Đỗ Hà Minh Đan
Giới thiệu về bản thân
a)- Giá trị sử dụng:
+ Trong nông nghiệp: phù sa là nhóm đất phù hợp để sản xuất lương thực, cây công nghiệp hàng năm và cây ăn quả.
+ Trong thủy sản: đất phù sa ở các cửa sông, ven biển có nhiều lợi thế để phát triển ngành thuỷ sản. Vùng đất phèn, đất mặn tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh bắt thuỷ sản. Ở các rừng ngập mặn ven biển, các bãi triều ngập nước và ở cửa sông lớn thuận lợi cho nuôi trồng nhiều loại thuỷ sản nước lợ và nước mặn.
b) Thực trạng thoái hóa đất ở Việt Nam:
-Thoái hóa đất là một trong những vấn đề nghiêm trọng đang ảnh hưởng đến môi trường và sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam. Thực trạng thoái hóa đất tại nước ta có thể được mô tả qua một số điểm chính sau:
-Diện tích đất bị thoái hóa ngày càng gia tăng: Theo các nghiên cứu, diện tích đất bị thoái hóa ở Việt Nam đã lên đến hàng triệu hecta, trong đó đất bị bạc màu, thiếu dinh dưỡng chiếm phần lớn. Cụ thể, nhiều khu vực nông thôn, đặc biệt là các vùng đất trồng lúa, đã chịu tác động của việc sử dụng quá mức phân bón hóa học và thuốc trừ sâu.
-Đất bị xói mòn: Các vùng đồi núi, đặc biệt là các tỉnh miền Trung và Tây Bắc, đang phải đối mặt với tình trạng xói mòn đất, mất lớp phủ thực vật và giảm độ phì nhiêu của đất.
Đất nhiễm mặn và nhiễm phèn: Các vùng ven biển ở đồng bằng sông Cửu Long, như các tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, đang chịu tác động của mặn hóa đất, gây khó khăn trong việc canh tác cây trồng truyền thống.
Đất bị ô nhiễm hóa chất: Sử dụng quá mức các loại phân bón và thuốc trừ sâu trong nông nghiệp cũng dẫn đến việc đất bị ô nhiễm hóa học, làm giảm chất lượng đất và ảnh hưởng đến sức khỏe cây trồng.
Nguyên nhân gây ra tình trạng thoái hóa đất:
- Các nguyên nhân dẫn đến thoái hóa đất ở Việt Nam rất đa dạng và có tính chất phức tạp, chủ yếu có thể chia thành các nhóm sau:
+ Sử dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu quá mức: Việc lạm dụng phân bón và thuốc trừ sâu trong nông nghiệp đã làm mất đi sự cân bằng dinh dưỡng trong đất, khiến đất bị bạc màu, giảm độ phì nhiêu và gây ô nhiễm môi trường.
+ Chặt phá rừng và mất lớp phủ thực vật: Việc chặt phá rừng, khai thác gỗ bừa bãi dẫn đến mất lớp phủ thực vật trên đất, làm cho đất bị xói mòn và dễ dàng bị thoái hóa.
+ Canh tác không bền vững: Việc canh tác đơn điệu, thiếu biện pháp bảo vệ đất, thiếu luân canh, hoặc sử dụng cây trồng không phù hợp với từng vùng đất đã góp phần làm giảm chất lượng đất.
+ Khai thác đất đai quá mức: Việc khai thác tài nguyên đất quá mức để phục vụ cho các nhu cầu xây dựng, phát triển đô thị và công nghiệp đã làm cho đất bị suy giảm chất lượng, khó phục hồi.
+ Biến đổi khí hậu: Các yếu tố như hạn hán, mưa bão cực đoan, nước biển dâng, làm tăng khả năng xói mòn, nhiễm mặn và tình trạng đất bị thoái hóa.
a) Bảo tồn đa dạng sinh học đang là vấn đề cấp thiết ở nước ta hiện nay vì đa dạng sinh học có vai trò quan trọng trong tự nhiên như:
+ Điều hòa khí hậu
+ Làm chỗ ở cho các sinh vật khác
+ Bảo vệ các tài nguyên đất, nước,…
- Đa dạng sinh học có vai trò quan trọng trong thực tiễn
+ Cung cấp nguồn lương thực, thực phẩm
+ Cung cấp giống cây trồng
+ Cung cấp nguồn nhiên liệu, dược liệu
b)Một số biện pháp bảo tồn đa dạng sinh học:
- Thành lập các khu bảo tồn thiên nhiên, khu dự trữ sinh quyển, các vườn quốc gia.
- Ban hành các luật và chính sách nhằm ngăn chặn phá rừng, cấm săn bắt bừa bãi các loài động vật quý hiếm.
- Tuyên truyền nâng cao ý thức của người dân về bảo tồn đa dạng sinh học.
- Ngoài ra, còn một số biện pháp bảo tồn đa dạng sinh học như: Bảo vệ môi trường sống cho các loài động vật hoang dã, bảo tồn động vật hoang dã, trồng cây gây rừng, xử lí rác thải, nhân giống các loài cây quý hiếm,…
a)- Tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa được thể hiện trong lớp phủ thổ nhưỡng ở nước ta là :
+ Khí hậu nóng ẩm của nước ta đã làm cho quá trình phong hoá đá mẹ diễn ra mạnh mẽ tạo ra một lớp phủ thổ nhưỡng dày.
+ Quá trình feralit là quá trình hình thành đất đặc trưng ở nước ta, hình thành các loại đất feralit điển hình cho thổ nhưỡng Việt Nam. Đất có đặc điểm nghèo mùn, chua.
+ Tính chất phân mùa của khí hậu Việt Nam với sự xen kẽ giữa hai mùa khô và mưa đã làm tăng cường quá trình tích luỹ ôxít sắt, ôxít nhôm tạo thành các tầng kết von hoặc đá ong ở vùng trung du, miền núi.+ Lượng mưa lớn lại tập trung vào mùa mưa làm gia tăng hiện tượng xói mòn, rửa trôi ở vùng đồi núi. Đất bị xói mòn, rửa trôi sẽ theo các dòng chảy ra sông ngòi và bồi tụ ở vùng đồng bằng hình thành đất phù sa.
b) Nguyên nhân dẫn đến suy giảm tài nguyên sinh vật ở nước ta là :
- Khai thác sinh vật quá mức trong nhiều năm, thiên tai và biến đổi khí hậu. Các hoạt động đốt rừng làm nương rẫy, du canh du cư, khai thác lâm sản quá mức, đưa chất thải ra môi trường không qua xử lí, sự xâm nhập của các loài ngoại lai,… đe dọa sự sinh tồn của nhiều loài sinh vật.
a) - Về nông nghiệp:
+ Nhà Nguyễn đã quan tâm đến việc tổ chức khai hoang, di dân lập ấp, lập đồn điền ở nhiều tỉnh phía bắc và phía nam,....
+ Địa chủ, cường hào bao chiếm ruộng đất nền nông dân vẫn không có ruộng để cày cấy, phải lưu vong. Ở các tỉnh phía bắc, lụt lội, hạn hán xảy ra thường xuyên.
- Thủ công nghiệp:
+ Có những cải tiến nhất định về kĩ thuật. Nghề khai mỏ được đầy mạnh.
+ Chính sách bắt thợ giỏi vào làm trong các quan xưởng và những quy định ngặt nghèo về mẫu mã của nhà nước phong kiến đã khiến cho một số ngành, nghề thủ công không phát triển được.
- Thương nghiệp:
+ Hoạt động buôn bán trong nước và với nước ngoài ngày càng tăng.
+ Chính sách thuế khóa nặng nề và bế quan tỏa cảng của nhà nước đã kìm hãm sự phát triển của thương nghiệp. Nhiều đô thị, trung tâm buôn bán nổi tiếng từ thời kì trước như Thăng Long, Phố Hiến, Thanh Hà, Hội An dần bị sa sút.
b)- Nét nổi bật về tình hình xã hội:
+ Cuộc sống cơ cực của người dân và các mâu thuẫn xã hội khác đã làm bùng nổ nhiều cuộc nổi dậy chống nhà Nguyễn.
+ Lực lượng tham gia vào những cuộc đấu tranh này gồm nông dân, thợ thuyền, binh lính, nhà nho, nhân dân các dân tộc thiểu số. Một số cuộc khởi nghĩa tiêu biểu, là: khởi nghĩa của Phan Bá Vành (1821 - 1827) ở Thái Bình; khởi nghĩa của Lê Duy Lương (1833) ở Ninh Bình; khởi nghĩa của Nông Văn Vân (1833 - 1835) ở Cao Bằng; khởi nghĩa của Cao Bá Quát (1854 - 1856) ở Hà Nội…
- Suy nghĩ: tính từ năm 1802 đến năm 1862, ở Việt Nam có khoảng 405 cuộc nổi dậy của nhân dân chống triều đình, số lượng các cuộc khởi nghĩa lớn như vậy đã cho thấy:+ Tình hình xã hội bất ổn dưới triều Nguyễn.
+ Đời sống của người dân khổ cực, những mâu thuẫn giữa nhân dân với chính quyền phong kiến ngày càng sâu sắc, khó có thể hòa giải.
ta lựa chọn biểu đồ cột
ta lựa chọn biểu đồ cột
Vì \(d\) // \(C D\) // \(A B\) nên \(M P\) // \(C D\) và \(P N\) // \(A B\).
Xét \(\Delta A D C\) có \(M P\) // \(C D\):
\(\frac{A M}{M D} = \frac{A P}{P C}\)( Định lí Thalès) (1)
Xét \(\Delta A C B\) có \(N P\) // \(A B\):
\(\frac{A P}{P C} = \frac{B N}{N C}\)( Định lí Thalès) (2)
Từ (1), (2) suy ra \(\frac{A M}{M D} = \frac{B N}{N C}\)
b) Chứng minh \(\frac{M P}{D C} = \frac{1}{3}\)
Suy ra \(M P = 2\) cm
Chứng minh \(\frac{N P}{A B} = \frac{2}{3}\).
Suy ra \(P N = \frac{8}{3}\) cm.
Tính được \(M N = \frac{14}{3}\) cm.
a) \(3x\left(\right.x-1\left.\right)-1+x=0\)
=> \(3x\left(\right.x-1\left.\right)+\left(-1+\right.x)=0\)
=> \(3x\left(\right.x-1\left.\right)+\left(x-1\right)=0\)
=> (x−1)( 3x +1) = 0
=> \(\left(\right.x-1\left.\right)=0\) hay ( 3x +1) = 0
*) x - 1 = 0 3x + 1 = 0
x = 1 3x =- 1
x= \(-\frac13\)
Vậy x = 1 hoặc x = \(-\frac13\) b) \(3 x \left(\right. x - 1 \left.\right) - 1 + x = 0\)
b) \(X^2\) - 9x = 0
=> x(x-9) =0
=> x= 0 hoặc x-9 =0
=> x=0 hay x= 9
vật x =0 hoặc x=9
a) \(x^2\) + 25 - 10x
= \(x^2\) - (2.5.x) + \(5^2\)
= \(\left(x-5\right)^2\)
b) \(-8Y^3\) + \(x^3\)
= \(\left(-2\right.Y)^3\) + \(x^3\)
= ( x-2y)(\(4y^2\) + 2xy + \(x^2\) )
a) (2x + 1)*2
= 4x*2 +4x + 1
b) ( a - \(\frac{b}{2}\) )*3
= a*3 - 3a*2.\(\frac{b}{2}\) + 3a.(\(\frac{b}{2}\) )*2 - (\(\frac{b}{2}\) )*2
= a*3 - \(\frac32\) a*2b + \(\frac34\) ab*2 - \(\frac18\) b*3