NGUYỄN MINH THU
Giới thiệu về bản thân
Học trực tuyến
NM
NGUYỄN MINH THU
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
CN
Cô Nguyễn Uyên
Manager
20 tháng 3 2025
Câu 1. (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về việc thấu hiểu chính mình.
Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) phân tích nội dung và nghệ thuật của văn bản sau đây.
CHUYỆN CỦA MẸ
Nguyễn Ba
mẹ có năm lần chia li
chồng mẹ ra đi
rồi hóa thành ngàn lau
bời bời nơi địa đầu Tây Bắc
đứa trai đầu
đã thành con sóng nát
trên dòng Thạch Hãn
hoàng hôn buông lại táp đỏ trời
đứa trai thứ hai
đã băng hết Trường Sơn
chết gần sát Sài Gòn
thịt xương nuôi mối vườn cao su Xuân Lộc
chị gái trước tôi
là dân công hoả tuyến
dầm suối làm cây mốc sống
dẫn xe bộ đội lội ngầm
tuổi thanh xuân nhiều mộng mơ của chị
xanh vào vời vợi trong xanh
tôi là mỏi mòn chờ đợi thứ năm
may mắn được trở về bên mẹ
tôi đi về bằng đôi mông đít
chân của tôi
đồng đội chôn trên đồi đất Vị Xuyên
đêm nào cũng lén tôi mẹ khóc
dù về sau đôi mắt bị loà
mẹ thương tôi không có đàn bà
mẹ lo mẹ chết đi
ai người nước nôi, cơm cháo
căn nhà tình nghĩa này
có đủ vững vàng mưa bão
đèn, lửa xóm giềng
chẳng ấm nỗi gối chăn
tôi gắng đùa vui
mong mẹ chút yên lòng
mẹ yêu của con ơi
không chỉ là mẹ của con
mẹ đã là
mẹ của non sông đất nước
cháu chắt của mẹ giờ líu lo
khắp ba miền Trung, Nam, Bắc
anh em của con tấp nập mọi miền
dân tộc mình
tồn tại đến giờ
nhờ đùm bọc, yêu thương
móm mém mẹ cười
khoé mắt loà khẽ sáng mấy giọt sương...
1-2021
#Hỏi cộng đồng OLM #Ngữ văn lớp 10
3
NM
Trả lời nhanh câu hỏi này
NK
NGUYỄN KHÁNH LINH
31 tháng 3
Câu 1 (khoảng 200 chữ):
Thấu hiểu chính mình là hành trình quan trọng để mỗi người trưởng thành và sống ý nghĩa hơn. Khi hiểu rõ bản thân, ta biết mình là ai, điểm mạnh – điểm yếu ở đâu, từ đó có thể lựa chọn con đường phù hợp. Nhiều người trẻ thường chạy theo kỳ vọng của người khác mà quên lắng nghe chính mình, dẫn đến cảm giác mơ hồ, mất phương hướng. Thực tế, thấu hiểu bản thân không phải là điều dễ dàng, bởi nó đòi hỏi sự trung thực và dũng cảm nhìn nhận cả những thiếu sót của mình. Khi hiểu mình, ta sẽ tự tin hơn trong quyết định, biết kiểm soát cảm xúc và tránh bị cuốn theo những áp lực bên ngoài. Đồng thời, việc này còn giúp ta xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp hơn, vì khi hiểu mình, ta cũng dễ cảm thông với người khác. Tuy nhiên, thấu hiểu bản thân không có nghĩa là tự mãn hay khép kín, mà cần không ngừng học hỏi, thay đổi để hoàn thiện. Có thể nói, hiểu mình chính là chìa khóa để sống đúng với giá trị của bản thân và hướng tới một cuộc đời ý nghĩa, trọn vẹn hơn.
⸻
Câu 2 (khoảng 400 chữ):
Bài thơ Chuyện của mẹ của Nguyễn Ba là khúc ca xúc động về hình tượng người mẹ Việt Nam trong chiến tranh, qua đó thể hiện nỗi đau mất mát và vẻ đẹp hi sinh cao cả.
Về nội dung, trước hết, bài thơ khắc họa số phận đầy bi kịch của người mẹ với “năm lần chia li”. Chồng và các con lần lượt ra đi, hóa thân vào đất nước: người thành “ngàn lau” nơi Tây Bắc, người hóa “con sóng nát” trên dòng Thạch Hãn, người nằm lại ở Xuân Lộc. Những hình ảnh ấy vừa cụ thể, vừa mang tính biểu tượng, cho thấy sự hi sinh to lớn của cả một thế hệ trong chiến tranh. Không chỉ mất mát về người thân, người mẹ còn phải chịu đựng nỗi cô đơn, đau đớn kéo dài theo năm tháng.
Bên cạnh đó, bài thơ còn làm nổi bật tình mẫu tử sâu nặng. Dù đã trải qua quá nhiều mất mát, mẹ vẫn âm thầm yêu thương, lo lắng cho người con còn sống. Hình ảnh “đêm nào cũng lén tôi mẹ khóc” hay nỗi lo “ai người nước nôi, cơm cháo” thể hiện tình thương giản dị mà thấm thía. Đó là tình cảm rất đỗi đời thường nhưng lại có sức lay động mạnh mẽ.
Câu 1.
Kiểu văn bản: Văn bản nghị luận.
Câu 2.
Vấn đề được đề cập:
→ Cách nhìn nhận, đánh giá con người (biết người, biết mình) và ý nghĩa của việc tự nhận thức bản thân để hoàn thiện mình.
Câu 3.
Những bằng chứng được sử dụng:
Câu ca dao “Đèn và trăng” để làm dẫn chứng chính.
Tục ngữ, lời dạy dân gian như: “Không ai vẹn mười”, “Năm ngón tay có ngón dài ngón ngắn”.
Hình ảnh thực tế: đặc điểm của đèn (sợ gió), trăng (bị mây che).
→ Những dẫn chứng này đều gần gũi, dễ hiểu và giàu tính thuyết phục.
Câu 4.
Mục đích:
Giúp người đọc nhận thức đúng về bản thân và người khác.
Khuyên con người biết tự nhìn nhận, sửa mình để phát triển.
Nội dung:
Từ câu chuyện đèn và trăng, tác giả rút ra triết lí:
Không ai hoàn hảo, ai cũng có điểm mạnh và điểm yếu.
Quan trọng nhất là phải biết mình để hoàn thiện bản thân.
Câu 5.
Nhận xét cách lập luận của tác giả:
Lập luận logic, chặt chẽ, đi từ dẫn chứng cụ thể (ca dao) đến khái quát vấn đề.
Sử dụng dẫn chứng dân gian gần gũi, giúp bài viết dễ hiểu, thuyết phục.
Kết hợp phân tích và bình luận, mở rộng vấn đề từ câu chuyện nhỏ đến bài học lớn.
Giọng văn nhẹ nhàng, giàu tính triết lí, tạo sức gợi suy ngẫm cho người đọc.
Câu 1
Sống ở thế chủ động là hành động độc lập với hoàn cảnh xung quanh, làm chủ được tình thế, dám nghĩ, dám hành động trên tất cả mọi lĩnh vực, chủ động tìm tòi, chủ động đề nghị, chủ động dấn thân… Tuổi trẻ nhất định phải luôn sống ở thế chủ động bởi cuộc sống không dễ dàng hay thiên vị đối với bất kì ai, luôn luôn đặt chúng ta vào những tình huống, thử thách phải chủ động tìm cách giải quyết. Sống chủ động giúp tuổi trẻ tự tin, bản lĩnh, linh hoạt ứng xử trong mọi tình huống để vượt qua khó khăn, hoàn thành mục tiêu, khát vọng, ước mơ. Tuổi trẻ chủ động sẽ không ngừng tạo được cơ hội mới khẳng định bản thân, đạt được thành công; Xã hội có nhiều cá nhân sống chủ động sẽ tạo ra một bầu không khí dám nghĩ, dám làm, nâng cao chất lượng công việc. Thật đáng buồn khi một số bạn trẻ đang sống dựa dẫm vào người khác, thiếu tự tin, đặt mình ở thế thụ động. Sống ở thế chủ động cần thiết trong môi trường xã hội hôm nay, là một thái độ tích cực của tuổi trẻ trong thời đại toàn cầu hóa, đặc biệt không thể thiếu đối với công dân toàn cầu. Tuổi trẻ cần tự tin, dám nghĩ, dám làm, chủ động sáng tạo tìm kiếm những cơ hội và xây dựng kế hoạch để chinh phục ước mơ.
Câu 2
Trong những ngày từ quan về ở ẩn tại Côn Sơn, Nguyễn Trãi đã viết nhiều bài thơ đặc sắc, trong số đó có bài số 43 trong chùm thơ Bảo kính cảnh giới. Bài thơ là bức tranh phong cảnh mùa hè độc đáo nhưng thấp thoáng là niềm tâm sự của tác giả.
Câu thơ đầu tiên, ta đọc lên thoáng qua sao có vẻ an nhàn, êm đềm, thanh thoát đến thế.
"Rồi hóng mát thuở ngày trường"
Câu thơ hiện lên hình ảnh của nhà thơ Nguyễn Trãi, ông đang ngồi dưới bóng cây nhàn nhã như hóng mát thật sự. Việc quân, việc nước chắc đã xong xuôi ông mới trở về với cuộc sống đơn sơ, giản dị, mộc mạc mà chan hòa, gần gũi với thiên nhiên. Một số sách dịch là "Rỗi hóng mát thuở ngày trường". Nhưng "rỗi" hay "rồi" cũng đều gây sự chú ý cho người đọc. Rảnh rỗi, sự việc còn đều xong xuôi, đã qua rồi "Ngày trường" lại làm tăng sự chú ý. Cả câu thơ không còn đơn giản là hình ảnh của Nguyễn Trãi ngồi hóng mát mà nó lại toát lên nỗi niềm, tâm sự của tác giả: "Nhàn rỗi ta hóng mát cả một ngày dài". Một xã hội đã bị suy yếu, nguyện vọng, ý chí của tác giả đã bị vùi lấp, không còn gì nữa, ông đành phải rời bỏ, từ quan để về ở ẩn, phải dành "hóng mát" cả ngày trường để vơi đi một tâm sự, một gánh nặng đang đè lên vai mình. Cả câu thơ thấp thoáng một tâm sự thầm kín, không còn là sự nhẹ nhàng thanh thản nữa.
Về với thiên nhiên, ông lại có cơ hội gần gũi với thiên nhiên hơn. Ông vui thú, say mê với vẻ đẹp của thiên nhiên.
"Hòe lục đùn đùn tán rợp giương
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương".
Cảnh mùa hè qua tâm hồn, tình cảm của ông bừng bừng sức sống. Cây hòa lớn lên nhanh, tán cây tỏa rộng che rợp mặt đất như một tấm trướng rộng căng ra giữa trời với cành lá xanh tươi. Những cây thạch lựu còn phun thức đỏ, ao sen tỏa hương, màu hồng của những cánh hoa điểm tô sắc thắm. Qua lăng kính của Nguyễn Trãi, sức sống vẫn bừng bừng, tràn đầy, cuộc đời là một vườn hoa, một khu vườn thiên nhiên muôn màu muôn vẻ. Cảnh vật như cổ tích có lẽ bởi nó được nhìn bằng con mắt của một thi sĩ đa cảm, giàu lòng ham sống với đời...
Qua cảnh mùa hè, tình cảm của Nguyễn Trãi cũng thể hiện một cách sâu sắc:
"Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương".
"Chợ" là hình ảnh của sự thái bình trong tâm thức của người Việt. Chợ đông vui thì nước thái bình, thịnh trị, dân giàu đủ ấm no: chợ tan rã thì dễ gợi hình ảnh đất nước có biến, có loạn, có giặc giã, có chiến tranh, đao binh... lại thêm tiếng ve kêu lúc chiều tà gợi lên cuộc sống nơi thôn dã. Chính những màu sắc nơi thôn dã này làm cho tình cảm ông thêm đậm đà sâu sắc và gợi lại ý tưởng mà ông đang đeo đuổi.
"Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương".
"Dân giàu đủ", cuộc sống của người dân ngày càng ấm no, hạnh phúc là điều mà Nguyễn Trãi từng canh cánh và mong ước. Ở đây, ông đề cập đến Ngu cầm vì thời vua Nghiêu, vua Thuấn nổi tiếng là thái bình thịnh trị. Vua Thuấn có một khúc đàn "Nam Phong" khảy lên để ca ngợi nhân gian giàu đủ, sản xuất ra nhiều thóc lúa ngô khoai. Cho nên, tác giả muốn có một tiếng đàn của vua Thuấn lồng vào đời sống nhân dân để ca ngợi cuộc sống của nhân dân ấm no, vui tươi, tràn đầy âm thanh hạnh phúc. Những mơ ước ấy chứng tỏ Nguyễn Trãi là nhà thơ vĩ đại có một tấm lòng nhân đạo cao cả. Ông luôn nghĩ đến cuộc sống của nhân dân, chăm lo đến cuộc sống của họ.
Đó là ước mơ vĩ đại. Có thể nói, dù triều đình có thể xua đuổi Nguyễn Trãi nhưng ông vẫn sống lạc quan yêu đời, mong sao cho ước vọng lí tưởng của mình được thực hiện để nhân dân có một cuộc sống ấm no.
Bài thơ này đã làm rõ nỗi niềm tâm sự của Nguyễn Trãi trong thời gian ở Côn Sơn với tấm lòng yêu nước thương dân vẫn ngày đêm "cuồn cuộn nước triều Đông". Ông yêu thiên nhiên cây cỏ say đắm. Và có lẽ chính thiên nhiên đã cứu Nguyễn Trãi thoát khỏi những phút giây bi quan của cuộc đời mình. Dù sống với cuộc sống thiên nhiên nhưng Ức Trai vẫn canh cánh "một tấc lòng ưu ái cũ". Nguyễn Trãi vẫn không quên lí tưởng nhân dân, lí tưởng nhân nghĩa, lí tưởng: mong cho thôn cùng xóm vắng không có một tiếng oán than, đau sầu.
Một điều đặc sắc nữa của bài thơ là tác giả đã căng mở tất cả các giác quan để cảm nhận một cách tinh tế và tái hiện một cách xuất thần vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên cuộc sống. Với xúc giác Nguyễn Trãi đã mang đến cho người đọc ấn tượng đầu tiên về bức tranh thiên nhiên ấy là sự mát mẻ, dễ chịu, tạo cho người đọc ấn tượng về phong thái nhàn hạ, thoải mái của thi nhân khi tận hưởng từng cơn gió thuở ngày hè. Bên cạnh đó thị giác lại mang đến những ấn tượng sâu sắc về dáng hình của thiên nhiên với những màu sắc rực rỡ, đó là màu xanh lục của cây hòe rợp bóng, rồi nổi bật trên cái nền xanh thẫm ấy là màu đỏ rực rỡ của những đóa thạch lựu, và màu hồng dịu dàng của loài sen đã nở rộ trong đầm. Và cuối cùng cả ba gam màu ấy lại được tắm mình trong cái màu vàng nhàn nhạt của ánh hoàng hôn sắp tắt để đem đến một bức tranh mùa hè tươi tắn, sức sống căng đầy mạnh mẽ, thể hiện sự yêu đời, yêu sống, nhìn cảnh vật bằng tình yêu thiên nhiên tha thiết của tác giả Nguyễn Trãi. Thêm vào đó, sự cảm nhận tinh tế của khứu giác về mùi của loài hoa sen, một loài hoa vốn nhàn nhạt hương sắc, mà chỉ những con người thực sự có tấm lòng tha thiết với sen mới có thể cảm nhận được cái mùi hương thanh mát, đang lan tỏa một cách nồng nàn, trong không gian khoáng đạt. Mùi hương ấy cũng gián tiếp thể hiện cái vẻ đẹp của hoa sen vào mùa nở rộ, khiến người đọc dễ dàng liên tưởng đến hình ảnh một đầm sen hồng, không quá rực rỡ, nhưng cũng đủ khiến bức tranh thiên nhiên bừng lên những vẻ đẹp rộn rã, yêu đời từ hương sắc của loài hoa thanh cao này. Và cuối cùng bức tranh thiên nhiên cảnh ngày hè càng trở nên sôi động, náo nhiệt thông qua sự cảm nhận một cách tinh tế của nhà văn về âm thanh của con người của sự vật. Đó là tiếng “lao xao” thể hiện sự nhộn nhịp trong đời sống sinh hoạt của con ngày và buổi chợ chiều, là tiếng ve “dắng dỏi” vang vọng khắp không gian, như nhắc nhở người ta về một ngày hè rạo rực. Việc sử dụng biện pháp đảo cấu trúc đưa các từ láy mô tả âm thanh lên vị trí đầu câu lại càng nhấn mạnh sự náo nhiệt của cuộc sống rộn ràng trong buổi chiều tà, gợi cảm giác vui tươi, hứng khởi của cuộc sống, làm lu mờ cái cảm giác vắng vẻ, hiu quạnh mà những buổi chiều trong thi ca thường mang lại. Như vậy việc huy động tất cả những giác quan của tác giả đã tái hiện một cách xuất sắc bức tranh thiên nhiên cuộc sống, cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi không chỉ đẹp mà còn có chiều sâu, thể hiện được tam quan của tác giả về cuộc đời, luôn nhìn sự sống bằng đôi mắt hứng khởi, tha thiết, thể hiện tấm lòng yêu thiên nhiên, cuộc đời tha thiết của tác giả.
Từ những cảm nhận tinh tế về bức tranh thiên nhiên cuộc sống, Nguyễn Trãi đã bộc lộ tấm lòng yêu dân ái quốc của mình qua hai câu thơ kết bài.
“Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương"
Từ những quan sát về cuộc sống náo nhiệt của nhân dân nơi chợ cá làng Ngư phủ, tác giả đã mường tượng ra hình ảnh cuộc sống vô cùng tươi đẹp, sung túc đầy đủ của nhân dân. Điều đó gợi ra trong tâm hồn của tác giả những niềm vui, niềm hạnh phúc khi chứng kiến cảnh quốc thái dân an, thế nên muốn có Ngu cầm của vua Nghiêu vua Thuấn để đàn ra khúc Nam Phong, ca ngợi c...
Câu 1:
Mùa thu Hà Nội trong đoạn thơ của Hoàng Cát hiện lên với vẻ đẹp dịu dàng, tinh tế và giàu cảm xúc. Trước hết, đó là cái lạnh rất riêng của thu Hà Nội qua hình ảnh “se sẽ gió heo may”, cái lạnh nhẹ, thoảng qua nhưng đủ làm lòng người xao xuyến. Không gian phố phường được phủ lên sắc vàng của “lá vàng khô lùa”, tạo nên vẻ đẹp cổ kính, trầm lắng. Giữa khung cảnh ấy, con người xuất hiện trong trạng thái “lặng lẽ một mình”, mang theo nỗi nhớ người xa, khiến bức tranh thu thêm phần man mác buồn. Tuy nhiên, mùa thu không chỉ buồn mà còn ấm áp qua hình ảnh “trái vàng ươm”, “chùm nắng hạ” còn sót lại, gợi cảm giác đầy đặn, dịu ngọt. Thiên nhiên và con người hòa quyện trong “mùi hương trời đất”, tạo nên vẻ đẹp vừa nên thơ vừa thân thương. Qua đoạn thơ, tác giả đã khắc họa thành công một mùa thu Hà Nội rất riêng – nhẹ nhàng, sâu lắng và đậm chất trữ tình.
Câu 2:
Trong thời đại khoa học – công nghệ phát triển mạnh mẽ, trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành một trong những thành tựu nổi bật nhất của nhân loại. Với tốc độ phát triển nhanh chóng và phạm vi ảnh hưởng rộng lớn, AI đang từng bước làm thay đổi cách con người học tập, làm việc và sinh hoạt. Sự phát triển như vũ bão của AI vừa mở ra nhiều cơ hội to lớn, vừa đặt ra không ít thách thức đối với xã hội hiện đại.
Trước hết, không thể phủ nhận những lợi ích to lớn mà AI mang lại. Trong lĩnh vực y tế, AI hỗ trợ bác sĩ trong việc chẩn đoán bệnh, phân tích hình ảnh và đưa ra phác đồ điều trị chính xác hơn. Trong giáo dục, AI giúp cá nhân hóa việc học, tạo điều kiện để người học phát huy tối đa năng lực của bản thân. Trong sản xuất và kinh doanh, AI góp phần tự động hóa quy trình, nâng cao năng suất lao động và giảm chi phí. Nhờ có AI, con người tiết kiệm được thời gian, công sức để tập trung vào những công việc sáng tạo và mang giá trị nhân văn cao hơn.
Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của AI cũng kéo theo nhiều vấn đề đáng lo ngại. Một trong những thách thức lớn nhất là nguy cơ mất việc làm khi máy móc và công nghệ thay thế con người trong nhiều lĩnh vực. Bên cạnh đó, việc phụ thuộc quá nhiều vào AI có thể khiến con người trở nên thụ động, giảm khả năng tư duy độc lập và sáng tạo. Ngoài ra, các vấn đề về đạo đức, quyền riêng
trong đoạn trích “Người trong bao” hiện lên là một con người kì quái, sống khép kín và luôn sợ hãi trước cuộc sống. Hắn lúc nào cũng tự bao bọc mình bằng những “cái bao” cụ thể: đi giày cao su, cầm ô, mặc áo bành tô ấm cốt bông; ô để trong bao, đồng hồ để trong bao da, dao gọt bút chì cũng để trong bao. Không chỉ đồ vật, đến cả khuôn mặt hắn cũng như giấu sau cổ áo dựng đứng, tai nhét bông, ngồi xe thì kéo mui kín mít. Những chi tiết ấy cho thấy một con người luôn muốn cách ly bản thân khỏi thế giới xung quanh. Đáng sợ hơn, Bê-li-cốp còn sống trong “cái bao” tinh thần: chỉ tin vào chỉ thị, thông tư, sợ hãi mọi điều mới mẻ và gieo rắc nỗi sợ ấy cho cả thành phố. Hình tượng Bê-li-cốp là biểu tượng cho kiểu người bảo thủ, giáo điều, sống hèn nhát, kìm hãm sự phát triển của xã hội
Câu 2
Bài làm
Trong cuộc sống, mỗi người đều có cho mình một “vùng an toàn” – nơi quen thuộc, dễ chịu và ít rủi ro. Tuy nhiên, nếu mãi ở trong đó, con người sẽ khó có cơ hội phát triển. Vì vậy, bước ra khỏi vùng an toàn chính là điều cần thiết để trưởng thành và khẳng định bản thân.
Vùng an toàn có thể là những thói quen quen thuộc, những lựa chọn không đòi hỏi nỗ lực, hay tâm lí ngại thay đổi, sợ thất bại. Ở trong vùng an toàn, ta cảm thấy yên ổn, nhưng sự yên ổn ấy đôi khi lại là rào cản vô hình ngăn ta tiến xa hơn. Nếu không dám thử sức ở những điều mới mẻ, con người sẽ dễ trở nên trì trệ, tự giới hạn khả năng của mình.Bước ra khỏi vùng an toàn giúp ta khám phá năng lực tiềm ẩn và mở rộng giới hạn bản thân. Khi dám thử một môn học mới, tham gia một cuộc thi, hay đảm nhận một trách nhiệm khó khăn, ta buộc phải nỗ lực, học hỏi và thích nghi. Chính quá trình ấy rèn luyện bản lĩnh, sự tự tin và khả năng ứng biến trước thử thách. Thất bại có thể xảy ra, nhưng thất bại cũng là bài học quý giá giúp ta trưởng thành hơn. Không ai thành công mà chưa từng trải qua những lần vấp ngã.Trong xã hội hiện đại đầy biến động, việc dám thay đổi càng trở nên quan trọng. Thế giới không ngừng phát triển, nếu ta không bước ra khỏi giới hạn của chính mình, ta sẽ bị tụt lại phía sau. Những người thành công thường là những người dám nghĩ khác, dám làm khác và chấp nhận rủi ro để theo đuổi mục tiêu.Tuy nhiên, bước ra khỏi vùng an toàn không có nghĩa là liều lĩnh hay hành động thiếu suy nghĩ. Đó là sự dũng cảm có tính toán, là tinh thần sẵn sàng học hỏi và đối diện với thử thách. Điều quan trọng là mỗi người cần xác định mục tiêu rõ ràng và chuẩn bị cho mình hành trang cần thiết trước khi thay đổi.
Là một học sinh, tôi hiểu rằng nếu chỉ chọn những điều dễ dàng, tôi sẽ khó tiến bộ. Vì vậy, tôi cần mạnh dạn thử sức ở những lĩnh vực mới, rèn luyện kĩ năng và không ngại sai. Chỉ khi dám bước ra khỏi vùng an toàn, ta mới thực sự sống hết mình và phát huy trọn vẹn giá trị của bản thân.
Câu 1
Phương thức biểu đạt chính: Tự sự (kết hợp miêu tả và biểu cảm).
Câu 2
Nhân vật trung tâm của đoạn trích là: Bê-li-cốp.
Câu 3 (1,0 điểm):
Đoạn trích được kể theo ngôi thứ nhất (“tôi”)
Tác dụng:+Tạo cảm giác chân thực, khách quan vì người kể là người trong cuộc.
+Bộc lộ rõ thái độ, cảm xúc, sự đánh giá của người kể về Bê-li-cốp.
+Làm nổi bật tính cách kì quái, đáng sợ của nhân vậtt
Câu 4 (1,0 điểm):
Những chi tiết miêu tả chân dung Bê-li-cốp:
+ Lúc nào cũng đi giày cao su, cầm ô, mặc áo bành tô ấm cốt bông.
+ Ô để trong bao, đồng hồ để trong bao da, dao gọt bút chì cũng để trong bao.
+ Giấu mặt sau cổ áo bành tô, đeo kính râm, lỗ tai nhét bông, ngồi xe ngựa kéo mui lên.
+ Thích sống theo chỉ thị, thông tư; sợ hãi mọi thứ, làm mọi người xung quanh cũng sợ hãi.
Vì sao đặt nhan đề “Người trong bao”?
-Vì Bê-li-cốp luôn thu mình trong những “cái bao” vật chất (bao ô, bao đồng hồ…).
- Đồng thời đó là “cái bao” tinh thần: lối sống bảo thủ, sợ hãi, né tránh cuộc sống thực tại.
→ Nhan đề mang ý nghĩa biểu tượng, phê phán kiểu người sống khép kín, trì trệ.
Câu 5 (1,0 điểm):
Bài học rút ra:
- Không nên sống thu mình, sợ hãi, né tránh cuộc sống.
- Cần sống cởi mở, dám suy nghĩ, dám hành động.
-Phê phán lối sống bảo thủ, giáo điều làm kìm hãm sự phát triển của xã hội.
Câu 1:
Truyện ngắn Con chim vàng của Nguyễn Quang Sáng là một tác phẩm giàu giá trị nhân đạo, phản ánh số phận đau khổ của những đứa trẻ nghèo trong xã hội cũ. Nhân vật trung tâm của truyện là cậu bé Bào – một đứa ở đợ nhỏ tuổi, phải sống trong cảnh áp bức, sợ hãi và bất công. Vì món nợ của mẹ, Bào bị ép làm những việc nguy hiểm, thậm chí đánh đổi cả tính mạng chỉ để thỏa mãn mong muốn ích kỉ của cậu chủ. Hình ảnh Bào liều mình trèo cây bắt chim và rơi xuống trong đau đớn là cao trào bi kịch của truyện, tố cáo sự vô cảm, tàn nhẫn của người lớn đối với trẻ em nghèo khổ. Chi tiết Bào đưa tay cầu cứu nhưng chỉ nhận lại sự thờ ơ càng khắc sâu nỗi cô độc, tuyệt vọng của em. Qua câu chuyện về con chim vàng, Nguyễn Quang Sáng bày tỏ niềm xót thương sâu sắc đối với những phận người bé nhỏ, đồng thời lên án xã hội bất công đã chà đạp quyền sống và nhân phẩm con người.
Câu 2:
Trong cuộc sống, không phải vật chất hay danh vọng mà chính tình yêu thương mới là điều làm nên giá trị đích thực của con người. Tình yêu thương là sự quan tâm, sẻ chia, đồng cảm giữa người với người, giúp con người xích lại gần nhau hơn và làm cho cuộc sống trở nên ấm áp, ý nghĩa.
Trước hết, tình yêu thương là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn giúp con người vượt qua khó khăn, thử thách. Khi được sống trong yêu thương, con người cảm thấy được che chở, được tiếp thêm niềm tin để vươn lên. Một lời động viên đúng lúc, một cử chỉ quan tâm chân thành cũng có thể giúp người khác đứng dậy sau thất bại. Đặc biệt, với những mảnh đời bất hạnh, tình yêu thương chính là ánh sáng soi đường, giúp họ không gục ngã trước số phận.
Không chỉ vậy, tình yêu thương còn góp phần nuôi dưỡng nhân cách và hoàn thiện con người. Một người biết yêu thương sẽ biết sống vị tha, nhân ái, biết đặt mình vào vị trí của người khác để thấu hiểu và chia sẻ. Chính tình yêu thương giúp con người tránh xa lối sống ích kỉ, vô cảm – căn bệnh đáng lo ngại trong xã hội hiện đại. Một cộng đồng chỉ thật sự bền vững khi mỗi cá nhân biết sống vì nhau, sẵn sàng giúp đỡ nhau lúc hoạn nạn.
Bên cạnh đó, tình yêu thương còn là nền tảng để xây dựng gia đình hạnh phúc và xã hội tốt đẹp. Gia đình là nơi tình yêu thương được thể hiện rõ ràng nhất qua sự chăm sóc của cha mẹ, sự đùm bọc giữa các thành viên. Khi gia đình tràn đầy yêu thương, con người sẽ có điểm tựa vững chắc để bước ra cuộc sống. Từ những gia đình giàu tình yêu thương sẽ hình thành một xã hội nhân văn, nơi con người đối xử với nhau bằng sự tử tế và trách nhiệm.
Tuy nhiên, trong thực tế, vẫn còn nhiều người sống thờ ơ, chỉ biết đến lợi ích cá nhân mà quên đi việc quan tâm đến người khác. Sự vô cảm ấy khiến con người trở nên cô độc, xã hội trở nên lạnh lùng và đầy rạn nứt. Vì vậy, mỗi người cần tự ý thức nuôi dưỡng tình yêu thương từ những hành động nhỏ nhất: biết lắng nghe, biết chia sẻ, biết giúp đỡ người khác khi có thể.
Tóm lại, tình yêu thương có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc sống. Nó không chỉ mang lại hạnh phúc cho người nhận mà còn làm giàu tâm hồn của chính người cho đi. Sống yêu thương chính là cách để con người sống đẹp hơn, nhân văn hơn và làm cho cuộc đời này trở nên tốt đẹp hơn.
Câu 1
Phương thức biểu đạt chính là tự sự
Câu 2
Là hoạt động đầy kịch tính đẩy nhân vật Bào 12 tuổi vào sự bất lực là sự cô đơn tột cùng khi cố gắng làm hài lòng chủ
Câu 3
Ngôi thứ ba
Người kể giấu mình gọi tên nhân vật
Tác dụng : mang tính khách quan , bao quát toàn cảnh , tăng sức biểu cảm, hấp dẫn.
Câu 4
Mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc về sự khao khát tình yêu thương, sự hối hận muộn màng và bi kịch của chiến tranh thể hiện khát vọng sống và tình mẫu tử thiêng liêng
Câu 5
Nhân vật Bào trong đoạn trích "Con chim vàng" của Nguyễn Quang Sáng là một cậu bé nghèo khổ, khao khát tình thương và sự sở hữu, nhưng phải gánh chịu nỗi đau bất hạnh và sự cô đơn tột cùng Bào hiện lên là nạn nhân của hoàn cảnh, đáng thương hơn đáng trách, với tâm lý phức tạp vừa ngây thơ vừa u uất. Qua đó, tác giả thể hiện sự thấu hiểu, cảm thông sâu sắc với số phận bất hạnh của trẻ em và sự phê phán ngầm sự bất công xã hội.
Con người chúng ta chỉ sống một lần duy nhất trên đời, hãy là những đóa hoa nở rộ, cống hiến những điều tốt đẹp nhất cho xã hội bằng sự sáng tạo của mình. Sáng tạo là phát minh ra những thứ mới lạ giúp cho cuộc sống chúng ta trở nên thuận tiện, dễ dàng, hiện đại, tiện nghi hơn để thay thế cho những thứ có sẵn. Sự sáng tạo vô cùng quan trọng và cần thiết trong thời kì phát triển của xã hội hiện nay. Người có sự sáng tạo là những người luôn cố gắng tìm tòi, học hỏi, phát minh ra những cái hay nhằm mục đích để cuộc sống luôn dễ dàng. Họ luôn muốn tìm ra cái mới để cải thiện những cái cũ, thậm chí là đi trước xu hướng của thời đại.Như giáo sư người Anh Sarah Gilbert trước mối hiểm họa của covid 19, bà đã nghiên cứu và chế tạo thành công vaccine AstraZeneca. Dù đã 59 tuổi nhưng bà luôn là người chăm chỉ làm việc, nghiên cứu từ 4 giờ sáng đến khi tối muộn. Nhờ vậy mà vaccine AstraZeneca được ra đời, hàng triệu người trên thế giới được cứu sống. Qua đó ta cũng thấy quá trình sáng tạo chưa bao giờ là đơn giản, chúng ta sẽ gặp muôn vàn khó khăn, phải đánh đổi nhiều thứ, là thời gian, công sức, tiền bạc, thế nhưng sau tất cả, thành quả của những sáng tạo ấy lại thật ngọt ngào. Sự sáng tạo giúp con người làm được những điều tưởng như không thể, nó giúp con người vượt qua những khó khăn và rút ngắn được thời gian khi làm việc. Bên cạnh đó, sự sáng tạo khiến cho cuộc sống của con người trở nên tiện ích hơn, không chỉ giải quyết được những nhu cầu cần thiết mà còn khiến cho cuộc sống con người thêm thú vị hơn. Tuy nhiên, trong cuộc sống vẫn còn không ít người có tư duy, lối sống lạc hậu không chịu tiếp thu, sáng tạo để tiến bộ mà cứ ôm khư khư cách nghĩ của mình, những người này đáng bị xã hội phê phán, chỉ trích. Chúng ta được lựa chọn cách sống của mình để phát triển bản thân cũng như giúp ích cho xã hội, hãy sáng tạo trong công việc và cuộc sống để đạt hiệu quả cao nhất cũng như phát triển bản thân mình để trở thành phiên bản tốt nhất.
Câu 2: Bài làm:
Chiến tranh nổ ra! Bao gia đình phải chia ly, bấy nhiêu bóng dáng hào kiệt đã ngã xuống, máu hòa với nỗi hận chôn sâu dưới làn mưa bom đạn. Vậy mà, mặc cho chiến tranh có tàn phá nặng nề đến mức nào, thì hình ảnh Phi và ông Sáu Đèo trong tác phẩm “Biển người mênh mông” của Nguyễn Ngọc Tư vẫn đậm sâu, đẹp đẽ một cách lạ thường. Đặc biệt, 2 nhân vật này là đại diện cho con người Nam Bộ đã để lại trong lòng người đọc nhiều cảm xúc khó tả, để rồi người ta thêm vững lòng tin vào một thứ tình cảm thiêng liêng, bất diệt.
Chuyện kể về ông Sáu Đèo được về quê sau chín năm xa cách dài đằng đẵng. Ông là một người chiến sĩ nông dân vùng Nam Bộ. Với lòng yêu nước mãnh liệt cùng sự căm ghét quân giặc sâu sắc, ông đã tham gia vào cuộc kháng chiến. Ngày ông đi, ông đã cố gắng gạt đi sự quyến luyến, tình yêu thương gia đình. Để lại sau lưng là ánh mắt non nớt cùng người vợ tảo tần để đi theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc. Quyết hy sinh đến tận hơi thở cuối cùng để bảo vệ từng mảnh đất, ngọn cỏ của dân tộc. Có thể nói, ông chính là hình ảnh đại diện cho lòng yêu nước của người nông dân Nam Bộ chân chất, mộc mạc.
Phi sinh ra đã không có ba, năm tuổi rưỡi, má Phi cũng theo chồng ra chợ sống. Phi ở với bà ngoại, chiu chít quanh quẩn bên chân bà như gà mẹ gà con. Thấy Phi suốt ngày thui thủi một mình, ngoại biểu đi hàng xóm chơi, Phi lắc đầu, "Đi đâu ai người ta cũng bảo giống ông Hiểu nào, trưởng đồn Vàm Mấm nào á. Con với ổng nước lã, người dưng mà, ngoại?" Ngoại không nói gì, lặng lẽ ngồi đương thúng, dường như trong mình có chỗ nào đó đau lắm, nhói lắm.
Khi Phi lên mười, mười lăm tuổi đã biết rất nhiều chuyện. Thì ra, đã không còn cách nào khác, má mới bỏ Phi lại. Sau giải phóng, ba Phi về, xa nhau biền biệt chín năm trời, về nhà thấy vợ mình có đứa con trai chưa đầy sáu tuổi, ông chết lặng. Đây là kết quả cưỡng bức của tên đồn trưởng Rạch Vàm Nấm với mẹ của Phi. Ngoại Phi bảo, "Tụi bây còn thương thì mai mốt ra tỉnh nhận công tác, rủ nhau mà đi, để thằng Phi lại cho má". Má cũng hay về thăm Phi, thường là về một mình. Tất bật, vội vã, không làm gì cũng vội vã. Lần nào cũng hối hả kéo Phi vào lòng hỏi còn tiền xài không, lúc rày học hành thế nào, có tiếp ngoại vót nan không, sao mà ốm nhom vậy? Rồi từ từ má chỉ hỏi anh chuyện tiền xài thôi.
Hết cấp hai, Phi lên thị xã mướn nhà trọ học, một năm mấy lần lại nhờ má đi họp phụ huynh. Ba Phi thì hội họp, công tác liên miên, Phi ít gặp. Ông thay đổi nhiều, diện mạo, tác phong nhưng gặp Phi, cái nhìn vẫn như xưa, lạnh lẽo, chua chát, đắng caỵ, dứt khoát không nhìn con như vậy. Ông hay chê Phi với má, "Cái thằng, lừ đừ lừ đừ không biết giống ai" . Hết lớp mười, Phi vừa học vừa tìm việc làm thêm. Má anh rầy, "Bộ má nuôi không nổi sao?" Phi cười, "Má còn cho mấy đứa em, phải lo cho tụi nó học cao hơn nữa. Tự mình con sống cũng được, má à. Rồi Phi thôi học đi theo đoàn hát, má anh giận tím ruột bầm gan, "Ai đời ba mầy làm tới chức phó chủ tịch, không lẽ không lo cho mầy một chỗ làm tử tế, sao lại vác cây đờn đi hò hát lông bông. Làm vậy khác nào làm ổng mất mặt". Chỉ ngoại Phi là không rầy, ngoại anh hỏi, "Bộ làm nghề đó vui lắm hả con? Thoải mái chớ gì? Phải rồi, hồi xưa má con đẻ rớt con trên bờ mẫu, mở mắt ra đã thấy mênh mông trời đất rồi, bây giờ bị bó buộc con đâu có chịu". Phi chỉ cười cười mà không nói. Nhờ vậy, mà người ở xóm lao động nghèo nầy biết thằng Phi "nghệ sỹ" vẫn còn ở đây, trong căn nhà cửa trước lúc nào cũng khép im ỉm. Ở trong cái tổ bê bối của mình, Phi ngủ vùi đến trưa hôm sau. Ngoại biểu anh cưới vợ hoài, nhưng Phi nghĩ mãi, có ai chịu đựng được anh chồng lang thang say xỉn như mình, hồi còn là một hòn máu thoi thót anh đã làm khổ bao nhiêu người rồi, bây giờ lấy vợ không phải lại làm khổ thêm một người nữa sao?
Rồi ngoại Phi nằm xuống dưới ba tấc đất, đôi bông tai bằng cẩm thạch ngoại để dành cho cháu dâu vẫn còn nằm im trong hộc tủ thờ. Còn một mình, anh đâm ra lôi thôi, ba mươi ba tuổi rồi mà sống lôi thôi, nghèo hoài. Ngó cảnh nhà, Phi tự hỏi, mình sống bê bối từ hồi nào vậy cà. Từ hồi nào thì phong trần, bụi bặm, khắc khổ, ăn bận lôi thôi, quần Jean bạc lổ chổ, lai rách te tua, áo phông dài quá mông, râu ria rậm rạp, móng tay dài, tóc dài. Từ hồi nào muốn soi kiếng phải lấy tay vẹt mớ râu tóc ra như người ta vẹt bụi ô rô. Không biết, có ai la rầy, có ai để ý đâu mà biết. Má anh lâu lâu lại hỏi anh đủ tiền xài không, bà có nhìn anh nhưng không quan tâm lắm chuyện ăn mặc, tóc tai. Ngoài ngoại ra, chỉ có ông Sáu Đèo nhắc anh chuyện đó. Cuộc đời của ông Sáu Đèo sau khi người vợ bỏ đi, không con cái, chỉ làm bạn với con chim bìm bịp, lang thang bán vé số nay đây mai đó ở tuổi xế chiều, cô đơn. Nỗi nhớ và tiếng kêu thắt lòng của con chim bìm bịp nhắc về ông Sáu Đèo đang tiếp tục lưu lạc trên chặng đường nào. Nỗi cô đơn của Phi giữa biển người mênh mông.
Trời trở chướng, ông Sáu than đau nhức mình. Phi qua nhà cạo gió cho ông. Lần theo những chiếc xương gồ ra trên thân mình nhỏ thó, ốm teo, Phi buột miệng "Bác Sáu ốm quá". Ông già Sáu cười. Ông biểu, "Sống một mình thì buồn lắm, chú em nên nuôi con gì đó, con... vợ thì tốt nhất, nếu chưa tính chuyện đó được thì nuôi chó, mèo, chim chóc. Đừng nuôi sáo, nuôi sáo kết cục rồi cũng chia ly hà, nó hay sổ lồng, chết yểu. Kiếm thứ dân dã mà nuôi, để nhớ quê, nhớ gốc rễ mình, để đi đâu cũng muốn về nhà. Cuộc sống nghèo vậy mà vui lắm. Phi hỏi, "Vậy bác Sáu gái đâu rồi ?" Ông già rên khẽ, gương mặt ràn rụa nước mắt, Phi giật mình, hỏi quýnh quáng. Ông già Sáu mếu máo chỉ về phía tim, ông đã tìm người vợ gần bốn mươi năm, dời nhà cả thảy ba mươi ba bận, bỏ cả sông nước vốn gắn bó như máu thịt, lên bờ tìm kiếm để nói lời xin lỗi với vợ; cử chỉ “lấy tay quệt nước mắt” và câu hỏi day dứt trong ông: “Cái con bìm bịp quỷ nầy nó cũng bỏ qua mấy lần nhưng ngủ một đêm trên đọt dừa nó lại quay về. Sao cổ không quay lại?”,ông bảo đã ở đây một năm hai tháng mười chín ngày rồi, ngõ nào cũng đi hẻm nào cũn...
Câu 1: Kiểu văn bản là văn bản thông tin
Câu 2: Các hình ảnh, chỉ tiết
Rao hàng bằng "Cây bẹo", cầm dựng đứng trên ghe xuống.
"Bẹo" hàng bằng các âm thanh lạ tại từ những chiếc kèn.
Các cô gái bản đã ăn thức uống thì "họn hàng" hằng lí t
Câu 3: Sử dụng địa danh trong hội làm cho thêm sinh động, có tính minh bạch, xác đáng và phong phú.
Câu 4: Phương tiên giao tiếp phi ngôn ngữ trong bài giúp cho người dọc có cái nhìn trực qua về thông tin, tăng tính xác thực.
Câu 5: Chợ nổi là một nét văn hóa vùng sông nước vô cùng độc đáo đối với người dân miền Tây cũng như khách du lịch trên toàn thế giới. Đối với người miền Tây sông nước, chợ nổi như một bức tranh cuộc sống sinh động, nhiều sắc màu với các xuồng, ghe bản những hàng hóa rực rỡ tạo nên một nét văn hóa đặc sắc của người dân vùng đồng bằng châu thổ phía Nam đất nước,