NGUYỄN MINH THU
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
Truyện ngắn Con chim vàng của Nguyễn Quang Sáng là một tác phẩm giàu giá trị nhân đạo, phản ánh số phận đau khổ của những đứa trẻ nghèo trong xã hội cũ. Nhân vật trung tâm của truyện là cậu bé Bào – một đứa ở đợ nhỏ tuổi, phải sống trong cảnh áp bức, sợ hãi và bất công. Vì món nợ của mẹ, Bào bị ép làm những việc nguy hiểm, thậm chí đánh đổi cả tính mạng chỉ để thỏa mãn mong muốn ích kỉ của cậu chủ. Hình ảnh Bào liều mình trèo cây bắt chim và rơi xuống trong đau đớn là cao trào bi kịch của truyện, tố cáo sự vô cảm, tàn nhẫn của người lớn đối với trẻ em nghèo khổ. Chi tiết Bào đưa tay cầu cứu nhưng chỉ nhận lại sự thờ ơ càng khắc sâu nỗi cô độc, tuyệt vọng của em. Qua câu chuyện về con chim vàng, Nguyễn Quang Sáng bày tỏ niềm xót thương sâu sắc đối với những phận người bé nhỏ, đồng thời lên án xã hội bất công đã chà đạp quyền sống và nhân phẩm con người.
Câu 2:
Trong cuộc sống, không phải vật chất hay danh vọng mà chính tình yêu thương mới là điều làm nên giá trị đích thực của con người. Tình yêu thương là sự quan tâm, sẻ chia, đồng cảm giữa người với người, giúp con người xích lại gần nhau hơn và làm cho cuộc sống trở nên ấm áp, ý nghĩa.
Trước hết, tình yêu thương là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn giúp con người vượt qua khó khăn, thử thách. Khi được sống trong yêu thương, con người cảm thấy được che chở, được tiếp thêm niềm tin để vươn lên. Một lời động viên đúng lúc, một cử chỉ quan tâm chân thành cũng có thể giúp người khác đứng dậy sau thất bại. Đặc biệt, với những mảnh đời bất hạnh, tình yêu thương chính là ánh sáng soi đường, giúp họ không gục ngã trước số phận.
Không chỉ vậy, tình yêu thương còn góp phần nuôi dưỡng nhân cách và hoàn thiện con người. Một người biết yêu thương sẽ biết sống vị tha, nhân ái, biết đặt mình vào vị trí của người khác để thấu hiểu và chia sẻ. Chính tình yêu thương giúp con người tránh xa lối sống ích kỉ, vô cảm – căn bệnh đáng lo ngại trong xã hội hiện đại. Một cộng đồng chỉ thật sự bền vững khi mỗi cá nhân biết sống vì nhau, sẵn sàng giúp đỡ nhau lúc hoạn nạn.
Bên cạnh đó, tình yêu thương còn là nền tảng để xây dựng gia đình hạnh phúc và xã hội tốt đẹp. Gia đình là nơi tình yêu thương được thể hiện rõ ràng nhất qua sự chăm sóc của cha mẹ, sự đùm bọc giữa các thành viên. Khi gia đình tràn đầy yêu thương, con người sẽ có điểm tựa vững chắc để bước ra cuộc sống. Từ những gia đình giàu tình yêu thương sẽ hình thành một xã hội nhân văn, nơi con người đối xử với nhau bằng sự tử tế và trách nhiệm.
Tuy nhiên, trong thực tế, vẫn còn nhiều người sống thờ ơ, chỉ biết đến lợi ích cá nhân mà quên đi việc quan tâm đến người khác. Sự vô cảm ấy khiến con người trở nên cô độc, xã hội trở nên lạnh lùng và đầy rạn nứt. Vì vậy, mỗi người cần tự ý thức nuôi dưỡng tình yêu thương từ những hành động nhỏ nhất: biết lắng nghe, biết chia sẻ, biết giúp đỡ người khác khi có thể.
Tóm lại, tình yêu thương có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc sống. Nó không chỉ mang lại hạnh phúc cho người nhận mà còn làm giàu tâm hồn của chính người cho đi. Sống yêu thương chính là cách để con người sống đẹp hơn, nhân văn hơn và làm cho cuộc đời này trở nên tốt đẹp hơn.
Câu 1
Phương thức biểu đạt chính là tự sự
Câu 2
Là hoạt động đầy kịch tính đẩy nhân vật Bào 12 tuổi vào sự bất lực là sự cô đơn tột cùng khi cố gắng làm hài lòng chủ
Câu 3
Ngôi thứ ba
Người kể giấu mình gọi tên nhân vật
Tác dụng : mang tính khách quan , bao quát toàn cảnh , tăng sức biểu cảm, hấp dẫn.
Câu 4
Mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc về sự khao khát tình yêu thương, sự hối hận muộn màng và bi kịch của chiến tranh thể hiện khát vọng sống và tình mẫu tử thiêng liêng
Câu 5
Nhân vật Bào trong đoạn trích "Con chim vàng" của Nguyễn Quang Sáng là một cậu bé nghèo khổ, khao khát tình thương và sự sở hữu, nhưng phải gánh chịu nỗi đau bất hạnh và sự cô đơn tột cùng Bào hiện lên là nạn nhân của hoàn cảnh, đáng thương hơn đáng trách, với tâm lý phức tạp vừa ngây thơ vừa u uất. Qua đó, tác giả thể hiện sự thấu hiểu, cảm thông sâu sắc với số phận bất hạnh của trẻ em và sự phê phán ngầm sự bất công xã hội.
Con người chúng ta chỉ sống một lần duy nhất trên đời, hãy là những đóa hoa nở rộ, cống hiến những điều tốt đẹp nhất cho xã hội bằng sự sáng tạo của mình. Sáng tạo là phát minh ra những thứ mới lạ giúp cho cuộc sống chúng ta trở nên thuận tiện, dễ dàng, hiện đại, tiện nghi hơn để thay thế cho những thứ có sẵn. Sự sáng tạo vô cùng quan trọng và cần thiết trong thời kì phát triển của xã hội hiện nay. Người có sự sáng tạo là những người luôn cố gắng tìm tòi, học hỏi, phát minh ra những cái hay nhằm mục đích để cuộc sống luôn dễ dàng. Họ luôn muốn tìm ra cái mới để cải thiện những cái cũ, thậm chí là đi trước xu hướng của thời đại.Như giáo sư người Anh Sarah Gilbert trước mối hiểm họa của covid 19, bà đã nghiên cứu và chế tạo thành công vaccine AstraZeneca. Dù đã 59 tuổi nhưng bà luôn là người chăm chỉ làm việc, nghiên cứu từ 4 giờ sáng đến khi tối muộn. Nhờ vậy mà vaccine AstraZeneca được ra đời, hàng triệu người trên thế giới được cứu sống. Qua đó ta cũng thấy quá trình sáng tạo chưa bao giờ là đơn giản, chúng ta sẽ gặp muôn vàn khó khăn, phải đánh đổi nhiều thứ, là thời gian, công sức, tiền bạc, thế nhưng sau tất cả, thành quả của những sáng tạo ấy lại thật ngọt ngào. Sự sáng tạo giúp con người làm được những điều tưởng như không thể, nó giúp con người vượt qua những khó khăn và rút ngắn được thời gian khi làm việc. Bên cạnh đó, sự sáng tạo khiến cho cuộc sống của con người trở nên tiện ích hơn, không chỉ giải quyết được những nhu cầu cần thiết mà còn khiến cho cuộc sống con người thêm thú vị hơn. Tuy nhiên, trong cuộc sống vẫn còn không ít người có tư duy, lối sống lạc hậu không chịu tiếp thu, sáng tạo để tiến bộ mà cứ ôm khư khư cách nghĩ của mình, những người này đáng bị xã hội phê phán, chỉ trích. Chúng ta được lựa chọn cách sống của mình để phát triển bản thân cũng như giúp ích cho xã hội, hãy sáng tạo trong công việc và cuộc sống để đạt hiệu quả cao nhất cũng như phát triển bản thân mình để trở thành phiên bản tốt nhất.
Câu 2: Bài làm:
Chiến tranh nổ ra! Bao gia đình phải chia ly, bấy nhiêu bóng dáng hào kiệt đã ngã xuống, máu hòa với nỗi hận chôn sâu dưới làn mưa bom đạn. Vậy mà, mặc cho chiến tranh có tàn phá nặng nề đến mức nào, thì hình ảnh Phi và ông Sáu Đèo trong tác phẩm “Biển người mênh mông” của Nguyễn Ngọc Tư vẫn đậm sâu, đẹp đẽ một cách lạ thường. Đặc biệt, 2 nhân vật này là đại diện cho con người Nam Bộ đã để lại trong lòng người đọc nhiều cảm xúc khó tả, để rồi người ta thêm vững lòng tin vào một thứ tình cảm thiêng liêng, bất diệt.
Chuyện kể về ông Sáu Đèo được về quê sau chín năm xa cách dài đằng đẵng. Ông là một người chiến sĩ nông dân vùng Nam Bộ. Với lòng yêu nước mãnh liệt cùng sự căm ghét quân giặc sâu sắc, ông đã tham gia vào cuộc kháng chiến. Ngày ông đi, ông đã cố gắng gạt đi sự quyến luyến, tình yêu thương gia đình. Để lại sau lưng là ánh mắt non nớt cùng người vợ tảo tần để đi theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc. Quyết hy sinh đến tận hơi thở cuối cùng để bảo vệ từng mảnh đất, ngọn cỏ của dân tộc. Có thể nói, ông chính là hình ảnh đại diện cho lòng yêu nước của người nông dân Nam Bộ chân chất, mộc mạc.
Phi sinh ra đã không có ba, năm tuổi rưỡi, má Phi cũng theo chồng ra chợ sống. Phi ở với bà ngoại, chiu chít quanh quẩn bên chân bà như gà mẹ gà con. Thấy Phi suốt ngày thui thủi một mình, ngoại biểu đi hàng xóm chơi, Phi lắc đầu, "Đi đâu ai người ta cũng bảo giống ông Hiểu nào, trưởng đồn Vàm Mấm nào á. Con với ổng nước lã, người dưng mà, ngoại?" Ngoại không nói gì, lặng lẽ ngồi đương thúng, dường như trong mình có chỗ nào đó đau lắm, nhói lắm.
Khi Phi lên mười, mười lăm tuổi đã biết rất nhiều chuyện. Thì ra, đã không còn cách nào khác, má mới bỏ Phi lại. Sau giải phóng, ba Phi về, xa nhau biền biệt chín năm trời, về nhà thấy vợ mình có đứa con trai chưa đầy sáu tuổi, ông chết lặng. Đây là kết quả cưỡng bức của tên đồn trưởng Rạch Vàm Nấm với mẹ của Phi. Ngoại Phi bảo, "Tụi bây còn thương thì mai mốt ra tỉnh nhận công tác, rủ nhau mà đi, để thằng Phi lại cho má". Má cũng hay về thăm Phi, thường là về một mình. Tất bật, vội vã, không làm gì cũng vội vã. Lần nào cũng hối hả kéo Phi vào lòng hỏi còn tiền xài không, lúc rày học hành thế nào, có tiếp ngoại vót nan không, sao mà ốm nhom vậy? Rồi từ từ má chỉ hỏi anh chuyện tiền xài thôi.
Hết cấp hai, Phi lên thị xã mướn nhà trọ học, một năm mấy lần lại nhờ má đi họp phụ huynh. Ba Phi thì hội họp, công tác liên miên, Phi ít gặp. Ông thay đổi nhiều, diện mạo, tác phong nhưng gặp Phi, cái nhìn vẫn như xưa, lạnh lẽo, chua chát, đắng caỵ, dứt khoát không nhìn con như vậy. Ông hay chê Phi với má, "Cái thằng, lừ đừ lừ đừ không biết giống ai" . Hết lớp mười, Phi vừa học vừa tìm việc làm thêm. Má anh rầy, "Bộ má nuôi không nổi sao?" Phi cười, "Má còn cho mấy đứa em, phải lo cho tụi nó học cao hơn nữa. Tự mình con sống cũng được, má à. Rồi Phi thôi học đi theo đoàn hát, má anh giận tím ruột bầm gan, "Ai đời ba mầy làm tới chức phó chủ tịch, không lẽ không lo cho mầy một chỗ làm tử tế, sao lại vác cây đờn đi hò hát lông bông. Làm vậy khác nào làm ổng mất mặt". Chỉ ngoại Phi là không rầy, ngoại anh hỏi, "Bộ làm nghề đó vui lắm hả con? Thoải mái chớ gì? Phải rồi, hồi xưa má con đẻ rớt con trên bờ mẫu, mở mắt ra đã thấy mênh mông trời đất rồi, bây giờ bị bó buộc con đâu có chịu". Phi chỉ cười cười mà không nói. Nhờ vậy, mà người ở xóm lao động nghèo nầy biết thằng Phi "nghệ sỹ" vẫn còn ở đây, trong căn nhà cửa trước lúc nào cũng khép im ỉm. Ở trong cái tổ bê bối của mình, Phi ngủ vùi đến trưa hôm sau. Ngoại biểu anh cưới vợ hoài, nhưng Phi nghĩ mãi, có ai chịu đựng được anh chồng lang thang say xỉn như mình, hồi còn là một hòn máu thoi thót anh đã làm khổ bao nhiêu người rồi, bây giờ lấy vợ không phải lại làm khổ thêm một người nữa sao?
Rồi ngoại Phi nằm xuống dưới ba tấc đất, đôi bông tai bằng cẩm thạch ngoại để dành cho cháu dâu vẫn còn nằm im trong hộc tủ thờ. Còn một mình, anh đâm ra lôi thôi, ba mươi ba tuổi rồi mà sống lôi thôi, nghèo hoài. Ngó cảnh nhà, Phi tự hỏi, mình sống bê bối từ hồi nào vậy cà. Từ hồi nào thì phong trần, bụi bặm, khắc khổ, ăn bận lôi thôi, quần Jean bạc lổ chổ, lai rách te tua, áo phông dài quá mông, râu ria rậm rạp, móng tay dài, tóc dài. Từ hồi nào muốn soi kiếng phải lấy tay vẹt mớ râu tóc ra như người ta vẹt bụi ô rô. Không biết, có ai la rầy, có ai để ý đâu mà biết. Má anh lâu lâu lại hỏi anh đủ tiền xài không, bà có nhìn anh nhưng không quan tâm lắm chuyện ăn mặc, tóc tai. Ngoài ngoại ra, chỉ có ông Sáu Đèo nhắc anh chuyện đó. Cuộc đời của ông Sáu Đèo sau khi người vợ bỏ đi, không con cái, chỉ làm bạn với con chim bìm bịp, lang thang bán vé số nay đây mai đó ở tuổi xế chiều, cô đơn. Nỗi nhớ và tiếng kêu thắt lòng của con chim bìm bịp nhắc về ông Sáu Đèo đang tiếp tục lưu lạc trên chặng đường nào. Nỗi cô đơn của Phi giữa biển người mênh mông.
Trời trở chướng, ông Sáu than đau nhức mình. Phi qua nhà cạo gió cho ông. Lần theo những chiếc xương gồ ra trên thân mình nhỏ thó, ốm teo, Phi buột miệng "Bác Sáu ốm quá". Ông già Sáu cười. Ông biểu, "Sống một mình thì buồn lắm, chú em nên nuôi con gì đó, con... vợ thì tốt nhất, nếu chưa tính chuyện đó được thì nuôi chó, mèo, chim chóc. Đừng nuôi sáo, nuôi sáo kết cục rồi cũng chia ly hà, nó hay sổ lồng, chết yểu. Kiếm thứ dân dã mà nuôi, để nhớ quê, nhớ gốc rễ mình, để đi đâu cũng muốn về nhà. Cuộc sống nghèo vậy mà vui lắm. Phi hỏi, "Vậy bác Sáu gái đâu rồi ?" Ông già rên khẽ, gương mặt ràn rụa nước mắt, Phi giật mình, hỏi quýnh quáng. Ông già Sáu mếu máo chỉ về phía tim, ông đã tìm người vợ gần bốn mươi năm, dời nhà cả thảy ba mươi ba bận, bỏ cả sông nước vốn gắn bó như máu thịt, lên bờ tìm kiếm để nói lời xin lỗi với vợ; cử chỉ “lấy tay quệt nước mắt” và câu hỏi day dứt trong ông: “Cái con bìm bịp quỷ nầy nó cũng bỏ qua mấy lần nhưng ngủ một đêm trên đọt dừa nó lại quay về. Sao cổ không quay lại?”,ông bảo đã ở đây một năm hai tháng mười chín ngày rồi, ngõ nào cũng đi hẻm nào cũn...
Câu 1: Kiểu văn bản là văn bản thông tin
Câu 2: Các hình ảnh, chỉ tiết
Rao hàng bằng "Cây bẹo", cầm dựng đứng trên ghe xuống.
"Bẹo" hàng bằng các âm thanh lạ tại từ những chiếc kèn.
Các cô gái bản đã ăn thức uống thì "họn hàng" hằng lí t
Câu 3: Sử dụng địa danh trong hội làm cho thêm sinh động, có tính minh bạch, xác đáng và phong phú.
Câu 4: Phương tiên giao tiếp phi ngôn ngữ trong bài giúp cho người dọc có cái nhìn trực qua về thông tin, tăng tính xác thực.
Câu 5: Chợ nổi là một nét văn hóa vùng sông nước vô cùng độc đáo đối với người dân miền Tây cũng như khách du lịch trên toàn thế giới. Đối với người miền Tây sông nước, chợ nổi như một bức tranh cuộc sống sinh động, nhiều sắc màu với các xuồng, ghe bản những hàng hóa rực rỡ tạo nên một nét văn hóa đặc sắc của người dân vùng đồng bằng châu thổ phía Nam đất nước,
Câu 1
Trong bối cảnh xã hội hiện đại không ngừng biến đổi, tính sáng tạo trở thành một phẩm chất đặc biệt quan trọng đối với thế hệ trẻ. Sáng tạo giúp người trẻ nhìn nhận vấn đề theo nhiều góc độ mới mẻ, từ đó tìm ra những giải pháp hiệu quả và khác biệt. Không chỉ dừng lại ở học tập, sáng tạo còn là chìa khóa để thích nghi với môi trường làm việc đầy cạnh tranh, nơi những ý tưởng độc đáo luôn được đánh giá cao. Người trẻ có tư duy sáng tạo thường chủ động, linh hoạt và dám thử nghiệm những điều mới, nhờ đó dễ đạt được thành công hơn.
Bên cạnh đó, sáng tạo còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Những phát minh, cải tiến hay cách làm mới đều bắt nguồn từ tư duy sáng tạo của con người, đặc biệt là thế hệ trẻ – lực lượng năng động và giàu tiềm năng. Tuy nhiên, sáng tạo không phải là điều tự nhiên có sẵn mà cần được rèn luyện thông qua học hỏi, trải nghiệm và dám vượt qua giới hạn bản thân. Vì vậy, mỗi người trẻ cần nuôi dưỡng trí tưởng tượng, tinh thần đổi mới để khẳng định giá trị của mình và đóng góp tích cực cho xã hội.
Câu 2:
Trong truyện ngắn Biển người mênh mông của Nguyễn Ngọc Tư, hình ảnh con người Nam Bộ hiện lên chân thực, giản dị mà giàu tình nghĩa qua hai nhân vật Phi và ông Sáu Đèo. Qua đó, nhà văn đã khắc họa vẻ đẹp tâm hồn của những con người sống giữa cuộc đời nhiều mất mát nhưng vẫn giữ được tình người ấm áp.
Trước hết, nhân vật Phi đại diện cho lớp người trẻ Nam Bộ với số phận nhiều thiệt thòi nhưng giàu nghị lực. Sinh ra trong hoàn cảnh éo le, thiếu thốn tình cảm gia đình, Phi lớn lên trong sự lạnh nhạt của cha và khoảng cách với mẹ. Những tổn thương ấy khiến anh sống lôi thôi, buông xuôi phần nào cuộc đời. Tuy nhiên, ẩn sâu bên trong vẫn là một con người giàu tình cảm. Phi biết quan tâm đến người khác, sẵn sàng giúp đỡ ông Sáu Đèo, nhận nuôi con bìm bịp và giữ lời hứa. Chính sự chân thành, nghĩa tình ấy thể hiện nét đẹp mộc mạc, thật thà của con người Nam Bộ.
Bên cạnh đó, ông Sáu Đèo là hình ảnh tiêu biểu cho lớp người già Nam Bộ giàu tình nghĩa, thủy chung và nhân hậu. Cuộc đời ông gắn liền với sông nước, lênh đênh và nghèo khó, nhưng luôn chan chứa tình cảm. Đặc biệt, tình yêu của ông dành cho người vợ đã bỏ đi là minh chứng rõ nét cho sự thủy chung son sắt. Dù đã gần bốn mươi năm, ông vẫn không ngừng tìm kiếm chỉ để “xin lỗi”. Điều đó cho thấy một tấm lòng chân thành, biết trân trọng tình nghĩa và sống có trách nhiệm với quá khứ.
Ngoài ra, ông Sáu còn là người sống tình cảm và tin người. Trước khi ra đi, ông gửi lại con bìm bịp cho Phi, đặt trọn niềm tin vào anh. Hành động ấy vừa thể hiện sự gắn bó giữa những con người xa lạ, vừa cho thấy nét đẹp “trọng tình” của người Nam Bộ.
Về nghệ thuật, tác phẩm mang đậm phong cách của Nguyễn Ngọc Tư với ngôn ngữ giản dị, giàu chất đời thường và đậm màu sắc Nam Bộ. Cách kể chuyện tự nhiên, xen lẫn những đoạn đối thoại chân thực giúp nhân vật hiện lên sống động. Đặc biệt, việc khai thác nội tâm nhân vật tinh tế đã làm nổi bật những rung động sâu kín, tạo nên chiều sâu cảm xúc cho tác phẩm.
Tóm lại, qua hai nhân vật Phi và ông Sáu Đèo, truyện ngắn đã khắc họa thành công vẻ đẹp của con người Nam Bộ: mộc mạc, chân thành, giàu tình nghĩa và thủy chung. Dù cuộc đời còn nhiều mất mát, họ vẫn sống nhân hậu, bao dung, làm sáng lên giá trị của tình người trong “biển người mênh mông” của cuộc đời.
Dưới đây là gợi ý trả lời cho các câu hỏi đọc hiểu dựa trên bài thơ "Kính gửi mẹ" của nhà thơ Ý Nhi:
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính
* Đáp án: Biểu cảm (kết hợp với tự sự và miêu tả).
Câu 2: Hình ảnh đời mẹ được so sánh với những sự vật, hiện tượng nào?
Trong đoạn trích, cuộc đời người mẹ được so sánh với:
* Bến vắng bên sông: Nơi đón nhận những con thuyền tránh gió (thể hiện sự bao dung, là nơi nương tựa bình yên).
* Cây tự quên mình trong quả: (Thể hiện sự hy sinh thầm lặng, chắt chiu tất cả dưỡng chất cho con).
* Trời xanh nhẫn nại sau mây: (Thể hiện sự kiên trì, đức hy sinh và tình yêu bền vững bất chấp khó khăn).
* Con đường nhỏ dẫn về bao tổ ấm: (Người mẹ là cầu nối, là nguồn cội của hạnh phúc gia đình).
Câu 3: Biện pháp tu từ trong câu "Quả chín rồi ai dễ nhớ ơn cây" và tác dụng
* Biện pháp tu từ: Câu hỏi tu từ (ẩn dụ qua hình ảnh "quả chín" và "cây").
* Tác dụng:
* Nội dung: Nhắc nhở về đạo lý "uống nước nhớ nguồn". "Quả chín" là thành quả, là sự trưởng thành của con cái; "cây" chính là sự hy sinh, nuôi dưỡng của cha mẹ. Câu hỏi xoáy sâu vào sự vô tâm có thể có của con người, từ đó thức tỉnh lòng biết ơn đối với đấng sinh thành.
* Nghệ thuật: Làm cho lời thơ giàu sức gợi, tạo chiều sâu suy ngẫm và tăng sức biểu cảm cho bài thơ.
Câu 4: Hiểu nội dung hai dòng thơ: "Con muốn có lời gì đằm thắm / Ru tuổi già của mẹ tháng năm nay"
Hai câu thơ thể hiện:
* Tình cảm hiếu thảo: Sự thấu hiểu và lòng trắc ẩn của người con trước tuổi già của mẹ.
* Sự mong muốn đền đáp: Người con không chỉ muốn nhận tình yêu từ mẹ mà còn muốn trở thành điểm tựa tinh thần, dùng sự quan tâm và những lời yêu thương ("lời đằm thắm") để an ủi, xoa dịu những vất vả, lo âu trong những năm tháng xế chiều của mẹ.
Câu 5: Bài học rút ra cho bản thân
* Bài học về lòng biết ơn: Phải luôn trân trọng và ghi nhớ công ơn sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ vì đó là sự hy sinh vô điều kiện.
* Bài học về sự thấu hiểu: Cần quan tâm đến cha mẹ nhiều hơn, đặc biệt là khi họ về già, vì lúc đó họ cần nhất là sự đồng hành và những lời yêu thương từ con cái.
* Bài học về hành động: Đừng đợi đến khi thành công mới báo hiếu; hãy yêu thương và chăm sóc cha mẹ từ những điều nhỏ nhặt nhất ngay hôm nay.
Câu 1:
Câu nói của Mark Twain gợi ra một triết lí sống sâu sắc: con người thường hối tiếc không phải vì những điều đã làm, mà vì những cơ hội đã bỏ lỡ. Trong cuộc sống, “bến đỗ an toàn” tượng trưng cho sự quen thuộc, ổn định nhưng cũng dễ khiến ta trì trệ, ngại thay đổi. Nếu chỉ mãi ở trong vùng an toàn, con người sẽ không khám phá được khả năng của bản thân, không dám thử sức với những điều mới mẻ và vì thế đánh mất nhiều cơ hội quý giá. Tuổi trẻ là quãng thời gian thích hợp nhất để “tháo dây, nhổ neo”, dám nghĩ, dám làm và dám thất bại. Thất bại không đáng sợ, bởi nó mang lại bài học và trải nghiệm, giúp ta trưởng thành hơn. Ngược lại, sự do dự, sợ hãi mới là điều khiến ta nuối tiếc lâu dài. Tuy nhiên, dám bước ra không có nghĩa là hành động mù quáng, mà cần có mục tiêu, suy nghĩ chín chắn. Như vậy, câu nói khuyến khích mỗi người sống chủ động, mạnh dạn theo đuổi ước mơ để sau này không phải tiếc nuối vì những điều mình chưa từng thử.
Câu 2:
Trong đoạn trích truyện ngắn Trở về của Thạch Lam, nhân vật người mẹ hiện lên với vẻ đẹp cảm động, tiêu biểu cho hình ảnh người phụ nữ nông thôn giàu tình yêu thương và đức hi sinh.
Trước hết, người mẹ là hiện thân của sự tần tảo, lam lũ. Dù thời gian trôi qua, cuộc sống vẫn nghèo khó, bà “vẫn mặc cái bộ áo cũ kĩ”, sống trong ngôi nhà xơ xác, thấp bé. Chi tiết ấy cho thấy cuộc đời vất vả, thiếu thốn nhưng bà vẫn chấp nhận, âm thầm chịu đựng để nuôi con khôn lớn. Sự hi sinh của bà không chỉ ở vật chất mà còn ở tinh thần: sống cô đơn, chỉ có “con Trinh” làm bạn, nhưng vẫn luôn hướng về con trai nơi thành phố.
Bên cạnh đó, người mẹ còn là biểu tượng của tình yêu thương con vô bờ bến. Khi gặp lại con sau nhiều năm xa cách, bà “ứa nước mắt”, xúc động không nói nên lời. Những câu hỏi dồn dập, sự quan tâm ân cần về sức khỏe, công việc của con cho thấy nỗi nhớ thương và lo lắng luôn thường trực trong lòng bà. Dù con vô tâm, lạnh nhạt, bà vẫn không trách móc mà chỉ lặng lẽ yêu thương. Ngay cả khi nhận tiền từ con, bà “run run đỡ lấy”, “rơm rớm nước mắt” – đó không phải niềm vui vì tiền bạc mà là nỗi tủi thân xen lẫn tình thương con sâu sắc.Đặc biệt, người mẹ còn thể hiện sự bao dung và vị tha. Trước thái độ hờ hững, dửng dưng của Tâm, bà vẫn cố gắng níu giữ con bằng lời mời “ở đây ăn cơm đã”, mong có thêm chút thời gian sum họp. Dù bị tổn thương, bà không hề oán trách mà chỉ âm thầm chấp nhận. Chính sự im lặng ấy lại càng làm nổi bật nỗi đau và tình mẫu tử thiêng liêng.
Qua hình tượng người mẹ, nhà văn đã bày tỏ niềm xót thương đối với những người phụ nữ nghèo trong xã hội cũ, đồng thời lên án sự vô tâm, ích kỉ của những người con như Tâm. Nhân vật người mẹ không chỉ khiến người đọc xúc động mà còn nhắc nhở mỗi người phải biết trân trọng tình thân, sống có trách nhiệm và yêu thương gia đình.
Câu 1:
Câu nói của Mark Twain gợi ra một triết lí sống sâu sắc: con người thường hối tiếc không phải vì những điều đã làm, mà vì những cơ hội đã bỏ lỡ. Trong cuộc sống, “bến đỗ an toàn” tượng trưng cho sự quen thuộc, ổn định nhưng cũng dễ khiến ta trì trệ, ngại thay đổi. Nếu chỉ mãi ở trong vùng an toàn, con người sẽ không khám phá được khả năng của bản thân, không dám thử sức với những điều mới mẻ và vì thế đánh mất nhiều cơ hội quý giá. Tuổi trẻ là quãng thời gian thích hợp nhất để “tháo dây, nhổ neo”, dám nghĩ, dám làm và dám thất bại. Thất bại không đáng sợ, bởi nó mang lại bài học và trải nghiệm, giúp ta trưởng thành hơn. Ngược lại, sự do dự, sợ hãi mới là điều khiến ta nuối tiếc lâu dài. Tuy nhiên, dám bước ra không có nghĩa là hành động mù quáng, mà cần có mục tiêu, suy nghĩ chín chắn. Như vậy, câu nói khuyến khích mỗi người sống chủ động, mạnh dạn theo đuổi ước mơ để sau này không phải tiếc nuối vì những điều mình chưa từng thử.
Câu 2:
Trong đoạn trích truyện ngắn Trở về của Thạch Lam, nhân vật người mẹ hiện lên với vẻ đẹp cảm động, tiêu biểu cho hình ảnh người phụ nữ nông thôn giàu tình yêu thương và đức hi sinh.
Trước hết, người mẹ là hiện thân của sự tần tảo, lam lũ. Dù thời gian trôi qua, cuộc sống vẫn nghèo khó, bà “vẫn mặc cái bộ áo cũ kĩ”, sống trong ngôi nhà xơ xác, thấp bé. Chi tiết ấy cho thấy cuộc đời vất vả, thiếu thốn nhưng bà vẫn chấp nhận, âm thầm chịu đựng để nuôi con khôn lớn. Sự hi sinh của bà không chỉ ở vật chất mà còn ở tinh thần: sống cô đơn, chỉ có “con Trinh” làm bạn, nhưng vẫn luôn hướng về con trai nơi thành phố.
Bên cạnh đó, người mẹ còn là biểu tượng của tình yêu thương con vô bờ bến. Khi gặp lại con sau nhiều năm xa cách, bà “ứa nước mắt”, xúc động không nói nên lời. Những câu hỏi dồn dập, sự quan tâm ân cần về sức khỏe, công việc của con cho thấy nỗi nhớ thương và lo lắng luôn thường trực trong lòng bà. Dù con vô tâm, lạnh nhạt, bà vẫn không trách móc mà chỉ lặng lẽ yêu thương. Ngay cả khi nhận tiền từ con, bà “run run đỡ lấy”, “rơm rớm nước mắt” – đó không phải niềm vui vì tiền bạc mà là nỗi tủi thân xen lẫn tình thương con sâu sắc.Đặc biệt, người mẹ còn thể hiện sự bao dung và vị tha. Trước thái độ hờ hững, dửng dưng của Tâm, bà vẫn cố gắng níu giữ con bằng lời mời “ở đây ăn cơm đã”, mong có thêm chút thời gian sum họp. Dù bị tổn thương, bà không hề oán trách mà chỉ âm thầm chấp nhận. Chính sự im lặng ấy lại càng làm nổi bật nỗi đau và tình mẫu tử thiêng liêng.
Qua hình tượng người mẹ, nhà văn đã bày tỏ niềm xót thương đối với những người phụ nữ nghèo trong xã hội cũ, đồng thời lên án sự vô tâm, ích kỉ của những người con như Tâm. Nhân vật người mẹ không chỉ khiến người đọc xúc động mà còn nhắc nhở mỗi người phải biết trân trọng tình thân, sống có trách nhiệm và yêu thương gia đình.
*Đối với kinh tế
- Tạo ra các ngành sản xuất tự động năng suất lao động nâng cao có thể giải quyết một tổ hợp lớn các bài toán sản xuất công nghiệp hiện đại và đem lại hiệu quả kinh tế to lớn
+ Đưa nhân loại sang nền văn minh thông tin
+ Phát triển thương mại điện tử, thương mại toàn cầu
+ Thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa và khu vực hóa nền kinh tế thế giới
*Đối với văn hóa
- Tác động tích cực:
+ Mở rộng giao lưu và quan hệ giữa con người với con người
+ Thúc đẩy các cộng đồng, các dân tộc, các nền văn hóa xích lại gần nhau hơn
+ Đưa tri thức xâm nhập sâu vào nền sản xuất vật chất
+ Tác động mạnh mẽ đến xu hướng tiêu dùng của người dân
- Tác động tiêu cực:
+ Làm tăng sự lệ thuộc của con người vào công nghệ, như: máy tính, điện thoại thông minh, hệ thống Internet...
+ Phát sinh tình trạng văn hóa "lai căng"
+ Nguy cơ đánh mất văn hóa truyền thống
+ Xung đột giữa nhiều yếu tố, giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại.
*Đối với xã hội:
- Tác động tích cực:
+ Giải phóng lao động, con người
+ Lực lượng lao động có kỹ năng và trình độ chuyên môn ngày càng tăng
+ Con người có thể làm nhiều công việc mới bằng hình thức từ xa, tiết kiệm thời gian
- Tác động tiêu cực:
+ Gia tăng nguy cơ thất nghiệp
+ Tăng tình trạng phân hóa trong xã hội
+ Con người lệ thuộc nhiều hơn vào các thiết bị thông minh
=> Giai cấp công nhân hiện đại vẫn tiếp tục giữ vai trò là lực lượng chính trị - xã hội chủ yếu trong các cuộc đấu tranh chính trị. Tuy nhiên, so với trước đây, cuộc đấu tranh của công nhân hiện đại mang tính chất kinh tế - xã hội nhiều hơn.