Bạch Hoàng Diệu Anh
Giới thiệu về bản thân
m=-1 thì phương trình có hai nghiệm phân biệt \(x_{1} ; x_{2}\) thỏa mãn \(x_{1}^{2} + x_{2}^{2} - x_{1} x_{2} + x_{1}^{2} x_{2}^{2} - 14 = 0\).
m=2 thì phương trình có hai nghiệm \(x_{1} ; x_{2}\) thỏa mãn \(x_{1}^{2} + x_{2}^{2} = 14\).
m=2 thì phương trình có hai nghiệm \(x_{1} ; x_{2}\) thỏa mãn \(x_{1}^{2} + x_{2}^{2} = 14\).
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính trong văn bản là tự sự
Câu 2: Ngôi kể của văn bản là ngôi kể thứ ba
Câu 3: Nội dung chính trong văn bản này là kể về con chó Hàn Lư trung thành, nghĩa tình, giữ trọn khí tiết với chủ nghèo; qua đó phê phán những kẻ phản bội, chạy theo danh lợi, đồng thời ngợi ca phẩm chất trung nghĩa.
Câu 4: Yếu tố kì ảo: con chó biết nói tiếng người, biết lí luận, ứng xử như con người.
Tác dụng: Làm câu chuyện thêm hấp dẫn, kì lạ; đồng thời nhấn mạnh, khắc sâu ý nghĩa tư tưởng đạo lí về lòng trung nghĩa
Câu 5: Qua văn bản, em rút ra được bài học sâu sắc là phải sống trung nghĩa, thủy chung, biết giữ khí tiết trong mọi hoàn cảnh; không nên vì danh lợi, khó khăn mà thay đổi nhân cách; cần phê phán những kẻ sống bội bạc, chạy theo thời, thiếu liêm sỉ.
Câu 1: Thể loại văn bản là truyện truyền kì.
Câu 2: Khi trở về từ quê cũ, Từ Thức rơi vào tình huống cảnh vật, con người đã đổi thay, tất cả đều khác trước, chỉ còn núi cũ, động xưa, nhưng không tìm lại được dấu tích quen thuộc.
Câu 3: Không gian và thời gian nghệ thuật trong đoạn trích mang tính kì ảo, huyền thoại là cung tiên, cảnh tiên giới, dòng thời gian khác biệt giữa tiên giới và trần thế (một năm nơi tiên giới bằng hàng chục năm ở nhân gian).
Câu 4: Yếu tố kì ảo là cuộc gặp gỡ, kết duyên và sống ở chốn tiên giới của Từ Thức cùng Giáng Hương.
Tác dụng: làm nổi bật trí tưởng tượng phong phú, tạo sự huyền ảo, hấp dẫn cho tác phẩm, đồng thời gửi gắm tư tưởng về khát vọng thoát li thực tại bế tắc.
Câu 5. Hành động của Từ Thức ở cuối tác phẩm là trở lại núi, rồi biến mất, không quay về nhân gian nữa. Gợi cho em suy nghĩ Từ Thức là người không màng công danh lợi lộc, muốn tìm một thế giới tự do, trong sạch. Đồng thời phản ánh nỗi thất vọng trước hiện thực xã hội bế tắc, con người khao khát một cõi tiên lí tưởng.
Câu 1: Thể loại văn bản là truyện truyền kì.
Câu 2: Khi trở về từ quê cũ, Từ Thức rơi vào tình huống cảnh vật, con người đã đổi thay, tất cả đều khác trước, chỉ còn núi cũ, động xưa, nhưng không tìm lại được dấu tích quen thuộc.
Câu 3: Không gian và thời gian nghệ thuật trong đoạn trích mang tính kì ảo, huyền thoại là cung tiên, cảnh tiên giới, dòng thời gian khác biệt giữa tiên giới và trần thế (một năm nơi tiên giới bằng hàng chục năm ở nhân gian).
Câu 4: Một yếu tố kì ảo là cuộc gặp gỡ, kết duyên và sống ở chốn tiên giới của Từ Thức cùng Giáng Hương.
Tác dụng: làm nổi bật trí tưởng tượng phong phú, tạo sự huyền ảo, hấp dẫn cho tác phẩm, đồng thời gửi gắm tư tưởng về khát vọng thoát li thực tại bế tắc.
Câu 5. Hành động của Từ Thức ở cuối tác phẩm là trở lại núi, rồi biến mất, không quay về nhân gian nữa. Gợi cho em suy nghĩ Từ Thức là người không màng công danh lợi lộc, muốn tìm một thế giới tự do, trong sạch. Đồng thời phản ánh nỗi thất vọng trước hiện thực xã hội bế tắc, con người khao khát một cõi tiên lí tưởng.
Câu 1: Thể loại của văn bản: Truyện truyền kỳ
Câu 2: Chủ đề: Văn bản phản ánh mối tình dang dở giữa Nguyễn Sinh và cô gái nhà giàu Trần, qua đó phê phán xã hội phong kiến bất công đã ngăn cản hạnh phúc lứa đôi.
Câu 3: Người cha ngăn cản mối hôn sự vì Nguyễn Sinh nghèo, không “môn đăng hộ đối” với gia đình giàu có.
Nhận xét: Cách hành xử của người cha chịu ảnh hưởng nặng nề bởi tư tưởng phong kiến, coi trọng tiền tài, địa vị hơn tình cảm chân thành.
Câu 4: Chi tiết vật lạ trong ngực cô gái hóa thành khối đá đỏ rơi vào tay chàng trai.
Tác dụng: Thể hiện tấm lòng son sắt, tình yêu thủy chung của cô gái dành cho Nguyễn Sinh; đồng thời tăng yếu tố kỳ ảo, làm nổi bật bi kịch tình yêu trong xã hội phong kiến.
Câu 5: Tình yêu đôi lứa là khát vọng chính đáng của con người, đặc biệt là trong xã hội phong kiến đầy ràng buộc. Văn bản cho thấy dù bị ngăn cấm bởi xã hội, những người trẻ vẫn khao khát được yêu và sống hết mình vì tình yêu. Khát vọng ấy xuất phát từ sự chân thành, thủy chung và mong muốn hạnh phúc giản dị. Tuy nhiên, xã hội phong kiến đã nhiều lần chà đạp, khiến tình yêu rơi vào bi kịch. Qua đó, ta càng trân trọng giá trị tự do yêu đương, hôn nhân bình đẳng trong cuộc sống hiện nay.