NGUYỄN NGỌC PHƯƠNG ANH
Giới thiệu về bản thân
Câu 1.
Nhân vật cô Tâm trong truyện ngắn Cô hàng xén của Thạch Lam hiện lên là hình ảnh tiêu biểu cho người phụ nữ nông thôn giàu tình yêu thương và đức hi sinh. Sau một ngày buôn bán vất vả trong cái lạnh và mưa gió, điều khiến Tâm cảm thấy ấm áp không phải là tiền lời mà chính là mái nhà thân thuộc cùng mẹ già và các em nhỏ đang mong đợi cô trở về. Chi tiết cô cẩn thận gói kẹo bỏng cho các em hay niềm vui khi nghe tiếng reo “Chị Tâm đã về” cho thấy tấm lòng yêu thương gia đình tha thiết của cô. Tâm còn là người con, người chị giàu trách nhiệm. Dù tuổi đời còn trẻ, cô đã sớm rời bỏ việc học để gánh vác kinh tế gia đình khi gia cảnh sa sút. Gánh hàng nhỏ bé “chỉ đáng giá hai chục bạc” nhưng lại là tất cả vốn liếng và hi vọng của cả nhà. Qua nhân vật cô Tâm, Thạch Lam không xây dựng những con người phi thường mà nhẹ nhàng phát hiện vẻ đẹp bình dị, âm thầm trong cuộc sống đời thường. Đồng thời, nhà văn cũng bày tỏ sự trân trọng đối với những con người lao động nghèo giàu tình thương và nghị lực.
Câu 2.
Trong cuộc sống, niềm tin vào bản thân là một trong những yếu tố quan trọng giúp con người vượt qua khó khăn và chạm tới thành công. Đối với giới trẻ hiện nay, niềm tin vào bản thân càng trở nên cần thiết bởi đây là thế hệ sống trong một xã hội hiện đại với nhiều cơ hội nhưng cũng không ít áp lực và thử thách.
Niềm tin vào bản thân là sự tin tưởng vào khả năng, giá trị và năng lực của chính mình. Người có niềm tin vào bản thân luôn chủ động, dám nghĩ, dám làm và kiên trì theo đuổi mục tiêu. Ngược lại, khi thiếu tự tin, con người dễ chán nản, sợ thất bại và bỏ lỡ nhiều cơ hội trong cuộc sống.
Giới trẻ ngày nay đang sống trong thời đại phát triển mạnh mẽ của công nghệ và tri thức. Điều đó tạo ra nhiều cơ hội để học tập, sáng tạo và khẳng định bản thân. Tuy nhiên, đây cũng là môi trường cạnh tranh khốc liệt khiến nhiều bạn trẻ rơi vào trạng thái áp lực, tự ti khi so sánh mình với người khác. Mạng xã hội với những hình ảnh hào nhoáng đôi khi khiến không ít người trẻ cảm thấy bản thân kém cỏi, mất phương hướng. Chính vì vậy, niềm tin vào bản thân trở thành “điểm tựa tinh thần” giúp giới trẻ vững vàng hơn trước khó khăn.
Khi có niềm tin vào bản thân, người trẻ sẽ có động lực để vượt qua thử thách. Thất bại không còn là dấu chấm hết mà trở thành bài học để trưởng thành. Thực tế cho thấy nhiều người thành công đều bắt đầu từ sự tự tin và ý chí kiên trì. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng ra đi tìm đường cứu nước với hai bàn tay trắng nhưng vẫn mang trong mình niềm tin mãnh liệt vào tương lai dân tộc. Hay những học sinh nghèo vượt khó, dù điều kiện thiếu thốn nhưng vẫn tin vào bản thân để nỗ lực học tập và đạt thành tích cao. Chính niềm tin đã giúp họ mạnh mẽ hơn trước nghịch cảnh.
Tuy nhiên, trong xã hội hiện nay vẫn còn nhiều bạn trẻ sống thiếu tự tin, ngại thể hiện bản thân, dễ bỏ cuộc khi gặp khó khăn. Một số khác lại rơi vào trạng thái tự tin thái quá, cho rằng mình luôn đúng, từ đó trở nên kiêu ngạo và không biết lắng nghe người khác. Cả hai biểu hiện ấy đều không tích cực. Niềm tin vào bản thân cần đi cùng với sự khiêm tốn và tinh thần cầu tiến.
Để xây dựng niềm tin vào bản thân, trước hết mỗi người trẻ cần hiểu rõ điểm mạnh, điểm yếu của mình để phát huy và hoàn thiện bản thân từng ngày. Đồng thời, cần không ngừng học hỏi, rèn luyện kiến thức và kỹ năng sống. Khi có sự chuẩn bị tốt, con người sẽ tự tin hơn trước mọi thử thách. Bên cạnh đó, gia đình, nhà trường và xã hội cũng cần tạo môi trường tích cực để người trẻ được động viên, khích lệ và phát triển năng lực của mình.
Là học sinh, chúng ta cần rèn luyện sự tự tin từ những việc nhỏ như mạnh dạn phát biểu ý kiến, dám thử sức ở những hoạt động mới hay kiên trì theo đuổi mục tiêu học tập. Tin vào bản thân không có nghĩa là luôn thành công, mà là dù thất bại vẫn không ngừng cố gắng.
Niềm tin vào bản thân chính là chìa khóa mở ra cánh cửa thành công và hạnh phúc. Trong hành trình trưởng thành, người trẻ cần học cách tin vào chính mình để sống bản lĩnh, tích cực và tạo nên giá trị tốt đẹp cho xã hội.
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm.
Câu 2. Hình ảnh đời mẹ được so sánh với bến vắng bên sông, cây tự quên mình trong quả, trời xanh nhẫn nại sau mây.
Câu 3:
– Biện pháp tu từ ẩn dụ:
+ Quả chín: ẩn dụ cho sự khôn lớn, thành công của con cái.
+ cây: ẩn dụ cho hình ảnh người mẹ.
Quả chín rồi ai dễ nhớ ơn cây: khi lớn khôn, trưởng thành, mấy ai còn nhớ tới công lao chăm sóc, dưỡng dục của mẹ.
– Tác dụng của biện pháp tu từ ẩn dụ:
+ Giúp cho câu thơ trở nên gợi hình, gợi cảm hơn.
+ Khẳng định công lao to lớn của mẹ; đưa ra bức thông điệp về việc hãy biết ơn người mẹ đã sinh ra ta, nuôi nấng ta khôn lớn.
Câu 4. Hai dòng thơ Con muốn có lời gì đằm thắm/ Ru tuổi già của mẹ tháng năm nay khẳng định tình cảm yêu thương, trân trọng, quan tâm, lo lắng của người con đối với người mẹ.
Câu 5. cần biết ơn công lao trời bể của mẹ, cần quan tâm, yêu thương mẹ mỗi ngày.
a.
b. Từ 0s \(\rarr\) 15s: Nam chuyển động thẳng đều với vận tốc: \(v=\frac{d}{t}=\frac{30-0}{15}=2\) (m/s)
Từ 15s \(\rarr\) 25s: Nam dừng lại, không chuyển động
c. Vận tốc của Nam trong 15s đầu là:
\(v=\frac{d}{t}=\frac{30-0}{15}=2\) (m/s)
Vận tốc của Nam trong cả quá trình chuyển động là:
\(v=\frac{d}{t}=\frac{30}{25}=1,2\) (m/s)
Đổi 54,8 km/h = 18 m/s; 54km/h = 15 m/s; 36 km/h = 10 m/s
a. Gia tốc của ô tô là: a= \(\frac{vt-vo}{t}=\frac{15-18}{10}=-0,3\) (m/s2)
Thời gian kể từ lúc hãm phanh đến lúc đạt vận tốc v=36km/h=10m/s là:
\(vt=vo+a.t\rArr t=\frac{vt-vo}{a}=\frac{10-18}{-0,3}=26,7\) (s)
b. Thời gian kể từ lúc hãm phanh đến lúc ô tô dừng hẳn là:
\(t=\frac{vt-vo}{a}=\frac{0-18}{-0,3}=60\) (s)
c. Quãng đường ô tô đi được cho đến lúc dừng lại là:
\(v^2-vo^2=2.a.d=2.a.S\)
\(\rArr S=\frac{v^2-vo^2}{2.a}=\frac{0^2-18^2}{2.\left(-0.3\right)}=540\) (m)