẳng khác gì "đồ chơi" vì không giúp gì được cho dân, cho nước. Bài thơ thành công nhờ nghệ thuật sử dụng từ ngữ dân gian, hình ảnh ẩn dụ sắc sảo. Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật được vận dụng uyển chuyển, không gò bó mà tự nhiên như lời nói hằng ngày. Thủ pháp lấy cái tầm thường (đồ chơi trẻ con) để nói cái cao sang (học vị Tiến sĩ) đã tạo nên một sức công phá mạnh mẽ vào hệ thống giá trị đảo lộn của xã hội đương thời. Tóm lại, "Tiến sĩ giấy" không chỉ đơn thuần là một bài thơ vịnh đồ chơi mà còn là một bản cáo trạng về một thời kỳ suy đồi của học thuật và nhân cách. Qua tiếng cười vừa hài hước vừa đau đớn, Nguyễn Khuyến đã thể hiện được tấm lòng ưu ái với thời cuộc và nhân cách cao đẹp của một nhà nho chân chính. Tác phẩm vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay như một lời nhắc nhở về việc trọng thực tài hơn hư danh.
Tiếng cười không chỉ là biểu hiện của niềm vui mà còn là vũ khí sắc bén để phê phán và thanh lọc xã hội. Qua các hình thức như châm biếm hay hài hước, tiếng cười giúp phơi bày những thói hư tật xấu và cái ác một cách nhẹ nhàng nhưng sâu cay. Nó khiến cái chưa đẹp bị hạ bệ, buộc người ta phải nhìn nhận lại mình để hoàn thiện hơn. Khi cười vào những điều kệch cỡm, chúng ta đang khẳng định sức mạnh của chính nghĩa. Tóm lại, tiếng cười chính là công cụ đắc lực để xây dựng một xã hội văn minh và tốt đẹp hơn.
Từ thiếu phụ mang sắc thái trang trọng và tôn trọng, dùng để chỉ người phụ nữ trẻ đã có gia đình hoặc có con. Cách dùng này tạo nên vẻ thanh lịch, kín đáo và có phần cổ điển hơn so với những từ thông thường như "người đàn bà" hay "người phụ nữ".
Nhân dịp kỉ niệm ngày thành lập trường, lớp em được thầy cô tổ chức một chuyến tham quan về nguồn đến Khu di tích lịch sử Đền Hùng – nơi thờ tự các Vua Hùng, những người đã có công dựng nên đất nước Văn Lang xưa. Ngay từ khi nhận được thông báo, ai trong lớp cũng háo hức, mong chờ. Chúng em chuẩn bị quần áo đồng phục, mũ, nước uống và cả những món ăn nhẹ để mang theo. Sáng hôm ấy, trời trong xanh, gió mát. Chúng em tập trung ở sân trường từ rất sớm. Tiếng nói cười rộn ràng, xen lẫn niềm vui háo hức của một ngày đặc biệt. Khi chiếc xe bắt đầu lăn bánh, mọi người cùng hát vang những bài ca về tuổi học trò và quê hương đất nước. Em ngồi bên cửa sổ, nhìn cảnh vật hai bên đường trôi qua mà lòng bỗng thấy yên bình, háo hức lạ thường. Sau gần hai giờ đồng hồ, đoàn chúng em đến nơi. Từ xa, Đền Hùng hiện lên uy nghi giữa rừng cây xanh thẳm. Không khí nơi đây thật trang nghiêm và trong lành. Theo sự hướng dẫn của cô giáo, lớp em bắt đầu leo những bậc đá dẫn lên đền Thượng. Con đường quanh co, dốc cao, nhưng ai nấy đều cố gắng bước đi, vừa trò chuyện vừa ngắm cảnh. Tiếng chim hót trong rừng, tiếng gió xào xạc hòa cùng tiếng bước chân nhịp đều nghe thật vui tai. Khi lên đến đền Thượng, cả lớp xếp hàng ngay ngắn để dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng. Mùi hương trầm lan tỏa, gợi lên cảm giác thiêng liêng khó tả. Đứng trước bàn thờ Tổ, em thầm cầu mong cho đất nước mãi yên bình, cho gia đình và thầy cô luôn mạnh khỏe. Trong giây phút ấy, em cảm nhận rõ ràng lòng biết ơn sâu sắc với tổ tiên, với những người đã có công dựng nước và giữ nước. Sau khi thắp hương, lớp em cùng nhau đi tham quan các khu vực xung quanh: đền Trung, đền Hạ và Bảo tàng Hùng Vương. Ở mỗi nơi, hướng dẫn viên đều kể cho chúng em nghe những câu chuyện lịch sử hào hùng, những truyền thuyết gắn với thời đại các Vua Hùng. Mỗi câu chuyện như một bài học quý giá, giúp em hiểu thêm về cội nguồn dân tộc và càng thêm yêu đất nước Việt Nam. Buổi trưa, chúng em nghỉ ngơi dưới tán cây cổ thụ. Mọi người cùng nhau ăn trưa, chia sẻ bánh kẹo, nước uống. Tiếng cười nói râm ran vang khắp khu rừng. Một vài bạn còn chơi đàn, hát những bài ca về quê hương khiến không khí càng thêm vui vẻ. Cô giáo nhìn chúng em mỉm cười hiền hậu, chắc cô cũng thấy tự hào vì học trò của mình biết trân trọng chuyến đi ý nghĩa này. Buổi chiều, trước khi rời Đền Hùng, lớp em chụp một bức ảnh tập thể trước cổng chính để lưu giữ kỷ niệm. Ai cũng cười tươi, ánh mắt long lanh niềm vui xen lẫn chút lưu luyến. Khi xe lăn bánh rời khu di tích, em ngoái nhìn lại phía sau — ngọn núi Nghĩa Lĩnh vẫn sừng sững, như dang tay tiễn chúng em về. Chuyến đi tuy chỉ kéo dài một ngày nhưng để lại trong em thật nhiều cảm xúc. Em không chỉ được thư giãn, vui chơi mà còn học được biết bao điều quý giá về truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Em thầm hứa sẽ cố gắng học tập tốt hơn, sống xứng đáng với công lao của cha ông. Đối với em, đây không chỉ là một chuyến tham quan đơn thuần mà còn là một bài học sống động về lòng yêu nước và lòng biết ơn. Mỗi khi nhớ lại, em vẫn thấy tim mình tràn đầy niềm tự hào và biết ơn sâu sắc. Đó thật sự là một kỷ niệm đẹp, em sẽ mãi không bao giờ quên.
Câu 1:
Thể thơ: thất ngôn bát cú Đường luật (thể biến )
Câu 2
1. Cảnh ngày hè
2.Hoa lựu đỏ rực
3.Hoa sen trong hồ
4. Cành hòe xanh mát
Câu 3
Biện pháp đảo ngữ trong hai câu thơ giúp nhấn mạnh âm thanh sống động của cảnh ngày hè, làm cho bức tranh mùa hè thêm rộn ràng, đầy sức sống và thể hiện tâm hồn hòa hợp với thiên nhiên, yêu dân, yêu đời của nhà thơ.
Câu 4 Trong hai câu thơ cuối, nhà thơ đã bộc lộ tấm lòng nhân nghĩa, yêu nước, thương dân và ước nguyện tha thiết về cuộc sống hạnh phúc, ấm no cho muôn dân.
Câu 5
Chủ đề là về bức tranh ngày hè , về nét đẹp thiên nhiên, đồng thời nói lên lòng yêu nước, lo cho dân, mong ước một cuộc sống ấm no cho dân
Câu 6
Từ niềm vui giản dị mà Nguyễn Trãi tìm thấy trong cảnh ngày hè, em học được rằng hạnh phúc thật ra đến từ những điều rất đỗi bình thường quanh ta. Giữa cuộc sống bận rộn, nếu biết dừng lại để ngắm một bông hoa, lắng nghe tiếng chim hót hay cảm nhận làn gió mát, ta sẽ thấy lòng mình nhẹ nhõm và yêu đời hơn. Nguyễn Trãi dù sống ẩn dật vẫn giữ tinh thần lạc quan, yêu thiên nhiên và hướng thiện, đó là bài học quý giá cho mỗi chúng em. Em nhận ra rằng cần trân trọng cuộc sống hiện tại, tìm niềm vui trong những điều nhỏ bé để nuôi dưỡng tâm hồn trong sáng và nghị lực sống tích cực mỗi ngày.